MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1 Từ những trình bày ở trên tôi chọn chuyên đề: “Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để nhận dạng con người” để làm rõ hơn và giúp công chứng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch. 1 1.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 1 1.2.1. Mục đích nghiên cứu 1 1.3. Cơ cấu của bài báo cáo 2 CHƯƠNG 1: NHẬN DẠNG CON NGƯỜI VÀ XÁC NHẬN ĐIỀU KIỆN CỦA NGƯỜI YÊU CẦU CÔNG CHỨNG THAM GIA GIAO DỊCH 3 1.1. Cơ sở khoa học nhận diện người 3 1.1.1. Tính riêng biệt 3 1.1.2. Tính ổn định 3 1.2. Đặc điểm nhận diện người 4 1.2.1. Đặc điểm chung 4 1.2.2. Đặc điểm hình thái các bộ phận của cơ thể 4 1.2.3. Một số đặc điểm khác 5 1.2.4. Đặc điểm dấu vân tay 5 1.3. Kỹ năng xác định tư cách chủ thể tham gia giao dịch là cá nhân 6 1.3.1. Cá nhân là chủ thể tham gia giao dịch dân sự đủ điều kiện tham gia ký kết, thực hiện giao dịch dân sự 6 1.3.2. Nguyên tắc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể nước ngoài 9 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẬN DIỆN CON NGƯỜI CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI VIỆT NAM 11 2.1 Thực trạng việc nhận diện con người của công chứng viên tại Việt Nam 11 2.2 Giải pháp nâng cao kỹ năng nhận diện con người của công chứng viên tại Việt Nam 13 2.2.1 Đối với Sở tư pháp 13 2.2.2 Đối với công chứng viên. 13 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Trong quá trình hoạt động của các văn phòng công chứng, các công chứng đã góp phần bảo đảm an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Thông qua hoạt động công chứng, công chứng viên là người góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Một trong những vấn đề đặt ra đối với công chứng viên hiện nay là việc nhân diện con người trong các hoạt động giao dịch tại phòng công chứng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công chứng, chứng thực trong những năm gần đây thì tình trạng giả mạo con người đã xảy ra khiến việc nhận diện con người đang là một vấn đề được quan tâm. Hiện nay để đảm bảo hoạt động công chứng được tiến hành ngày càng tốt các công chứng viên cần phải trang bị tốt cho bản thân những kỹ năng cơ bản và cần thiết, nhất là kỹ năng về nhận dạng con người, điều này giúp công chứng viên có thể xác định đúng chủ thể hợp đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợp mạo danh, lừa đảo… Từ những trình bày ở trên tôi chọn chuyên đề: “Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để nhận dạng con người” để làm rõ hơn và giúp công chứng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch. 1.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 1.2.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của báo cáo là nghiên cứu các kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để nhận dạng nhận dạng con người. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm thúc đẩy việc hoàn thiện pháp luật và các kỹ năng cần có để tuỳ theo yêu cầu cụ thể Công chứng viên có thể áp dụng tổng hợp các phương pháp nhận dạng con người khác nhau. 1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu của báo cáo tập trung vào các vấn đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học, phương pháp nhận dạng con người Nghiên cứu các đặc điểm, thực tiễn của quy định pháp luật về nhận dạng con người Nghiên cứu nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị về công tác nhận dạng con người trong hoạt động công chứng, đề xuất biện pháp nhằm tăng cường một số kỹ năng nhận dạng con người. 1.3. Cơ cấu của bài báo cáo Báo gồm có Mở đầu, Nội dung, Kết luận. Trong đó, Nội dung của báo cáo được chia thành 3 phần như sau: Phần mở đầu Nội dung Chương 1: Nhận dạng con người và xác định điều kiện của người yêu cầu công chứng tham gia giao dịch Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhận dạng con người của công chứng viên tại Việt Nam Kết luận
