1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Đầu tư tối ưu trong trường hợp có chi phí giao dịch với nhiều tài sản rủi ro

12 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 202,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương II : Đầu tư tối ưu trong trường hợp có chi phí giao dịch     Chương  này  dành  cho  việc  xây  dựng  một  mô  hình  toán  tài  chính  để  giải  quyết bài toán đầu tư và tiêu thụ[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

          NGUYỄN VĂN TRÁNG

       

       

ĐẦU TƯ TỐI ƯU TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CHI PHÍ GIAO DỊCH VỚI NHIỀU TÀI SẢN

RỦI RO

         

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

         

Hà Nội – Năm 2014 

Trang 2

 

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

            NGUYỄN VĂN TRÁNG

           

ĐẦU TƯ TỐI ƯU TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CHI PHÍ GIAO DỊCH VỚI NHIỀU TÀI SẢN RỦI RO

      Chuyên ngành: Lý thuyết xác suất và thống kê toán học   

Mã số: 60 46 01 06 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC 

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 

       NCVCC.TS.Nguyễn Hồng Hải   

 

Hà Nội – Năm 2014 

Trang 3

 

MỤC LỤC

 

 

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ SỞ TRONG TOÁN    

TÀI CHÍNH   5 

  1.1.  Một số khái niệm cơ bản về thị trường tài chính  5 

1.1.1.Cấu trúc của thị trường tài chính   5 

1.1.2.Mô hình động của giá các loại cổ phiếu và trái phiếu   8 

1.1.3.Bài toán phân bổ vốn đầu tư, tính chất không cơ lợi và tính đầy đủ  của một thị trường tài chính   10 

  1.2.  Một số khái niệm xác suất trong toán tài chính  14 

1.2.1.  Quá trình ngẫu nhiên với thời gian liên tục   14 

1.2.2.  Quá trình chuyển động  Brown   16 

1.2.3.  Martingale với thời gian liên tục   17 

1.2.4.  Vi phân ngẫu nhiên  Itô  và công  thức Itô  19 

    CHƯƠNG 2: BÀI TOÁN TỐI ƯU TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CHI PHÍ GIAO DỊCH  ………21 

  2.1.  Mô hình   21 

2.1.1.  Thị trường vốn   21 

2.1.2.  Bài toán của nhà đầu tư.   21 

  2.2.  Chính sách tối ưu trong trường hợp không có chi phí giao dịch 23    2.3.  Các trường hợp riêng.   25 

2.3.1.  Trường hợp chỉ có chi phí giao dịch tỉ lệ.   25 

2.3.2.  Trường hợp chỉ có chi phí giao dịch cố định.   32 

  2.4.  Trường hợp có cả chi phí cố định và chi phí tỉ lệ   38 

Trang 4

 

2.5.  Chi phí cố định và phí tỉ lệ với lợi suất tài sản tương quan   63 

  2.6.  Phân tích các chính sách tối ưu   69 

2.6.1.  Các giới hạn tối ưu.   70 

2.6.2.  Tần số giao dịch   74 

2.6.3.  Lượng tiền trung bình đầu tư vào cổ phiếu.   81 

  KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT MỞ RỘNG   88

  TÀI LIỆU THAM KHẢO   89   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang 5

Trang 1   

LỜI NÓI ĐẦU   

   Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, đó là nơi  diễn ra các hoạt động mua bán những sản phẩm phát hành bởi những cơ sở tài  chính  như:  các  công  ty,  nhà  xưởng,  ngân  hàng,  nhà  nước…Sự  xuất  hiện  và  tồn tại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết  mâu  thuẫn  giữa  nhu  cầu  và  khả  năng  cung  ứng  vốn  trong  nền  kinh  tế  phát  triển. Trong  nền kinh tế  luôn tồn tại  hai trạng thái  trái  ngược  nhau  giữa  một  bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn. Mâu thuẫn này ban đầu được  giải  quyết  thông  qua  hoạt  động  của  ngân  hàng  với  vai  trò  trung  gian  trong  quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn. Khi kinh tế hàng hóa  phát triển cao,  nhiều  hình thức  huy động  vốn  mới  linh hoạt  hơn  nảy sinh  và  phát triển, góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu về  các  nguồn  lực  tài  chính  trong  xã  hội,  làm  xuất  hiện  các  hình  thức  huy  động  vốn  như  trái  phiếu,  cổ  phiếu  của  các  doanh  nghiệp,  trái  phiếu  chính  phủ…- 

Đó là những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán. Và từ 

đó  xuất  hiện  nhu cầu  mua bán, chuyển  nhượng  giữa các chủ sở  hữu của các  loại  chứng  khoán  khác  nhau.  Điều  này  làm  xuất  hiện  một  loại  thị  trường  để  tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế là thị trường tài  chính.  Thị  trường  tài  chính  phát  triển  góp  phần  thúc  đẩy  mạnh  mẽ  sự  phát  triển kinh tế của một quốc gia. 

   Toán học tài chính (Financial mathematics) ra đời hơn 100 năm nay, nhưng  đặc  biệt  phát  triển  trong  thời  gian  gần  đây  và  ngày  càng  tỏ  ra  hữu  ích  trong  thực tiễn đời sống kinh tế của các quốc gia. Nó là  một  ngành ứng dụng  toán  học  để  nghiên  cứu  thị  trường  tài  chính  nhằm  phân  tích  một  cách  khoa  học  những sự kiện tăng trưởng, rủi ro, lạm phát, khủng hoảng tài chính, bảo hiểm, 

… vốn  là  những  vấn đề tài chính có tính thời sự. Trong  những  năm  gần đây  ngành tài chính đã thực sự trở thành một ngành công nghiệp then chốt có tác 

Trang 6

Trang 2   

dụng điều chỉnh và thúc đẩy mọi hoạt động của ngành kinh tế và đã trở thành  nơi hội tụ của các ý tưởng xuất phát từ các lĩnh vực tri thức và ứng dụng thực 

tế  khác  nhau.  Hiện  nay  chúng  ta  đang  chứng  kiến  một  sự  cộng  tác  chặt  chẽ  giữa  các  nhà  toán  học,  các  nhà  kinh  tế  và  các  nhà  tài  chính  trong  việc  ứng  dụng các thành  tựu  toán  học  hiện đại  vào  việc  nghiên cứu các  mô  hình kinh 

tế, phân tích và thấu hiểu các quy luật chi phối các hoạt động kinh tế, từ đó có  những  hành  động  và  quyết  sách  hợp  với  quy  luật.  Một  số  mô  hình  toán  tài  chính  nổi  tiếng  như:  “Mô  hình  về  định  giá  các  tài  sản  vốn”  của  W.Sharpe  (1964), mô hình Markowitz, mô hình Black – Scholes, mô hình khuếch tán…      Tại  Việt  Nam,nền  công  nghiệp  tài  chính  đã  có  nhiều  thành  tựu  và  việc  ra  đời  của  thị  trường  chứng  khoán  đòi  hỏi  các  nhà  quản  lý  phải  có  những  hiểu  biết  sâu  sắc  về  các  hoạt  động  cũng  như  các  quy  luật  chi  phối  thị  trường  đó.Toán học tài chính sẽ là công cụ không thể thiếu để các chuyên gia kinh tế 

và tài chính điều hành hữu hiệu mọi hoạt động của thị trường này. 

   Trước đây, các nhà toán học nghiên cứu các mô hình theo kiểu ghép giá và  chi phí giao dịch vào làm một. Tức là chi phí giao dịch đã bị tính lẫn vào giá.  Tuy  nhiên  chi  phí  giao  dịch  có  tính  cố  định  và  đã  biết  còn  giá  có  tính  ngẫu  nhiên  nên  điều  này  dẫn  đến  việc  ghép  những  thông  tin  đã  biết  vào  cái  chưa  biết làm thông tin bị đánh mất. Bây giờ chi phí giao dịch được biết trước nên  cần tách riêng chúng ra. Luận văn này làm về một mô hình có tính đến chi phí  giao dịch như vậy. Đây là một mô hình  giúp ta đưa ra kết quả sâu sắc và xác  thực cho bài toán tài chính có tính đến chi phí giao dịch. 

   Với việc nghiên cứu như vậy cấu trúc luận văn như sau: 

 Chương I : Kiến thức cơ sở về toán tài chính

   Chương này nhằm trình bày những khái niệm cơ bản về thị trường tài chính,  các bộ phận tạo nên thị trường tài chính và lý thuyết hiện đại về toán học ngày  nay được áp dụng trong thị trường tài chính. Ngoài  ra còn  giới thiệu  một số 

Trang 7

Trang 3   

 

 

 

mô hình và bài toán cơ bản trong tài chính cũng như những kiến thức cơ sở về  xác suất được dùng trong toán tài chính như: quá trình Wiener, Mactingal và  tích phân Itô. 

Chương II : Đầu tư tối ưu trong trường hợp có chi phí giao dịch     Chương  này  dành  cho  việc  xây  dựng  một  mô  hình  toán  tài  chính  để  giải  quyết bài toán đầu tư và tiêu thụ tối ưu với thời gian liên tục cho một nhà đầu 

tư  phải  chịu  cả  hai  loại  chi  phí  giao  dịch  là:  chi  phí  giao  dịch  cố  định  (Constant  Absolute  Risk  Aversion(CARA))  và  chi  phí  giao  dịch  tỉ  lệ  (Constant Relative Risk Aversion(CRRA)) trong việc giao dịch (n+1) tài sản  bao gồm một tài sản không rủi ro (gọi là trái phiếu(Bond)) và n tài sản rủi ro  (gọi là cổ phiếu(Stoke))(n 1). Với mục đích so sánh, trước tiên chúng ta sẽ  trình bày một số kết quả về chính sách đầu tư tối ưu trong trường hợp không 

có chi phi giao dịch. Tiếp đến ta xét trường hợp chỉ có  một loại chi phí giao  dịch là chi phí giao dịch tỉ lệ hoặc chi phí giao dịch cố định. Sau cùng chúng 

ta trình bày các kết quả về chính sách đầu tư tối ưu trong trường hợp có cả chi  phí  giao  dịch  cố  định  và  chi  phí  tỉ  lệ  để  từ  đó  đưa  ra  những  phân  tích  tổng  quan nhất cho các chính sách tối ưu trong đầu tư. 

   Trong  nghiên  cứu  này,  kết  quả  đầu  tiên  mà  chúng  ta  tìm  ra  được  là  chính  sách giao dịch tối ưu trong  trường hợp nhiều loại tài sản rủi ro phải chịu các  chi phí giao dịch cố định và lợi suất của các tài sản rủi ro không tương quan  (lợi suất tài sản không tương quan nên chúng ta có thể tách  những tính toán 

về các loại tài sản rủi ro thành phép tính cho mỗi loại tài sản riêng biệt). Khi 

đó chính sách đầu tư tối ưu với  mỗi tài sản rủi ro đó là nhà đầu tư giữ lượng  vốn  đầu  tư  vào  tài  sản  giữa  hai  mức  cố  định  đó  là  hai  hằng  số  mà  ta  có  thể  tính toán  bằng  một công thức  rõ ràng.  Khi lượng  vốn  này đạt đến  một trong  hai ngưỡng nhà đầu tư sẽ giao dịch để đạt mục tiêu tối ưu. 

Trang 8

Trang 4   

   Đóng góp thứ hai của nghiên cứu này đó là chúng ta sẽ tiến hành phân tích  tổng  quan  chiến  lược  kinh  doanh  tối  ưu.  Chúng  ta  cung  cấp  được  một  cách  thức đơn giản để tính toán các giới hạn của miền không giao dịch và giới hạn  mục tiêu. Chúng  ta sẽ phân tích  những ảnh  hưởng của sự ác cảm  rủi ro, phí  rủi ro và tính dễ biến động trên miền không giao dịch, lượng tiền mục tiêu và  tần số giao dịch. Chúng ta cũng rút ra được dạng đóng của sự phân bổ ổn định  của lượng tiền đầu tư vào tài sản rủi ro đồng thời ta cũng kiểm tra được lượng  tiền trung bình ổn định đầu tư vào tài sản.      

   Luận  văn  được  hoàn  thành  nhờ  sự  hướng  dẫn  và  chỉ  bảo  tận  tình  của  NCVCC.TS Nguyễn Hồng Hải. Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành 

và sâu sắc tới  người thầy của mình! 

   Em  xin  chân  thành  cảm  ơn  các  thầy  cô  giáo  đã  giảng  dạy  và  giúp  đỡ  em  trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa Toán-Tin trường Đại học Khoa  Học Tự Nhiên-Đại học Quốc Gia Hà Nội!     

   Xin  cảm  ơn  gia  đình  và  bạn  bè  những  người  đã  động  viên  và  giúp  đỡ  em  trong suốt thời gian qua! 

   Do thời gian nghiên cứu và trình độ còn hạn chế nên luận văn không tránh  khỏi  những  hạn chế và thiếu sót, kính  mong các thầy cô  giáo  và các bạn chỉ  dẫn và góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn ! 

Hà Nội,năm 2014 Tác giả Nguyễn Văn Tráng

Trang 9

Trang 5   

 

 

 

CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ SỞ TRONG TOÁN

TÀI CHÍNH

1.1 Một số khái niệm cơ bản về thị trường tài chính

   Trong  phần  này  chúng  ta  sẽ  trình  bày  một  số  khái  niệm  cơ  bản  về  thị  trường  tài  chính  cũng  như  các  kiến  thức  xác  suất  cơ  sở  cần  thiết  cho  việc  thiết  lập  mô  hình  toán  tài  chính  chúng  ta  sẽ  xây  dựng  và  nghiên  cứu  trong  luận văn này

1.1.1.Cấu trúc của thị trường tài chính 

     Thị  trường tài chính là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động mua bán,  trao đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng các tài sản tài chính thông qua những  phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định. 

    Cấu trúc cơ bản của thị trường tài chính bao gồm các bộ phận sau đây: 

1) Các cá nhân: những cá nhân hoạt động riêng lẻ, các bà nội trợ… 

2) Các hãng: các hãng kinh doanh, các công ty, các liên doanh… 

3) Thị trường các chứng từ có giá trị: thị trường vốn, thị trường tiền tệ…  4) Các cấu trúc trung gian: các nhà băng, các ngân hàng công thương, 

ngân hàng đầu tư, các công ty bảo hiểm… 

 

   Bốn bộ phận đó liên kết chặt chẽ với nhau trong đó thị trường các chứng từ 

có giá trị đóng vai trò then chốt. Ta hãy làm rõ hơn hoạt động của các bộ phận  nói trên: 

1) Các cá nhân: trong hoạt động tài chính của họ có một vấn đề trung tâm 

đó là các vấn đề về tích lũy vốn và tiêu dùng. Gắn liền với vấn đề này có bài  toán  tối  ưu  về  tiêu  dùng  và  tích  lũy  (bài  toán  về  phân  bổ  đầu  tư).  Dựa  trên  nguyên lý của Von Neumann – Morgenstern về sự hoạt động hợp lý của các 

Trang 10

Trang 6   

cá nhân trong các điều kiện bất định người ta đã tìm cách tốt nhất để xác định  việc phân bổ vốn, xác định quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng sao cho hàm lợi  ích đạt cực đại. 

2) Các hãng : đó là một tổ chức có đất đai, nhà máy, công xưởng và các 

loại tài sản có giá trị khác như  chợ, các phát minh… Hoạt động của các hãng 

là tổ chức, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh để đạt lợi nhuận cao  nhất. 

3) Các cấu trúc trung gian ( cấu trúc về các phương diện tài chính): đó là 

các ngân hàng công thương, ngân hàng tín dụng, các hãng bảo hiểm… 

4) Thị trường các chứng từ có giá trị: đó là tập hợp các thị trường có tổ 

chức để mua bán, trao đổi những chứng từ (các hợp đồng) đã được tiêu chuẩn  hóa  như: trái phiếu  (bonds), cổ phiếu (stocks), quyền  lựa chọn (options), các  hợp  đồng  trong  tương  lai  (futures)  …  Như sau  này  ta  sẽ  thấy  thị  trường  trái  phiếu và thị trường các quyền lựa chọn là hai thị trường quan trọng nhất.     Dựa trên các thị trường  này các  hãng có thể tăng  vốn của  họ để phát triển  sản  xuất kinh doanh, các cá  nhân có cơ  hội  và phương tiện để  hoạt động tài  chính. 

   Ngoài  các  chức  năng  hoạt  động  của  nó,  thị trường  các  chứng  từ  có  giá  trị  đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các thông tin về giá cổ phiếu,  lãi suất, các chỉ số tài chính… có thể sử dụng được trong các lĩnh vực kinh tế,  các cá nhân có thể sử dụng các thông tin đó để thực thi các quyết định về các 

dự án đầu tư về phương diện tài chính. 

   Người ta quan tâm đến các hoạt động trong thị trường các chứng từ có giá  trị. Vì vậy ta cũng nên tìm hiểu về các loại chứng từ đó. 

a) Trái phiếu: đó là một loại hợp đồng dài hạn được phát hành bởi chính 

phủ,  các  ngân  hàng,  các  công  ty  tín  dụng  và  các  thể  chế  tài  chính  khác  với  mục tiêu là tích lũy vốn. 

Trang 11

Trang 89   

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Tiếng Việt

[1] Nguyễn Văn Hữu, Vương Quân Hoàng (2007), Các phương pháp toán   học trong tài chính, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội. 

[2] Trần Hùng Thao (2009), Nhập môn toán học tài chính, Nhà xuất bản  

        Khoa học và Kĩ thuật. 

[3] Nguyễn Duy Tiến (2000), Các mô hình xác suất và ứng dụng,Phần              3:Giảitích ngẫu nhiên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. 

[4] Nguyễn Duy Tiến, Vũ Viết Yên (2006), Lý Thuyết Xác Suất, Nhà xuất   

        bản giáo dục. 

Tiếng Anh

[5] Admati, Anat R.,and Paul C. Pfleiderer (1988), “A theory ofintraday    

        patterns: Volume   and   price variability”, Review of Financial

Studies 1, 3–40. 

[6] Barberis,  Nicholas (2000), “ Investing  for  the   long  run  when  

       returns  are   predictable”, Journal of Finance 55,  225–264. 

[7] Brekke, Kjell  A., and   Bernt Øksendal (1998), “A verification 

 theorem for  combined stochastic  control  and  impulse  control, in        J.Gjerde, L.Decreusefond, B.Øksendal, and  A. S.  U¨ stunel, eds”.  [8] Dumas, Bernard (1991), “Super contact and  related  optimality 

  conditions”,Journal of Economic Dynamics and Control 4,675-685. 

[9] Grossman, Sanford J., and   Guy  Laroque (1990), “Asset   pricing         and optimal  portfolio choice  in  the presence of illiquid durable  

     consumption goods”,  Econometrica 58,  23–51. 

[10] Hong Liu, and Mark Loewenstein (2002), “Optimal portfolio 

     selection with transaction  costs  and finite horizons”, Review of Financial Studies 15,  805–835. 

[11] Hong Liu (2004), “Optimal Consumption and Investment  with   

  Transaction Costs and Multiple Risky Assets”, The journal of

finance, Vol Lix, No 1, 289-338. 

[12] Ibbotson, Roger  G.,  and  Rex  A. Sinquefeld (1982), “Stocks,  

       Bonds, Bills and Inflation: The  Past  and the  Future”,Financial Research Analyst’s Foundation, Charlottesville

Ngày đăng: 14/05/2021, 18:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm