BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN KỸ NĂNG CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG Chuyên đề: Thực trạng về giấy tờ giả trong hoạt động công chứng – Kỹ năng công chứng viên trong việc nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu công chứng
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
KỸ NĂNG CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG
Chuyên đề: Thực trạng về giấy tờ giả trong hoạt động công chứng – Kỹ năng công chứng viên trong việc nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu
công chứng
Họ và tên: Nguyễn Thị Bích Hồng Sinh ngày: 07 tháng 5 năm 1999
Số báo danh: 210
Lớp: Công chứng, 24.3C (T7, CN)
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẤY TỜ, TÀI LIỆU GIẢ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG .2
1.1 Giấy tờ, tài liệu giả là gì? 2
1.2 Các loại giấy tờ, tài liệu giả trong hoạt động công chứng thường gặp 2
1.2.1 Giấy tờ về nhân thân và giấy tờ về tài sản 3
1.2.2 Các loại giấy tờ khác .4
1.3 Nhận dạng giấy tờ giả trong hoạt động công chứng thường gặp 4
1.3.1 Nhận dạng chữ viết 5
1.3.2 Nhận dạng chữ ký 6
1.3.3 Nhận dạng con dấu 7
1.4 Mức độ làm giả 8
1.5 Một số thủ đoạn làm giả 9
1.5.1 Đối với thủ đoạn cắt dán 9
1.5.2 Đối với thủ đoạn tẩy xoá 9
1.5.3 Đối với thủ đoạn thay ảnh, ghép ảnh 10
1.5.3 Đối với thủ đoạn thay trang 10
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIẤY TỜ, TÀI LIỆU GIẢ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG HIỆN NAY 11
2.1 Một số tình huống làm giả giấy tờ trong thực tiễn 11
2.1.1 Làm giả giấy chứng nhận quyền sỡ hữu nhà ở 11
2.1.2 Làm giả giấy đăng ký xe ô tô 11
2.2 Trách nhiệm của công chứng viên khi công chứng giấy tờ, tài liệu giả 11
2.3 Những kỹ năng công chứng viên nhận diện giấy tờ, tài liệu trong hoạt động công chứng 12
2.3.1 Kiểm tra giấy tờ, tài liệu 13
2.3.2 Đối chiếu thông tin trên giấy tờ với thông tin thực tế của chủ thể 16
2.3.3 Kiểm tra, xác minh giấy tờ thông qua nguồn thông tin bên thứ ba 16
2.3.4 Cần trang bị “công cụ hỗ trợ” 16
CHƯƠNG III: NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHỮNG KỸ NĂNG NHẬN DIỆN CÁC GIẤY TỜ, TÀI LIỆU TRONG HỒ SƠ YÊU CẦU CÔNG CHỨNG 17
3.1 Nguyên nhân giấy tờ, tài liệu giả vẫn thường xuyên xuất hiện trong hoạt động công chứng 17
3.2 Giải pháp và kiến nghị hạn chế tình trạng sử dụng giấy tờ, tài liệu giả trong hoạt động công chứng 17
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 CMND Chứng minh nhân dân
2 CCCD Căn cước công dân
3 GCN Giấy chứng nhận
4 UBND Uỷ ban nhân dân
5 VPCC Văn phòng công chứng
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Thực trạng giả mạo hồ sơ, giấy tờ nhằm trục lợi hiện nay diễn ra ngày càng phổ biến với tính chất tinh vi, phức tạp Thời gian gần đây, ngành chức năng liên tục phát hiện, triệt phá các vụ án giả mạo giấy tờ, giả mạo người đi công chứng sau đó thực hiện các hành vi lừa đảo, cho thấy vấn nạn này rất đáng báo động Trong đó nhiều trường hợp khó có thể phát hiện ra vấn đề sai lệch dẫn đến việc qua mắt được công chứng viên Điển hình như các chiêu trò “người chết” vẫn có thể ủy quyền, “khai tử” người thân để nhận di sản thừa kế, làm giả và tráo giấy tờ nhà đất để chuyển nhượng…Thực tế cho thấy, thủ đoạn của các đối tượng ngày càng tinh vi, phức tạp không chỉ khiến người dân
mà còn cả VPCC hoang mang Đã có nhiều trường hợp dùng giấy tờ giả “lọt” qua VPCC
để lừa đảo, chiếm đoạt tiền tỷ của nhiều cá nhân, tổ chức và kéo theo nhiều hệ lụy xấu trong xã hội
Mặc dù các cơ quan ngành Tư pháp đã đưa ra nhiều quy định nghiêm ngặt trong khâu kiểm chứng giấy tờ công chứng, song vẫn không thể tránh khỏi nhiều sai sót trong hoạt động công chứng Chính vì vậy, bên cạnh các quy định pháp luật thì công chứng viên cần xây dựng cho mình các kỹ năng cần thiết để nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong
hồ sơ công chứng Từ những vấn đề trên, bản thân nhận thức được tầm quan trọng của
kỹ năng cần thiết để nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ công chứng, vì vậy tôi
quyết định bắt tay nghiên cứu và viết báo cáo với nội dung chuyên đề “Thực trạng về
giấy tờ giả trong hoạt động công chứng – Kỹ năng công chứng viên trong việc nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu công chứng”
Trong bài báo cáo này, học viên sẽ trình bày các loại giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu công chứng thường hay bị làm giả; tìm hiểu nguyên nhân tại sao các công chứng viên thường để lọt các loại giấy tờ, tài liệu giả này; Từ đó xây dựng các giải pháp, đưa
ra các kiến nghị những kỹ năng trong nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ công chứng
Bài báo cáo học phần công chứng hai với đề tài: “Thực trạng về giấy tờ giả trong
hoạt động công chứng – Kỹ năng công chứng viên trong việc nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu công chứng” kết cấu nội dung gồm:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung:
1 Lý luận về giấy tờ, tài liệu giả trong hoạt động công chứng
2 Thực trạng giấy tờ, tài liệu giả trong hoạt động công chứng hiện nay
3 Nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị những kỹ năng nhận diện các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu công chứng
Phần 3: Kết luận
Trang 5CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẤY TỜ, TÀI LIỆU GIẢ TRONG
HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1.1 Giấy tờ, tài liệu giả là gì?
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta vẫn nghe chuyện dùng tiền giả, bằng đại học giả, sổ hộ khẩu giả, CMND giả, giấy khám sức khỏe giả… công nghệ hiện đại nên thậm chí GCN quyền sử dụng đất cũng có thể bị làm giả mà rất khó
để người bình thường có thể phát hiện được
Việc sử dụng giấy tờ giả để lừa dối, làm “che” mắt cơ quan, tổ chức, công dân và gây thiệt hại nghiêm trọng cho cơ quan, tổ chức, công dân là vi phạm pháp luật, nhất là trong các hợp đồng, giao dịch như mua bán, chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở,v.v
Trước hết, về khái niệm “giấy tờ giả“? Hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành không có quy định như thế nào là “giấy tờ giả”, tuy nhiên, có thể hiểu, giấy tờ giả tức là những giấy tờ không được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn mà pháp luật quy định, không do cơ quan có thẩm quyền cấp một cách hợp pháp mà được làm ra với bề ngoài giống như thật, nhằm mục đích “đánh lừa”, lừa dối các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác để phục vụ các mục đích vụ lợi hoặc phục vụ mục đích khác theo nhu cầu của cá nhân
“Giấy tờ giả“, có thể được xác định giả về mặt hình thức thể hiện, như “CMND giả, GCN quyền sử dụng đất làm bằng phôi giả “Giấy tờ giả” cũng có thể được thực hiện thông qua việc làm giả về quá trình, về thẩm quyền cấp, nơi cấp “Giấy tờ giả” cũng
có thể thể hiện ở trường hợp giấy tờ có chữ ký, có con dấu và mẫu giấy thật nhưng tên của người trong tài liệu và thông tin trên tài liệu là giả hoặc được cấp cho người không
đủ điều kiện, không thực hiện đúng quy trình, quy định, tiêu chuẩn mà pháp luật quy định
“Giấy tờ giả” được làm ra và được đem đi sử dụng để lừa dối cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích riêng của mình, có thể xuất phát từ lý do cần
bổ sung loại giấy tờ này vào hồ sơ để xin việc, để thăng hạng, lên chức nhưng lại không
có đủ điều kiện để được cấp; hoặc sử dụng những giấy tờ này để lợi dụng lòng tin của người khác, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản…