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1
Từ những trình bày ở trên tôi chọn chuyên đề: “Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để nhận dạng con người” để làm rõ hơn và giúp công chứng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch 1
1.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 1
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Cơ cấu của bài báo cáo 2
CHƯƠNG 1: NHẬN DẠNG CON NGƯỜI VÀ XÁC NHẬN ĐIỀU KIỆN CỦA NGƯỜI YÊU CẦU CÔNG CHỨNG THAM GIA GIAO DỊCH 3
1.1 Cơ sở khoa học nhận diện người 3
1.1.1 Tính riêng biệt 3
1.1.2 Tính ổn định 3
1.2 Đặc điểm nhận diện người 4
1.2.1 Đặc điểm chung 4
1.2.2 Đặc điểm hình thái các bộ phận của cơ thể 4
1.2.3 Một số đặc điểm khác 5
1.2.4 Đặc điểm dấu vân tay 5
1.3 Kỹ năng xác định tư cách chủ thể tham gia giao dịch là cá nhân 6
1.3.1 Cá nhân là chủ thể tham gia giao dịch dân sự đủ điều kiện tham gia ký kết, thực hiện giao dịch dân sự 6
1.3.2 Nguyên tắc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể nước ngoài 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẬN DIỆN CON NGƯỜI CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI VIỆT NAM 11
2.1 Thực trạng việc nhận diện con người của công chứng viên tại Việt Nam 11
2.2 Giải pháp nâng cao kỹ năng nhận diện con người của công chứng viên tại Việt Nam
13
2.2.1 Đối với Sở tư pháp 13
Trang 22.2.2 Đối với công chứng viên 13 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Trong quá trình hoạt động của các văn phòng công chứng, các công chứng
đã góp phần bảo đảm an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Thông qua hoạt động công chứng, công chứng viên là người góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Một trong những vấn đề đặt ra đối với công chứng viên hiện nay là việc nhân diện con người trong các hoạt động giao dịch tại phòng công chứng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công chứng, chứng thực trong những năm gần đây thì tình trạng giả mạo con người đã xảy ra khiến việc nhận diện con người đang là một vấn đề được quan tâm Hiện nay để đảm bảo hoạt động công chứng được tiến hành ngày càng tốt các công chứng viên cần phải trang bị tốt cho bản thân những kỹ năng cơ bản và cần thiết, nhất là kỹ năng về nhận dạng con người, điều này giúp công chứng viên có thể xác định đúng chủ thể hợp đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợp mạo danh, lừa đảo…
Từ những trình bày ở trên tôi chọn chuyên đề: “Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để nhận dạng con người” để làm rõ hơn và giúp công chứng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch
1.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của báo cáo là nghiên cứu các kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để nhận dạng nhận dạng con người Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm thúc đẩy việc hoàn thiện pháp luật và các kỹ năng cần có để tuỳ theo yêu cầu cụ thể Công chứng viên có thể áp dụng tổng hợp các phương pháp nhận dạng con người khác nhau
Trang 41.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của báo cáo tập trung vào các vấn đề:
Nghiên cứu cơ sở khoa học, phương pháp nhận dạng con người
Nghiên cứu các đặc điểm, thực tiễn của quy định pháp luật về nhận dạng con người
Nghiên cứu nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị về công tác nhận dạng con người trong hoạt động công chứng, đề xuất biện pháp nhằm tăng cường một số
kỹ năng nhận dạng con người
1.3 Cơ cấu của bài báo cáo
Báo gồm có Mở đầu, Nội dung, Kết luận Trong đó, Nội dung của báo cáo được chia thành 3 phần như sau:
- Phần mở đầu
- Nội dung
Chương 1: Nhận dạng con người và xác định điều kiện của người yêu cầu
công chứng tham gia giao dịch
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhận dạng con người của công chứng
viên tại Việt Nam
Kết luận
Trang 5CHƯƠNG 1: NHẬN DẠNG CON NGƯỜI VÀ XÁC NHẬN ĐIỀU KIỆN CỦA NGƯỜI YÊU CẦU CÔNG CHỨNG THAM GIA GIAO DỊCH 1.1 Cơ sở khoa học nhận diện người
1.1.1 Tính riêng biệt
Tính riêng biệt là đặc tính quan trọng để truy nguyên cá biệt cá thể người vì mỗi người có những đặc điểm riêng chỉ đồng nhất với chính bản thân, không có hai cá thể cùng đống nhất với nhau
Mỗi con người là một cá thể riêng biệt, đặc điểm di truyền quyết định hình thái bên ngoài, đặc điểm thể chất sinh lý, tâm lý, tâm thần và quá trình bệnh lý khác nhau ở mỗi con người có thể tạo ra đặc điểm hình thái riêng biệt Vì thế, ngay cả những cặp song sinh cùng trứng đặc điểm hình thái cũng có thể không giống nhau Khi một người đã trưởng thành về thể chất, những đặc điểm riêng biệt có giá trị tuyệt đối để xác định một người cụ thể
1.1.2 Tính ổn định
Quá trình sống, các phần và bộ phận cơ thể con người phát triển tối đa về kích thước, khối lượng, ví dụ các tạng như não, gan, thận, phổi Hình thái bên ngoài cơ thể đôi khi trái ngược, ví dụ đường kính chi trên, chi dưới giảm nhưng vòng bụng tăng lên Hình dáng có thể biến đổi từ cao gầy khi trẻ thành to béo khi cao tuổi; lưng có thể còng xuống, dáng đi thay đổi… Quá trình biến đổi diễn
ra từ từ, chậm chạp trong một thời gian dài và khác nhau ở từng phần, bộ phận
cơ thể Những phần cơ thể có xương và sụn ngay dưới da (giữ da và xương, sụn không có cơ hoặc chỉ có lớp cơ mỏng) như đầu mặt bao gồm trán, gờ long mày,
gò má, gốc mũi, cằm, tài… thông thường không hoặc ít thay đổi hình dạng; trong khi đó, người cao tuổi thường ít có cơ phần bụng săn chắc, phần lớn chảy
xệ Cùng với quá trình lão hóa, bệnh tật và chấn thương, phẩu thuật và phẩu thuật thẩm mỹ, hoặc cố tình thay đổi với sự trợ giúp của thầy thuốc là tổng thể những nguyên nhân làm thay đổi hình dạng bề ngoài Khi nghiên cứu đặc điểm nhận dnagj cần chú ý đến những bộ phận hay phần cơ thể nào ít hoặc không thay đổi so với thời điểm xương ngừng phát triển và nhận biết phần, bộ phận nào đã
bị thay đổi; đánh giá được mức độ thay đổi nhanh hay chậm, ít hoặc nhiều
Trang 6Tuy nhiên, những thay đổi ngoại hình chỉ mang tính tương đối, hầu hết những đặc điểm riêng biệt vẫn được giữ nguyên Khi xác định đặc điểm nhận dạng phải kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt tính riêng biệt và tính ổn định tương đối mới có được kết quả truy nguyên đồng nhất đúng một người
1.2 Đặc điểm nhận diện người
1.2.1 Đặc điểm chung
Mỗi một con người sinh ra và phát triển lớn lên đều có những đặc điểm chung giống nhau, những đặc điểm chung phổ biến này chúng ta có thể dễ dàng nhận biết được bằng cách quan sát, như đặc điểm dân tộc, giới tính, tầm cao, độ tuổi, tầm vóc
- Các chủng tộc người, các dân tộc trong một Quốc gia: chẳng hạn chủng tộc Âu, Á, Phi…
- Giới tính: trong cùng một chủng tộc, nam và nữ khác nhau về chiều cao, tầm vóc, nước da, hình thái khôn mặt, râu tóc, âm điệu tiếng nói, dang đi, trang phục
- Chiều cao: giữa các chủng tộc người khác nhau có sự khác nhau về chiều cao
- Độ tuổi: nhận định độ tuổi của người tham gia giao dịch và đối chiếu năm sinh ghi trong các loại giấy tờ mà họ xuất trình là việc rất cần thiết Nhận định
độ tuổi dựa vào da, râu tóc, giọng nói, dáng đi…
1.2.2 Đặc điểm hình thái các bộ phận của cơ thể
Con người đều có sự giống nhau về cấu trúc cơ thể, mỗi người đều có các
bộ phận, chức năng giống nhau Tuy nhiên mỗi bộ phận ở mỗi người lại có hình thái và đặc điểm khác nhau Việc khai thác những điểm khác đó ở cùng một bộ phận giữa những cá thể người là mục đích của công tác nhận diện.Về mặt giải phẩu, tùy thuộc vào yếu tố di truyền, dinh dưỡng, lao động… từng bộ phận cơ thể ở mỗi người có thể giống và khác nhau Về mỗi bộ phận đều có những bộ phận để chúng ta tiến hành mô tả như có đầu to, đầu nhỏ, đầu trung bình, đầu tròn, đầu dài, đầu dẹt… những trên đầu lại có các bộ phận khác như tai, mũi, mắt, miệng, răng và các đặc điểm về lông mày, lông mi, tóc
Trang 71.2.3 Một số đặc điểm khác
- Ở mỗi người đều có một đặc điểm riêng, các biệt, có thể do bẩm sinh sinh
ra đã có nó, nó phát triển đến mức nhất định và tồn tại suốt cả cuộc đời người đó như vết bớt, vết chàm, vết sứt má ở má, cánh mũi,… hay những đặc điểm được hình thành trong cuộc sống của mỗi người như vết sẹo, rỗ, tàn nhang, nôt ruồi, vết xăm mình trạm trổ…
1.2.4 Đặc điểm dấu vân tay
Mỗi người chỉ có một dấu vân tay duy nhất, vì vậy nhận dạng con người bằng dấu vân tay đang là việc được các công chứng viên muốn thực hiện đảm bảo tính chính xác khi thực hiện nhận dạng con người Tuy nhiên do hệ thống nhận diện con người bằng dấu vân tay chưa được đồng bộ trên hệ thống thông tin của nhà nước do vậy hiện tại việc xác định con người bằng dấu vân tay đang được thực hiện với một số trường hợp nhất định
Theo khoản 2, khoản 3, Điều 48, Luật công chứng 2014 quy định: “2 Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng hai ngón trỏ đó thì điểm chỉ bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào, của bàn tay nào
Việc điểm chỉ cũng có thể thực hiện đồng thời với việc ký trong các trường hợp sau đây:
a) Công chứng di chúc;
b) Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
c) Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Như vậy, điểm chỉ không phải là một trường hợp bắt buộc nhưng vẫn thường xuyên xuất hiện Người dân thường không hài lòng khi thực hiện thủ tục này vì cho rằng bẩn tay, người biết chữ thì không cần điểm chỉ Nhưng khi công
Trang 8chứng viên yêu cầu thì người tham gia giao dịch phải chấp thuận nếu muốn thực hiện giao dịch Công chứng viên yêu cầu vì những lẽ sau:
- Theo nghiên cứu, không ai có dấu vân tay trùng nhau nên việc điểm chỉ sẽ xác thực được chủ thể tham gia giao dịch chuẩn xác nhất
- Khi điểm chỉ, sẽ để lại chứng cứ rõ nét nhất về tính xác thực của giao dịch Tất nhiên, không phải loại giấy tờ tùy thân nào cũng có dấu vân tay nên công chứng viên vẫn luôn phải thận trọng dù rằng đã có dấu vân tay
1.3 Kỹ năng xác định tư cách chủ thể tham gia giao dịch là cá nhân
1.3.1 Cá nhân là chủ thể tham gia giao dịch dân sự đủ điều kiện tham gia ký kết, thực hiện giao dịch dân sự
Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự được hiểu là năng lực chủ thể của cá nhân đó, tùy từng trường hợp mà Bộ luật dân sự 2015 sẽ
có quy định về những cá nhân không được quyền tham gia giao dịch dân sự cụ thể
Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự Trong đó năng lực pháp luật là quyền xử sự của chủ thể được ghi nhận và được phép thực hiện Năng lực hành vi là khả năng tự có của chủ thể trong việc thực hiện, kiểm soát và làm chủ hành vi của mình
Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự như sau:
Điều 14 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
Điều 17 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành
vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
Chủ thể giao dịch Dân sự bao gồm nhiều loại cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình … Mặt khác, thuật ngữ “cá nhân “ bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài Như vậy, có thể hiểu năng lực pháp luật Dân sự của
cá nhân là phạm vi các quyền mà bằng pháp luật Nhà nước đã ghi nhận cho
Trang 9công dân mình Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật dân sự 2015 thì năng lực pháp luật Dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định Vì thế, mọi cá nhân đều được coi là đủ năng lực pháp luật Dân sự khi tham gia giao dịch, ngoại trừ những trường hợp cá nhân đó đã bị pháp luật hạn chế một quyền nào đó vốn là mục đích của giao dịch mà cá nhân đó tham gia
Do vậy, chủ yếu chỉ cần xem xét đến năng lực hành vi của chủ thể là có thể xác định được năng lực chủ thể trong giao dịch dân sự Có thể hiểu năng lực hành vi dân sự cụ thể như sau: “ năng lực” là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện hoạt động nào đó, “ hành vi” là cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định Vì thế, năng lực hành vi là khả năng thực hiện xử sự và kiểm soát làm chủ các xử sự đó của cá nhân Đồng thời cũng có thể hiểu năng lực hành vi dân sự ở góc độ là sự tổng hợp giữa 2 yếu tố: lý trí, mong muốn và khả năng thực hiện, kiểm soát hành vi
Có thể nói rằng khi ban hành Bộ luật dân sự 2015, các nhà làm luật đã căn
cứ vào các phương diện trên để xác định và ghi nhận các mức độ năng lực hành
vi Dân sự cá nhân Bộ luật dân sự 2015 căn cứ vào độ trưởng thành về thể chất
và nhận thức của cá nhân để xác định cá nhân ở độ tuổi nào, nhận thức ra sao thì được thừa nhận là có năng lực hành vi ở mức độ tương ứng Theo quy định tại các Điều 20, 21, 22, 23, 24, 25 của Bộ luật dân sự 2015 pháp luật đã thừa nhận năng lực hành vi Dân sự của cá nhân theo các mức độ khác nhau Trong mỗi mức độ đó, các cá nhân có quyền tham gia giao dịch Dân sự trong một phạm vi tương ứng
– Cá nhân có năng lực hành vi đầy đủ: Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Người thành niên có năng lực hành vi Dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Bộ luật này Và các cá nhân nhận được thừa nhận là có năng lực hành vi Dân sự đầy đủ sẽ được coi là có đủ năng lực để tự tham gia mọi giao dịch Dân sự
– Cá nhân có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ: Bao gồm các cá nhân
từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, có sự phát triển bình thường về nhận thức Ở lứa tuổi này, họ là những người có nhận thức lí trí nhưng chưa đủ để có thể làm
Trang 10chủ, kiểm soát mọi hành vi của mình Họ có thể nhận thức hành vi này nếu hành
vi đó có tính chất và mức độ giản đơn nhưng lại không hề nhận thức được các hành vi khác nếu hành vi đó có tính chất mức độ phức tạp
Vì thế luật chỉ thừa nhận họ có tư cách chủ thể để xác lập, thực hiện các giao dịch Dân sự nào nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của họ và
có sự phù hợp giữa giao dịch đó với lứa tuổi của họ Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu chính đáng của các cá nhân ở mức độ năng lực hành vi này, luật còn cho phép họ xác lập các giao dịch khác nếu có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật hoặc tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch Dân sự nếu họ có đủ tài sản riêng để đảm bảo việc thực hiện các giao dịch Dân sự nếu họ có đủ tài sản riêng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ ( Điều 22 Bộ luật dân sự 2015)
– Cá nhân chưa có năng lực hành vi dân sự: Bộ luật dân sự 2015 không quy định về mức độ này mà chỉ quy định về người không có năng lực hành vi Dân sự ( Điều 23 Bộ luật dân sự 2015) Tuy nhiên, những cá nhân ở độ tuổi này là người không thể bằng nhận thức suy luận để có thể điều khiển được hành
vi nào của mình Vì vậy, họ là người không có năng lực chủ thể để tham gia bất
kì một giao dịch Dân sự nào Các giao dịch nhằm phục vụ cho nhu cầu của những người này đều phải do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập và thực hiện
– Cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự trước hết là người đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ nhưng lại rơi vào tình trạng như điều 2 của Bộ luật dân sự 2015 đã dự liệu Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho những người liên quan, pháp luật quy định tòa án được quyền tuyên bố hạn chế năng lực hành vi của những người
rơi vào tình trạng “ Nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá
tài sản của gia đình” theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan.
Kể từ thời điểm quyết định tuyên bố người bị hạn chế năng lực hành vi Dân sự của tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi quyết định đó bị hủy bỏ thì
cá nhân không được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Họ chỉ được coi là có đủ năng lực để tự xác lập, thực hiện những giao dịch nhỏ nhằm