1. Trang chủ
  2. » Tất cả

kỹ năng công chứng viên

28 26 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ năng công chứng viên
Tác giả Nguyễn Thị Kiều Mi
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật pháp
Thể loại Báo cáo kết thúc học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 762,07 KB
File đính kèm bài báo cáo kết thúc hp cc2.rar (731 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xã hội ngày nay thuật ngữ tài liệu giấy tờ, chữ ký, con dấu được sử dụng rất phổ biến đó là vật phẩm do con người tạo ra mà ở chúng chứ đựng giá trị tinh thần hoặc những giá trị vật chất nhất định.Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Bằng hoạt động công chứng của mình, công chứng viên góp phần bảo đảm an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Thông qua hoạt động công chứng, công chứng viên là người góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong những năm gần đây thì tình trạng giả mạo trong hoạt động công chứng cũng ngày một tăng cao, việc giả mạo giấy tờ, tài liệu, con dấu trong hoạt động công chứng rất đáng lo ngại và đã gây nên hậu quả nặng nề cho xã hội. Đã có những trường hợp một người dùng một hoặc nhiều tài sản với giấy tờ giả, thủ đoạn khác nhau đã lừa được hàng chục lần, chiếm đoạt tài sản của nhiều cá nhân, tổ chức và đã “qua mặt” được nhiều Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng khác nhau,…Vì vậy,việc xác định “đúng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu” là yêu cầu quan trọng nhất đối với hoạt động công chứng. Việc xác định đúng, chính xác chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu trong hoạt động công chứng không những tạo điều kiện cho công chứng viên có thể xác định đúng chủ thể, khách thể của hợp đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợp mạo danh,

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁPKHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC

-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN KỸ NĂNG CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG

Chuyên đề: Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để việc nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu.

Họ và Tên: NGUYỄN THỊ KIỀU MI Sinh ngày 12 tháng 11 năm 2021

Số báo danh: 049 Lớp: K23.2B

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 03 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 2

3 Cơ cấu của bài báo cáo 3

PHẦN I.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHẬN DẠNG CHỮ VIẾT,CHỮ KÝ,CON DẤU TRONG GIẤY TỜ TÀI LIỆU 4

I Khái niệm 4

1 Nhận dạng chữ viết 5

1.1.Sơ lược về chữ viết 5

2 Sự hình thành chữ viết ở một người 5

3 Đặc điểm của dạng chữ 6

4 Nhận dạng chữ ký 7

5 Nhận dạng chữ trong văn bản in 9

II Đặc điểm và phương pháp nhận dạng chữ viết,chữ ký,con dấu trong giấy tờ tài liệu 12

1 Đối với thủ đoạn cắt dán 12

2 Đối với thủ đoạn tẩy xóa 12

3 Nhận dạng hình dấu giả trong giấy tờ,tài liệu 13

4 Nhận dạng tài liệu bị thay ảnh,ghép ảnh,thay trang 14

4.1 Tài liệu bị thay ảnh,ghép ảnh 14

4.2 Tài liệu bị thay trang 15

PHẦN II.THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ NHẬN DẠNG CHỮ VIẾT,CHỮ KÝ,CON DẤU TRONG GIẤY TÀI LIỆU 16

1.Một số phát hiện và hạn chế trong nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu 16

2.Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu 18

PHẦN III NGUYÊN NHÂN,GIẢI PHÁP,KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC NHẬN DẠNG CHỮ VIẾT,CHỮ KÝ,CON DẤU TRONG GIẤY TỜ TÀI LIỆU 20

1.Nguyên nhân 20

2.Giải pháp,kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhận dạng chữ viết,chữ ký,con dấu trong giấy tờ tài liệu 21

KẾT LUẬN 24

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xã hội ngày nay thuật ngữ tài liệu giấy tờ, chữ ký, con dấu được sử dụngrất phổ biến đó là vật phẩm do con người tạo ra mà ở chúng chứ đựng giá trị tinhthần hoặc những giá trị vật chất nhất định.Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 LuậtCông chứng 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hànhnghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân

sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợppháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sangtiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch)

mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyệnyêu cầu công chứng” Bằng hoạt động công chứng của mình, công chứng viên gópphần bảo đảm an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợpđồng, giao dịch qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp phápcủa cá nhân, tổ chức Thông qua hoạt động công chứng, công chứng viên là ngườigóp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầucông chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa vi phạmpháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trong những năm gần đây thì tình trạng giả mạo trong hoạt động côngchứng cũng ngày một tăng cao, việc giả mạo giấy tờ, tài liệu, con dấu trong hoạtđộng công chứng rất đáng lo ngại và đã gây nên hậu quả nặng nề cho xã hội Đã cónhững trường hợp một người dùng một hoặc nhiều tài sản với giấy tờ giả, thủ đoạnkhác nhau đã lừa được hàng chục lần, chiếm đoạt tài sản của nhiều cá nhân, tổ chức

và đã “qua mặt” được nhiều Công chứng viên của các tổ chức hành nghề côngchứng khác nhau,…Vì vậy,việc xác định “đúng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy

tờ tài liệu” là yêu cầu quan trọng nhất đối với hoạt động công chứng Việc xác địnhđúng, chính xác chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu trong hoạt độngcông chứng không những tạo điều kiện cho công chứng viên có thể xác định đúngchủ thể, khách thể của hợp đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợpmạo danh, lừa đảo…

Trang 5

Từ những trình bày ở trên, sau khi được học lớp đào tạo nghề công chứngKhoá 23 tại Học viện tư pháp cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi chọn chuyên đề:

“Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để việc nhận dạng chữ viết, chữ

ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu”

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

 Mục đích của báo cáo: là nghiên cứu các kỹ năng công chứng viên cần sửdụng để nhận dạng nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu.Những hạn chế bất cập của quy định pháp luật về việc nhận dạng chữ viết, chữ ký,con dấu trong giấy tờ tài liệu trong hoạt động công chứng Trên cơ sở đó đề xuấtcác biện pháp, giải pháp nhằm thúc đẩy việc hoàn thiện pháp luật và các kỹ năngcần có để Công chứng viên có thể tổng hợp các phương pháp nhận dạng khácnhau.Để bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch cũng như các văn bản côngchứng và bảo đảm an toàn pháp lý

 Nhiệm vụ nghiên cứu của báo cáo tập trung vào các vấn đề:

+ Nghiên cứu quy định của pháp luật về nhận dạng kỹ năng về nhận dạng chữviết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu;

+ Nghiên cứu cơ sở khoa học, phương pháp nhận dạng kỹ năng về nhận dạngchữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu;

+ Nghiên cứu các đặc điểm, thực tiễn của quy định pháp luật về nhận dạng kỹnăng về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu;

+ Nghiên cứu nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị về công tác nhận dạng conngười trong hoạt động công chứng, đề xuất biện pháp nhằm tăng cường một số kỹnăng nhận dạng kỹ năng về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tàiliệu đối với Công chứng viên trong thời gian tới

 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là các quy định về nhận dạng kỹ năng vềnhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu và một số kỹ năng cầnthiết để Công chứng viên sử dụng nhận dạng kỹ năng về nhận dạng chữ viết, chữ

ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu trong hoạt động công chứng

Trang 6

3 Cơ cấu của bài báo cáo

Báo cáo gồm có Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Tài liệu tham khảo Trong

đó, Nội dung của báo cáo được chia thành 03 phần như sau:

Phần I Quy định của pháp luật về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu tronggiấy tờ tài liệu

Phần II Thực tiễn áp dụng pháp luật về nhận dạng chữ viết,chữ ký,con dấutrong tài liệu

Phần III Nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị về việc nhận dạng chữ viết, chữ

ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu

Trang 7

PHẦN IQUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHẬN DẠNG CHỮ VIẾT,CHỮ KÝ,CON

DẤU TRONG GIẤY TỜ TÀI LIỆU

I Khái niệm

Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợppháp của hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phảicông chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện theo yêu cầu công chứng.Bằng hoạtđộng công chứng của mình, công chứng viên góp phần bảo đảm an toàn pháp lýtrong quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh, thương mại và các quan hệ xã hội khác,phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trong xã hội, thuật ngữ tài liệu, giấy tờ được sử dụng khá phổ biến, đó lànhững vật phẩm do con người tạo ra mà ở chúng chứa đựng những giá trị tinh thầnhoặc những giá trị vật chất nhất định Đồng thời, chúng phản ánh một lượng thôngtin nhất định về sự việc, con người Đặc biệt, trong lĩnh vực công chứng, tài liệu,giấy tờ có thể là đối tượng được chứng nhận và cũng có thể là vật chứa đựng căn cứpháp lý để chứng nhận các giao dịch khác.Thực tế cho thấy, giấy tờ là phương tiệnđược sử dụng rộng rãi trong các quan hệ xã hội, nó gắn liền với mọi lĩnh vực hoạtđộng của mỗi người

Tình trạng hiện nay việc các đối tượng làm giả bản chính văn bằng, chứngchỉ, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản giả rất nhiều và các đối tượng làm ra đểlừa dối những cơ quan hữu quan trong việc tuyển dụng, bổ nhiệm, chuyển dịchquyền sở hữu,… là phương tiện thực hiện hành vi trái pháp luật và đạo đức xã hội.Còn văn bằng, chứng chỉ thật bị đối tượng cạo sửa, lồng ghép nội dung để làm thayđổi một phần hay toàn bộ nội dung để sử dụng vào mục đích bất hợp pháp lại là đốitượng bị xâm Dù có là phương tiện hay đối tượng bị xâm hại thì mục đích chínhcủa thủ phạm là tạo ra giấy tờ, tài liệu bất hợp pháp để sử dụng vào các mục đíchriêng của chúng mà không được xã hội chấp nhận

Trang 8

1 Nhận dạng chữ viết

1.1 Sơ lược về chữ viết

Đến nay, trên thế giới đã hình thành và phát triển chữ viết theo 4 hệ chữ cơbản sau:

Hệ chữ Latinh: Anh, Pháp, Đức, Việt Nam,…

Hệ chư Slôven: Nga, Bungari, Nam Tư,…

Hệ chữ tượng hình: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên,…

Hệ chữ Ai Cập: Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Campuchia,…

Có thể nói, chữ viết là hệ thống những đường nét liên kết với nhau theo mộtquy tắc nhất định, do một dân tộc, một quốc gia hay một tập đoàn người quy ướcvới nhau dùng làm phương tiện để tư duy, trao đổi và lưu trữ thông tin,… phục vụcho đời sống con người và sự phát triển của xã hội

2 Sự hình thành chữ viết ở một người:

- Chữ viết ở mỗi con người được hình thành không phải do bẩm sinh mà doquá trình luyện tập có ý thức, lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành một phản xạ cóđiều kiện Phản xạ ấy được tạo ra bởi có sự tham gia chủ yếu của não và các cơquan khác do não điều khiển Có thể nói, chữ viết vừa là sản phẩm, vừa là phươngtiện vật chất để biểu đạt ngôn ngữ của con người

- Khi chữ viết đã được hình thành ở mỗi người, với chức năng là phản xạ cóđiều kiện thì dạng chữ có hai tính chất cơ bản là tính riêng biệt và tính ổn định

 Tính riêng biệt: Là biểu hiện sự khác biệt giữa chữ viết của người này vớingười khác Viết là cả một quá trình hoạt động phối hợp khá phức tạp của cả một

hệ thống các cơ quan trong cơ thể con người dưới sự chỉ huy của hệ thần kinh trungương là vỏ não Mỗi người là một cơ thể riêng biệt khác nhau cả về thể chất lẫn tâm

lý và tinh thần, các yếu tố đó tạo nên sự hác biệt trong chữ viết của mỗi người

Trang 9

Ngoài ra, sự hình thành chữ viết ở mỗi người còn phụ thuộc vào yếu tố giáo dục,điều kiện và cơ sở vật chất của người học viết Vì vậy, ở mỗi người có một kiểuchữ viết riêng biệt không thể giống với người khác.

 Tính ổn định tương đối: Chữ viết có tính bền vững tương đối cũng giốngnhư một thói quen, khi đã hình thành thì việc phá bỏ thói quen không phải là dể.Chữ viết khi đã trở thành thói quen của mỗi người thì có tính ổn định trong mộtthời gian khá dài, nhất là ở tuổi trưởng thành của mỗi người Tuy vậy, chữ viếtcũng có thể bị biến đổi ít nhiều do viết trong trạng thái tâm sinh lý khác thường,điều kiện viết khác thường,… Ngoài ra, còn có trường hợp cố ý làm biến đổi dạngchữ của mình, song chữ viết dù có bị biến đổi do khách quan hay chủ quan thìnhững đặc điểm cơ bản có tính riêng biệt của mỗi người vẫn tồn tại

- Hai đặc tính cơ bản trên là cơ sở khoa học quan trọng quyết định tính chínhxác của việc nhận dạng chữ viết tay

3 Đặc điểm của dạng chữ

- Việc xác định những đặc điểm của dạng chữ giúp cho công chứng viên cóniềm tin nội tâm vững chắc hơn khi công chứng hoặc từ chối công chứng một vănbản nào đó

- Đặc điểm chung: Là những đặc điểm biểu thị tính chất chung nhất, nhữngnét khái quát nhất của hệ thống chuyển động dạng chữ của một người Những đặcđiểm đó bao gồm:

 Mức độ điêu luyện của dạng chữ: Đặc điểm này phản ánh khả năng thực hiệncác chuyển động chữ viết của một người nhanh hay chậm, tự động hay không tựđộng Mức độ điêu luyện của dạng chữ nói chung tương đối bền vững, nó chỉ cóthể bị thay đổi theo chiều từ cao xuống thấp, chứ không thể thay đổi theo chiềungược lại trong một thời gian ngắn, trừ khi có sự luyện tập lâu dài

Trang 10

 Cấu trúc chung của dạng chữ

Khi mỗi người đã có khả năng viết tương đối thuần thục thì dạng chữ củangười đó sẽ thuộc một dạng cấu trúc nhất định Dạng cấu trúc này là đặc điểmtương đối bền vững Cấu trúc chung của dạng chữ có 3 loại: Chân phương, đơngiản và phức tạp

 Chiều hướng của trục chữ có 3 loại: thẳng đứng, nghiêng phải và nghiêngtrái

 Độ lớn của chữ: Chủ yếu là tính theo chiều cao của chữ, chữ to từ 5mm trởlên, chữ nhỏ từ 2mm trở xuống và chữ trung bình

 Độ liên kết của chữ: Đó là khả năng liên kết giữa các chữ cái trong cùng một

từ, có 3 mức độ liên két: cao, thấp, trung bình

 Dạng chuyển động và hướng chuyển động: Khi viết, các đường nét chữ ởmỗi người thể hiện một dạng chuyển động nhất định và theo một hướng nhất định.Với những hiểu biết một cách khái quát về đặc điểm của chữ viết công chứngviên có thể căn cứ vào một đặc điểm hay một số đặc điểm để đánh giá tính xác thựccủa văn bản

- Chữ ký có trên giấy tờ, tài liệu có nhiều tác dụng khác nhau: có chữ ký làmcho tài liệu có giá trị pháp lý, có chữ ký chỉ nhằm xác nhận một sự kiện nào đó,…

Trang 11

- Chữ ký có thể thay đổi theo từng thời gian và do ý muốn của người ký,nhưng nó vẫn mang tính ổn định nhất định có tính đặc trưng của người tạo ra nó.Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy bên cạnh việc giả mạo chữ viết, con dấu,bọn tội phạm còn giả mạo cả chữ ký trong văn bản giấy tờ, tài liệu để thực hiệnmục đích của chúng Do vậy, việc nhận dạng chữ ký cũng phải dựa trên các nguyêntắc và phương pháp của việc giám định cữ viết tay

Bọn tội phạm thường có những thủ đoạn giả mạo chữ ký như sau:

- Cố ý làm thay đổi chữ ký của mình: Với mục đích để phục nhận việc mình

đã ký trong một văn bản nào đó, thủ phạm đã cố ý thay đổi chữ ký của mình bằngcách tạo ra một dạng chữ ký khác

Ví dụ: A có đơn kiến nghị ngăn chặn việc B chuyển dịch tài sản thuộc quyền

sở hữu của B, đơn được in sẵn, A ra Uỷ ban nhân dân xã xin chứng thực chữ ký.Nhưng với mục đích nhằm gây thiệt hại cho B, A đã cố tình tạo ra một chữ ký khác.Khi bị truy cứu trách nhiệm, A sẽ phủ nhận chữ ký đó để lẫn tránh trách nhiệm

- Dạng chữ ký này có đặc điểm là: Tốc độ chuyển động chậm chạp so vớichữ ký thường sử dụng, có sự sai khác phần đầu và cuối chữ ký, hình dáng nóichung hơi giống và trong chữ ký còn tồn tại nhiều đặc điểm riêng của chữ ký thật

- Tạo ra chữ ký người khác (bắt chước):Chữ ký được tạo ra bằng thủ đoạnnày nói chung đường nét tương đối tự nhiên, lưu loát Song, rất nhiều đặc điểm từhình dáng chung đến các chi tiết đều khác chữ ký thật

- Ký giả theo mẫu có sẵn: Thủ đoạn này có hai hình thức là tập cho quen để

ký và nhìn ký.Chữ ký được luyện tập nhiều lần rồi mới ký có đặc điểm: Hình dángchung tương đối giống chữ ký thật, tốc độ chuyển động nhanh, một só đặc điểmchung và riêng giống chữ ký thật Tuy nhiên, vẫn tồn tại những chi tiết khác chữ kýthật ở chỗ: trực chữ, mối tương quang giữa các đường nét, đặc điểm liên kết, hướngchuyển động phức tạp

Trang 12

- Chữ ký được ký bằng cách nhìn để ký: Nói chung dể nhận dạng vì cónhững đặc điểm tốc độ chậm chạp, đường nét run, gãy, gai đậm, có nhiều điểmdừng bút vô lý Tuy vậy, độ lớn của chữ ký giả tương đối giống chữ ký thật.

- Ký giả theo trí nhớ: Người ký đã từng quan sát chữ ký thật, chưa có sựluyện tập, khi ký thông có mẫu chữ ký thật để bắt chước Đặc điểm nhận dạng chữ

ký này là chữ ký có phần giống chữ ký thật, tốc độ ký nhanh Nhưng có đặc điểmriêng biệt là: hướng chuyển động, mối tương quan giữa các nét, nét thừa hoặc thiếukhác biệt so với chữ ký thật

- Ngoài các thủ đoạn trên, bọn tội phạm còn có thủ đoạn đồ, tô và vẽ chữ ký

Cụ thể là đồ chữ ký qua ánh sáng ngược Đồ qua giấy than hoặc gây vết hằn bằngcách dùng vật nhọn như que, bút bi, bút chì,… tô theo mẫu chữ ký thật, tạo chữ kýgiả, sau đó tô theo mực giấy than hoặc theo vết hằng bằng bút mực Việc vẽ mẫuchữ ký thật thường là bằng bút chì, sau đó tô lại bằng bút mực Đặc điểm nhậndạng các loại chữ ký này là các đường nét chuyển động chậm chạp, thiếu tự nhiên,cong queo, nét bắt đầu và kết thúc không sắc gọn, mức độ ấn bút đều, nhiều điểmdừng bút vô lý

5 Nhận dạng chữ trong văn bản in

Trong thực tiễn hoạt động công chứng, công chứng viên phải tiếp xúc với đa

số văn bản có chữ in, in toàn bộ, in xen kẽ với chữ viết tay hoặc in từng phần.Chữ

in trong các văn bản mà ta thường gặp được tạo nên bởi nhiều phương pháp:

- Đánh máy: Có nhiều loại máy, nhiều nước chế tạo dẫn đến chữ khác nhau,khoảng cách giữa các chữ với chữ, giữa dòng với dòng khác nhau, người đánh máy

có thói quen, kỹ năng khác nhau, độ mòn của chữ khác nhau, màu sắc, độ đậm củaruy băng, giấy than khác nhau

Trang 13

- In ty pô (phổ biến là in bằng chữ đúc, xếp thành khuôn in): Đặc điểm cácnét chữ trên tài liệu có vết hằn, mặt trước lõm xuống, mặt sau lồi; độ tương phảncao nổi rõ vì mực in trực tiếp in lên tài liệu.

- In ốp xét, đây là phương pháp in gián tiếp, hình ảnh nét chữ trên khuôn in

in lên cao su, sau đó từ cao su in sang giấy vì vậy không có độ hằng, lõm, lồi như in

ty pô

- Ngoài các phương pháp trên, còn rất nhiều phương pháp in điện từ rất hiệnđại, hiện nay rất phổ biến trong hoạt động văn phòng là in bằng lazer, in kim Cácphương pháp này in cũng cho các dạng chữ in khác nhau với các phông chữ và độđậm của mực cũng khác nhau

- Trong công tác nghiệp vụ công chứng, mỗi chúng ta có ý thức so sánh sẽphát hiện ra những điểm không bình thường trên một bản in

- Ngoài các phương pháp in trên đây, hiện nay có một phương pháp in phổbiến đến mức bình dân là photocopy, tiện ích của nó rất lớn, song rất dể bị lạmdụng Trong công tác nghiệp vụ, hàng ngày những cán bộ công chứng phải tiếp xúcvới nhiều bản photocopy nhất là việc chứng nhận bản sao

- Đặc điểm của bản copy là phản ánh như thật bản gốc, thậm chí giống ychang bản chính nếu mực tốt và máy photocopy còn mới, dạng chữ được giữnguyên, cỡ chữ bằng cỡ chữ trong bản gốc nếu khi photocopy đặt ở chế độ 100%.Tuy nhiên, cũng dể so sánh để tìm ra đặc điểm của bản copy là chữ hạt hơn, nét chữkhông đều và nét, trên mặt giấy có những dấu vết riêng do máy hoặc mựcphotocopy để lại,…

Một số thủ đoạn giả mạo giấy tờ, tài liệu in

- Giả mạo toàn bộ: Thủ phạm thường dùng thủ đoạn này để làm ra một haynhiều tài liệu giả Phổ biến nhất là chúng thường dùng biện pháp in lưới hoặc bảnkhắc gỗ để làm ra phôi giấy tờ tài liệu theo mẫu có sẵn, sau đó điền nội dung cần

Trang 14

giả mạo vào Ngoài ra, thủ phạm có thể dùng bản photocopy có chất lượng mực inkém hoặc chụp nhưng cố tình không sấy khô để sau khi được chứng nhận, thủphạm xoá sạch phần nội dung, chỉ để lại con dấu và chữ ký của công chứng viên,sau đó in hoặc photocopy nội dung giả vào để sử dụng.

Các giấy tờ thường gặp là văn bằng, chứng chỉ, các giấy tờ về hộ tịch, giấychứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan, tờ khai nguồn gốc xe nhập khẩu,… Cáchlàm giả này thường bộc lộc một số đặc điểm cơ bản sau đây:

 Các đường nét không liên tục, nhất là các hoa văn;

 Các đường nét không sắc gọn, màu sắc tổng thể lẫn chi tiết của tài liệu khác vớimẫu thật;

 Dấu chìm trên tài liệu không sắc, chữ in trong dấu có khoản cách, mẫu chữkhông đều;

 Do phương pháp chế bản khác nhau nên kiểu chữ khác kiểu chữ ở tài liệu thật;

Ngoài ra, thủ phạm có thể in nội dung giả mạo vào bản cần công chứng, sau

đó đặt phần nội dung thật và dán ờ lên trên đủ che kính phần nội dung giả mạo.Nếu chúng ta không phát hiện ra, sau khi được chúng nhận thì thủ phạm sẽ bócphần dán đi để sự dụng một phần giả mạo trong tài liệu thật Thủ đoạn này thườngthấy ở những tài liệu có nhiều số, nhiều cột, mục hoặc tài liệu có nhiều trang

Ngày đăng: 13/01/2023, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w