Dù xuất phát từ hoàn cảnh, từ lý do nào thì việc sử dụng giấy tờ giả cũng là hành
vi vi phạm pháp luật và đã để lại những hệ lụy vô cùng nghiêm trọng Đặc biệt trong hoạt động công chứng, việc sử dụng giấy tờ, tài liệu giả gây thiệt hại trực tiếp cho người yêu cầu công chứng và bên thứ ba khi đó tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên gây ra trong quá trình công chứng
1.2 Các loại giấy tờ, tài liệu giả trong hoạt động công chứng thường gặp
Trang 6Hiện nay, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mạng máy tính… nên các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn và làm giả giấy tờ rất tinh vi nhiều loại giấy tờ khác nhau Tuy nhiên, trong hoạt động công chứng thì các loại giấy tờ thường bị làm giả nhiều nhất
là các giấy tờ về nhân thân và giấy tờ về tài sản
1.2.1 Giấy tờ về nhân thân và giấy tờ về tài sản
Căn cứ Điều 40 Luật Công chứng 2014 quy định về công chứng hợp đồng, giao dịch thì Hồ sơ yêu cầu công chứng được lập thành một bộ, gồm các giấy tờ sau đây:
“a) Phiếu yêu cầu công chứng, trong đó có thông tin về họ tên, địa chỉ người yêu cầu công chứng, nội dung cần công chứng, danh mục giấy tờ gửi kèm theo; tên tổ chức hành nghề công chứng, họ tên người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, thời điểm tiếp nhận hồ sơ;
b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng;
d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;
đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có”
Theo quy định tại điểm c, d thì các giấy tờ tùy thân và giấy tờ tài sản của người yêu cầu công chứng trong hồ sơ yêu cầu công chứng là rất quan trọng và không thể thiếu trong hồ sơ Hai loại giấy tờ này giúp làm rõ tính xác thực và hợp pháp của của hợp đồng, giao dịch dân sự
❖ Các loại giấy tờ tùy thân theo quy định của pháp luật hiện nay:
Giấy tờ tùy thân là khái niệm được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên hiện nay dưới góc độ pháp lý, chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng, cụ thể định nghĩa của giấy tờ tùy thân
1 CMND được quy định tại Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về CMND, Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ
2 Thẻ CCCD quy định tại Luật CCCD năm 2014
3 Hộ chiếu quy định tại Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 về xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam và Nghị định 94/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định số 136/2007/NĐ-CP về xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam
4 Giấy chứng minh sĩ quan quân đội quy định tại Nghị định số 130/2008/NĐ-CP ngày 19/12/2008 của Chính phủ
Trang 7Từ những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến giấy tờ tùy thân hiện tại, có thể rút ra khái niệm: Giấy tờ tùy thân (giấy tờ cá nhân) là những loại giấy tờ có thể giúp xác định đặc điểm và nhận dạng nhân thân của một con người cụ thể Thông thường, giấy tờ tùy thân là các loại giấy tờ có dán ảnh hợp lệ và có đóng dấu giáp lai lên ảnh tuy nhiên trong một số loại không nhất thiết bắt buộc về chi tiết này
❖ Các loại giấy tờ về tài sản theo quy định của pháp luật hiện nay:
Là các giấy tờ chứng nhận các chủ thể được quyền sở hữu, sử dụng và giao dịch liên quan đến tài sản Tài sản là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến trong xã hội có tư hữu, có nhà nước và có pháp luật Theo từ điển Tiếng Việt, tài sản là của cải hoặc tinh thần nói chung có trong quyền sở hữu của mình1 Bộ luật dân sự năm 2015 nêu khái niệm tài sản như sau:
“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là
1 Đối với bất động sản thì giấy tờ dung để chứng minh là GCN quyền sử dụng đất, GCN quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, GCN quyền sở hữu nhà ở được quy định tại Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014 và các Nghị định hướng dẫn
2 Đối với động sản có đăng ký quyền sở hữu thì giấy tờ dung để chứng minh như giấy đăng ký xe ô tô, xe máy…
1.2.2 Các loại giấy tờ khác
Theo quy định tại điểm đ Điều 40 Luật Công chứng 2014 thì ngoài các giấy tờ về nhân thân và giấy tờ về tài sản thì tùy theo từng loại hợp đồng, giao dịch cụ thể thì người yêu cầu công chứng cần phải cung cấp thêm bản sao các loại giấy tờ khác có liên quan theo quy định của pháp luật như:
1 Giấy tờ về hộ tịch như Giấy khai sinh/ Trích lục khai sinh, Giấy đăng ký kết hôn, Giấy chứng tử/ Trích lục khai tử,…
2 Giấy tờ về cư trú theo quy định của Luật cư trú như Sổ hộ khẩu gia đình,…
1.3 Nhận dạng giấy tờ giả trong hoạt động công chứng thường gặp
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tỉnh hợp pháp của hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc
cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng3
Thông qua hoạt động công chứng của mình, công chứng viên góp phần bảo đảm
an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp
Trang 8phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội4
Để thực hiện tốt chức năng xã hội nêu trên, trước hết mỗi công chứng viên phải có
kỹ năng nhận diện các giấy tờ, tài liệu liên quan trong hồ sơ yêu cầu công chứng dưới các đặc điểm quan trọng như chữ viết tay, chữ ký và con dấu Việc sử dụng giấy tờ, tài liệu là khá phổ biến trong xã hội, chúng là những sản phẩm do con người tạo ra có giá trị tinh thần hoặc vật chất nhất định Đồng thời, chúng phản ánh một lượng thông tin nhất định về sự vật và con người Trong lĩnh vực công chứng nói riêng, các văn bản và tài liệu có thể là đối tượng để làm rõ tính xác thực và hợp pháp, chứa đựng cơ sở pháp
lý để xác thực các giao dịch khác
Thực tế hiện này có nhiều giáy tờ bị làm giả như văn bằng, chứng chỉ, GCN quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản để lừa dối những cơ quan hữu quan trong việc tuyển dụng,bổ nhiệm, chuyển dịch quyền sở hữu là phương tiện và hiện hành vi trái pháp luật và đạo đức xã hội Các văn bằng, chứng chỉ thật bị đối tượng cạo sửa, lồng ghép nội dung để làm thay đổi nội dung để sử dụng vào mục đích bất hợp pháp lại là đối tượng
bị xâm hại Dù có là phương tiện hay đối tượng bị xâm hại thì mục đích chính của thủ phạm là tạo ra các giấy tờ, tài liệu bất hợp pháp để sử dụng vào các mục đích riêng của chúng mà không được xã hội chấp nhận
1.3.1 Nhận dạng chữ viết
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ của con người được hình thành và phát triển thông qua lao động Sự hình thành chữ viết là một quá trình phát triển lâu dài Loại chữ viết thứ nhất rất đơn giản, chỉ với những nét vẽ đơn điệu, hoặc những nét vẽ tượng trưng có thể nói lên suy nghĩ của con người và phản ánh hiện thực khách quan của thế giới Khi lao động phát triển, tiếng nói và chữ viết cũng vậy, đạt đến sự hoàn hảo như ngày nay Chữ viết của mỗi người không phải bẩm sinh mà có, mà sự luyện tập có ý thức, lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành một phản xạ có điều kiện5 Phản xạ này được tạo ra bởi sự tham gia của não và các cơ quan khác do não điều khiển Có thể nói chữ viết vừa là sản phẩm vừa là phương tiện vật chất để biểu đạt ngôn ngữ của con người
Khi chữ viết được hình thành ở mỗi cá nhân thì chữ viết có hai tính chất cơ bản: tính riêng biệt và tính ổn định:
- Tính riêng biệt: Là biểu hiện của sự khác biệt giữa nét chữ của người này với nét chữ của người khác Viết là một thao tác phối hợp khá phức tạp được thực hiện bởi toàn
bộ hệ thống cơ quan của cơ thể người dưới sự chỉ huy của vỏ não của hệ thần kinh trung ương Mỗi người là một cơ thể riêng biệt và khác nhau về thể chất, tinh thần và tâm hồn,
và những yếu tố này tạo nên sự khác biệt trong nét chữ của mỗi người Ngoài ra, việc hình thành chữ viết của mỗi cá nhân còn phụ thuộc vào yếu tố giáo dục, điều kiện và cơ
4 Điều 3 Luật Công chứng 2014
5 Nguyễn Thanh Quang (2020), Một số vấn đề về chữ quốc ngữ, NXB Khoa Học Xã Hội, tr.46
Trang 9sở vật chất của người học Vì vậy, mỗi người đều có một phong cách viết riêng không thể giống ai
- Tương đối ổn định: Việc viết tương đối ổn định giống như mộ t thói quen, một khi đã hình thành thì không dễ gì thay đổi Viết lách, một khi đã trở thành thói quen của mọi người, nó sẽ ổn định lâu dài, đặc biệt là ở lứa tuổi trưởng thành Nhưng chữ viết cũng có thể bị thay đổi ít nhiều do viết ở những trạng thái tâm sinh lý không bình thường, điều kiện chữ viết không bình thường… Ngoài ra, có những trường hợp nét chữ của nó
bị cố tình thay đổi, nhưng dù có thay đổi vì lý do khách quan hay chủ quan mà không
có nét chữ thì cơ bản đặc điểm của mỗi người vẫn còn
Hai đặc điểm cơ bản này là cơ sở khoa học quan trọng để đánh giá độ chính xác của nhận dạng chữ viết tay Ngoài ra, còn có một số đặc điểm chung là những đặc điểm biểu thị tính chất chung nhất, những nét khái quát nhất của hệ thống chuyển động dạng chữ của một người Những đặc điểm đó bao gồm:
+ Mức độ điêu luyện của dạng chữ: Đặc điểm này phản ánh khả năng thực hiện các chuyển động chữ viết của một người nhanh hay chậm, tự động hay không tự động Mức độ điêu luyện của dạng chữ nói chung tương đối bền vững, nó chỉ có thể bị thay đổi theo chiều từ cao xuống thấp, chứ không thể thay đổi theo chiều ngược lại trong một thời gian ngắn, trừ khi có sự luyện tập lâu dài
+ Cấu trúc chung của dạng chữ: Khi mỗi người đã có khả năng viết tương đối thuần thục, thì dạng chữ của người đó sẽ thuộc một dạng cấu trúc nhất định Dạng cấu trúc này là đặc điểm tương đối bền vững Cấu trúc chung của dạng chữ có 3 loại: chân phương, đơn giản và phức tạp Chiều hướng của trục chữ có 3 loại: thẳng đứng, nghiêng phải và nghiêng trải Độ lớn của chữ: Chủ yếu là tính theo chiều cao của chữ, chữ to từ 5mm trở lên, chữ nhỏ từ 2mm trở xuống và chữ trung bình Độ liên kết của chữ: Đó là khả năng liên kết giữa các chữ cái trong cùng một từ, có 3 mức độ liên kết: cao, thấp, trung bình Dạng chuyển động và hướng chuyển động: Khi viết, các đường nét chữ ở mỗi người thể hiện một dạng chuyển động nhất định và theo một hướng nhất định
1.3.2 Nhận dạng chữ ký
Chữ kỹ là một biểu tượng viết tay của con người Nó có thể là tên, biệt danh hay một ký hiệu bất kỳ để thể hiện dấu ấn của một người Chữ ký thường thấy trên các tài liệu, hợp đồng, văn bản pháp lý, v.v với ý nghĩa minh chứng cho sự hiện diện của người
đó6, làm cho tài liệu có giá trị pháp lý
Chữ ký có thể thay đổi theo từng thời gian và do ý muốn của người ký, nhưng nó vẫn mang tính ổn định nhất định và có tính đặc trưng của rời tạo ra nó Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy bên cạnh việc giả mạo chữ viết, con dấu, bọn tội phạm còn
6 Wikipedia (2022), Chữ ký, try cập ngày 25/5/2022, từ <
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_ k%C3%BD>
Trang 10giả mạo cả chữ ký trong văn bản, giấy tờ, tài liệu để thực hiện mục đích của chúng Do vậy, việc nhận dạng chữ ký cũng phải dựa trên các nguyên tắc và phương pháp của việc giám định chữ viết tay
Những thủ đoạn giả mạo chữ ký:
- Cố ý làm thay đổi chữ ký của mình: Với mục đích để phủ nhận việc mình đã ký trong một văn bản nào đó, thủ phạm đã cố ý thay đổi chữ ký của mình bằng cách tạo ra một dạng chữ ký khác
Dạng chữ ký này có đặc điểm là: Tốc độ chuyển động chậm chạp so với chữ ký thường sử dụng, có sự sai khác phẩm đầu và cuối chữ ký, hình dáng nói chung hơi giống
và trong chữ ký còn tồn tại nhiều đặc điểm riêng của chữ ký thật
- Tạo ra chữ ký người khác (bắt chước): Chữ ký được tạo ra bằng thủ đoạn này nói chung đường nét tương đối tự nhiên, lưu loát Song, rất nhiều đặc điểm từ hình dáng chung đến các chi tiết đều khác chữ ký thật
+ Ký giả theo mẫu có sẵn: Thủ đoạn này có hai hình thức là tập cho quen để ký và nhìn ký Chữ ký được luyện tập nhiều lần rồi mới ký có đặc điểm: Hình dáng chung tương đối giống chữ ký thật, tốc độ chuyển động nhanh, một số đặc điểm chung và riêng giống chữ ký thật Tuy nhiên, vẫn tồn tại những chi tiết khác chữ ký thật ở chỗ: trục chữ, mối tương quan giữa các đường nét, đặc điểm liên kết, hướng chuyển động phức tạp Chữ ký được ký bằng cách nhìn để ký: tốc độ chuyển động chậm chạp, đường nét run, gãy, gai, đậm, có nhiều điểm dừng bút vô lý Tuy vậy, độ lớn của chữ ký giả tương đối giống chữ ký thật
+ Ký giả theo trí nhớ: người ký đã từng quan sát chữ ký thật, chưa có sự luyện tập, khi ký không có mẫu chữ ký thật để bắt chước Đặc điểm nhận dạng chữ ký này là chữ
ký có phần giống chữ ký thật, tốc độ ký nhanh Nhưng có đặc điểm riêng là: hướng chuyển động, mối tương quan giữa các nét, nét thừa hoặc thiếu khác biệt với chữ ký thật Ngoài các thủ đoạn trên, bọn tội phạm còn có thủ đoạn đồ, tổ và vẽ chữ ký Cụ thể
là đồ chữ ký qua ánh sáng ngược Đổ qua giấy than hoặc gây vết hằn bằng cách dùng vật nhọn như que, bút bi, bút chì tô theo mẫu chữ ký thật, tạo chữ ký giả, sau đó tô theo mực giấy than hoặc theo vết hằn bằng bút mực Việc vẽ mẫu chữ ký thật thường là bằng bút chì, sau đó tô lại bằng bút mực Đặc điểm nhận dạng các loại chữ ký này là: các đường nét chuyển động chậm chạp, thiếu tự nhiên, cong queo, nét bắt đầu và nét kết thúc không sắc gọn, mức độ ấn bút đều, nhiều điểm dừng bút vô lý
1.3.3 Nhận dạng con dấu
Trong đại đa số các giao dịch, một tài liệu, giấy tờ được ký và đóng dấu có thể nói
là một điều kiện, một đặc trưng thể hiện tính hợp pháp của tài liệu, giấy tờ đó Trong nhiều trường hợp, hình thức con dấu đã có tác dụng cũng cố lòng tin tuyệt đối cho bất
Trang 11kỳ ai quan tâm hoặc có trách nhiệm giải quyết các công việc có liên quan đến tài liệu, giấy tờ đã được đóng dấu
- Để đạt được mục đích bất hợp pháp, thủ phạm đã tạo ra hình dấu, giả trong nhiều giấy tờ, tài liệu bằng cách dùng dao để khắc dấu hoặc các phương tiện khác như in lưới,
tô vẽ, com pa, thậm chí cả nắp chai lọ để tạo ra con dấu
Đặc điểm để nhận dạng:
+ Hình dạng thô, méo, khoảng cách giữa các vành dấu không đều và thường xa hơn bình thường
+ Trục chữ nằm ở vành ngoại hình dấu giả không xuyên qua tâm
+ Đường nét không liên tục do có sự sửa chữa khi tạo ra con dấu, nét chữ có thể
bị sứt do làm quá tay, nét chữ không thẳng, gẫy khúc, nét kết thúc thường nhọn + Kiểu chữ không đúng quy cách, các chữ cái cùng loại không giống nhau, độ lớn của các nét chữ không bằng nhau
+ Nếu dùng com pa, bút chì, các vật nhọn, nắp chai lọ thì hình dấu cũng có các đặc điểm: Đường nét không tự nhiên, nét to, nét nhỏ đậm nhạt khác nhau, các điểm tiếp giáp có khi có khe hở hoặc chồng lên nhau tạo thành nét đối; Các chi tiết nhỏ
và khó như quốc huy, quốc hiệu không thể hiện đầy đủ và thường đọng mực, mờ, nhoè; Đường nét chữ cong queo, dòng chữ không thắng; Bố cục các dòng chữ, hình vẽ không cân đối; Trục chữ ở vành ngoài hình dầu không xuyên qua tâm
- Ngoài những thủ đoạn phổ biến nói trên, thủ phạm còn đồ tô lại hình dấu bằng giấy than hoặc tạo vết hằn bằng vật nhọn, sau đó tô lại bằng mực đỏ hoặc thông qua ánh sáng ngược để đồ lại
Đặc điểm nhận dạng: Hình dấu tương đối giống hình dấu thật, bố cục nội dung khá cân đối, nhưng đường nét cong queo, gây khúc, mực phân bố không đều, có nét giấy than hoặc nét hằn sang mặt sau
1.4 Mức độ làm giả
- Giả mạo toàn bộ: Thủ phạm thường dùng thủ đoạn này để làm ra một hay nhiều tài liệu giả Phổ biến nhất là chúng thường dùng biện pháp in lưới hoặc bản khắc gỗ để làm ra phối giấy tờ tài liệu theo mẫu có sẵn, sau đó điền nội dung cần giả mạo vào Ngoài ra, thủ phạm có thể dùng bản photocopy có chất lượng mực kém hoặc chụp nhưng
cố tình không sấy khô để sau khi được chứng nhận, thủ phạm xoá sạch phần nội dung, chỉ để lại con dấu và chữ ký của công chứng viên, sau đó in hoặc photocopy nội dung giả vào để sử dụng
Các giấy tờ thường gặp là văn bằng, chứng chỉ, các giấy tờ về hộ tịch, GCN hoàn thành thủ tục hải quan, tờ khai nguồn gốc xe nhập khẩu Cách làm giả này thường bộc
lộ một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Trang 12+ Các đường nét không liên tục, nhất là các hoa văn
+ Các đường nét không sắc gọn, màu sắc tổng thể lẫn chi tiết của tài liệu khác với mẫu thật
+ Dấu chìm trên tài liệu không sắc, chữ in trong dấu có khoảng cách, mẫu chữ không đều
+ Do phương pháp chế bản khác nhau nên kiểu chữ khác kiểu chữ ở tài liệu thật
- Giả mạo từng phần: Trên cơ sở tài liệu in thật, thủ phạm có thể in thêm, dán đè hoặc viết thêm vào tài liệu đó Thậm chí, chúng còn dùng thủ đoạn lồng ghép, cắt cúp rất tinh xảo Tuy nhiên, thủ đoạn này vẫn bộc lộ những đặc điểm để chúng ta nhận dạng như: khoảng cách, hình dạng chung, độ đậm nhạt, độ sắc nét, khoảng cách giữa các dòng không thể giống tài liệu chính một cách tuyệt đối được Đối với những bản photocopy, nếu có sự cắt cúp thường để lại những dấu vết khác biệt như độ đậm của mực rất khác nhau, xung quanh đoạn bị cắt cúp thường xuất hiện viền mở
1.5 Một số thủ đoạn làm giả
1.5.1 Đối với thủ đoạn cắt dán
- Những vết hoen ố, ẩm ướt, nổi cộm của hồ dán và giấy dán Phía sau tài liệu chổ
bị dán có màu sắc hoặc bị nhăn hoặc co ngót khác thường
- Đường chân chữ và số không thẳng, trục chữ và số không thông nhất, khoảng cách không đều, có sự sai lệch
1.5.2 Đối với thủ đoạn tẩy xoá
- Tẩy xoá bằng cơ học: Làm mất nội dung cần tẩy xoá bằng dụng cụ như: tẩy cao
su, mũi dao hoặc vật nhọn khác
+ Đặc điểm về nhận dạng: Mặt tài liệu bị mất độ bóng do có nhiều vết trầy xước Giấy ở chỗ bị tẩy xóa sẽ mỏng đi Các dòng kẻ, hoa văn trang trí bị phá huỷ Chữ mới viết lên chỗ tẩy xoá bị nhoè, độ đậm khác thường Có thể còn sót lại những nét chữ cũ chưa tẩy hết
+ Cách nhận dạng: trước hết dùng mắt thường, dùng ánh sáng chiếu xiên, chiếu ngược, chiếu xuyên, kính lúp, kính hiển vi hoặc dùng bột màu nhỏ mịn láng nhẹ lên chỗ nghi bị tẩy xoá Ngoài ra người ta còn dùng đèn cực tím để soi, chỗ bị tẩy sẽ phát quang
- Tẩy xoá bằng hoá chất: Làm mất nội dung tài liệu bằng tác động hoá học của một
số hoá chất như: thuốc tím, clo, một số axit loãng, rượu, cồn
❖ Hình thức tẩy:
+ Tẩy từng phần: Tẩy từng phần sẽ để lại vết loang và màu sắc giấy ở chổ bị tẩy
bị thay đổi, nét chữ cũ bị phai nhạt, chữ viết vào chỗ tẩy sẽ bị nhoè, độ đậm khác thường, chỗ bị tẩy sẽ phát quang dưới ánh đèn cực tím
Trang 13+ Tẩy toàn bộ: Nhúng toàn bộ tài liệu (trừ phần con dấu và chữ ký nếu có) vào dung dịch chất tẩy, sau đó làm khô
+ Đặc điểm để nhận dạng: Giấy có thể bị co lại, mặt giấy có nhiều nếp nhăn, độ bóng tự nhiên bị giảm, độ thẩm thấu mực viết, in cao hơn Giấy có thể bị bở hơn do bị tác động của hoá chất, màu sắc giây nhợt nhạt, không tự nhiên
+ Cách nhận dạng: Trước hết dùng mắt thường, dùng ánh sáng chiếu xiên, chiếu ngược, chiếu xuyên Ngoài ra người ta còn dùng đèn cực tím để soi
1.5.3 Đối với thủ đoạn thay ảnh, ghép ảnh
Trong hoạt động nghiệp vụ công chứng, công chứng viên thường gặp các tài liệu
bị thay ảnh, ghép ảnh như: CMND, Hộ chiếu, các loại thẻ, giấy phép lái xe và nhiều loại giấy tờ có dán ảnh khác Thủ đoạn thay ảnh phổ biến là:
- Bóc ảnh cũ thay ảnh khác và tạo phần dấu nổi: Đặc điểm để nhận dạng: có mâu thuẫn về độ mới cũ giữa ảnh và giấy, có vết xước, rách trong và ngoài khung ảnh Do dùng vật cứng, nhọn để tạo hình dấu nổi nên các chi tiết của dấu không rõ ràng, đường nét thô gãy, đường viền dấu trên ảnh và giấy không liên tục, méo mó
- Bóc ảnh cũ dán ảnh mới đã có hình dấu nổi: Đặc điểm để nhận dạng: có mâu thuẫn về chất lượng ảnh và giấy, hình dấu méo mó, đường viền không liên tục do phải dán ảnh đúng vào khung quy định
- Ghép ảnh: Đặc điểm để nhận dạng là hình dấu nổi không sắc, nét chữ, khoảng cách, trục chữ có điểm mâu thuẫn, đường viền dấu thô và không trơn Phương pháp phát hiện các đặc điểm trong ba thủ đoạn trên thường là bằng mắt thường thông qua ánh sáng chiếu nghiêng hoặc các loại kính quang học thông thường
1.5.3 Đối với thủ đoạn thay trang
- Đối với tài liệu có nhiều trang mà không có dấu giáp lại rất dễ bị thay trang Trên
cơ sở tài liệu thật, thủ phạm có thể thay toàn bộ hoặc từng phần của một hay nhiều trang của tài liệu
- Đặc điểm nhận dạng: Dạng chữ ở các trang không cùng loại Có sự khác nhau về mực, giấy, dụng cụ viết hoặc in giữa trang mới và các trang còn lại không bị thay Số thứ tự của trang hoặc số tờ có thể không phù hợp Trang mới và trang cũ khác nhau về
độ mới cũ, độ sờn mép giấy, độ sáng của màu giấy Nội dung có thể không thống nhất, sai lệch về dòng Xuất hiện vết đóng lại, ghim lại Khác nhau về phương pháp chế bản, phương pháp in, kiểu chữ cũng khó giống nhau
Trang 14CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIẤY TỜ, TÀI LIỆU GIẢ TRONG HOẠT
ĐỘNG CÔNG CHỨNG HIỆN NAY
2.1 Một số tình huống làm giả giấy tờ trong thực tiễn
2.1.1 Làm giả giấy chứng nhận quyền sỡ hữu nhà ở 7
Bà L là chủ sở hữu nhà và đất ở tại số 239/41 Khuông Việt, P.Phú Trung, Q.Tân Phú Năm 2016, bà được UBND Q.Tân Phú cấp GCN quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất (sổ hồng)
Tháng 12-2017, bà L rao bán căn nhà này Đầu tháng 1-2018, có một người phụ
nữ tên H đến nhà riêng của bà L hỏi mua nhà Bà H đề nghị được xem giấy tờ nhà, bản photocopy sổ hồng, bản sao hộ khẩu, CMND của bà L để tham khảo
Các ngày sau đó, bà H lại đến nhà bà L xin xem và chụp hình bản gốc sổ hồng Lúc bà L đưa sổ hồng ra thì bà H kêu khát nước và nhờ bà L vào nhà lấy nước Trong thời gian bà L vào nhà lấy nước thì bà H đã đánh tráo lấy bản gốc sổ hồng và trả lại cho
bà L sổ giả đã chuẩn bị sẵn
Bà L không hề hay biết chuyện gì cho đến ngày 27-1-2018, cán bộ ngân hàng đến nhà bà để thẩm định Lúc này, bà mới tá hỏa khi biết căn nhà của mình đã được bà H bán cho ông P Hợp đồng mua bán nhà đất được lập tại VPCC X
2.1.2 Làm giả giấy đăng ký xe ô tô
Năm 2016, T (45 tuổi, trú thị trấn Di Linh) vay tiền của nhiều người, sau đó cho người khác vay lại để hưởng chênh lệch lãi Do nhiều người vay tiền của T không trả, T lâm cảnh nợ nần
Cùng thời gian này, T thuê 18 xe ô tô của 4 người ở TP Đà Lạt và các huyện Đức Trọng, Di Linh với giá thuê từ 16 triệu đến 24 triệu đồng/tháng, sau đó cho người khác thuê lại với giá tiền cao hơn Đến tháng 9-2017, do làm ăn thua lỗ, T thuê C và P làm giả 23 GCN đăng ký xe mang tên T đang thuê T đã trả cho C và P 101 triệu đồng tiền công làm giả số giấy tờ trên
Sau đó, T mang tất cả giấy tờ giả này đến VPCC X công chứng hợp đồng ủy quyền cho bà N toàn quyền định đoạt 18 xe ô tô trên để vay của bà N 10,3 tỷ đồng
2.2 Trách nhiệm của công chứng viên khi công chứng giấy tờ, tài liệu giả
Theo Điều 46 Luật công chứng thì lời chứng của công chứng viên phải bảo đảm các nội dung như chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện,
có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao