1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Điều kiện bổ nhiệm công chứng viên

38 29 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều kiện bổ nhiệm công chứng viên
Tác giả Nguyễn Thị Kiểu Mi
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật pháp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,2 MB
File đính kèm BÀI BÁO CÁO KẾT THÚC HP CC1.zip (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu (4)
  • CHƯƠNG I.KHÁI QUÁT VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VIỆC BỔ NHIỆM CÔNG CHỨNG VIÊN (0)
    • 1.1. Khái quát chung về công chứng viên (6)
    • 1.2. Quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của công chứng viên (8)
    • 2.1. Tiêu chuẩn công chứng viên (16)
    • 2.2. Đào tạo và tập sự hành nghề công chứng (18)
    • 2.3. Quy định pháp luật về bổ nhiệm công chứng viên (23)
    • 2.4. Quy định pháp luật về miễn nhiệm công chứng viên (25)
    • 2.5. Quy định pháp luật hiện hành về việc bổ nhiệm lại công chứng viên (27)
    • 1.1. Những mặt đạt được (29)
    • 1.2. Những mặt hạn chế (31)
    • 1.3. Tình huống minh họa (33)
    • 2.1. Nguyên nhân (34)
    • 2.2. Giải pháp,kiến nghị (34)
  • Kết luận (36)

Nội dung

Trong những năm qua,hoạt động công chứng đã thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế,xã hội của đất nược,góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,bảo đảm an toàn pháp lý,tạo ra môi trường pháp lý ổn định cho các giao dịch dân sự,kinh tế thương mại của các cá nhân,tổ chức trong và ngoài nước.Bên cạnh những kết quả đạt được,trong quá trình phát triển lĩnh vực công chứng nước ta cũng đã bộc lộc những hạn chế,bất cập về mặt tổ chức và hoạt động làm ảnh hưởng đến các hoạt động giao lưu dân sự,kinh tế,thương mại của xã hội,hạn chế sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng như sự hội nhập của nền kinh tế nước ta với khu vực và trên thế giới đồng thời cũng làm giảm đi hiệu quả quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên phần lớn do hệ thống pháp luật nước ta nói chung và trong lĩnh vực công chứng nói riêng chưa đồng bộ,chưa hoàn chỉnh còn nhiều mâu thuẫn,chồng chéo,nhiều quy định không còn phù hợp với sự phát triển. Qua quá trình học tập,tham gia các bài giảng của Học viện tư pháp cở sở Hồ Chí Minh,tìm tòi nghiên cứu các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng và các văn bản liên quan thì học viên đã tìm ra hạn chế,bất cập,những vướng mắc trong quá trình lĩnh vực công chứng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó.Học viên xin đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này nhằm thúc đẩy sự pháp triển của hoạt động công chứng,đồng thời đánh giá được vai trò quan trọng của công chứng đối với xã hội,đó là lý do học viên chọn đề tài : “Điều kiện bổ nhiệm công chứng viên theo quy định của Luật công chứng, những hạn chế bất cập và hướng kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc bổ nhiệm công chứng viên” để làm đề tài báo cáo kết thúc học phần CC1.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Trong những năm qua, hoạt động công chứng đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo đảm an toàn pháp lý Công chứng tạo ra môi trường pháp lý ổn định cho các giao dịch dân sự, kinh tế và thương mại của cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống pháp luật về công chứng còn nhiều hạn chế, bất cập, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại, làm hạn chế sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo và không phù hợp với sự phát triển của thực tiễn, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Qua quá trình học tập,tham gia các bài giảng của Học viện tư pháp cở sở

Học viên đã nghiên cứu các quy định pháp luật về công chứng, phát hiện những hạn chế, bất cập và vướng mắc trong lĩnh vực này, cũng như nguyên nhân gây ra tình trạng đó Đề tài của học viên hướng tới đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động công chứng và làm rõ vai trò quan trọng của công chứng đối với xã hội Chính vì thế, đề tài đã chọn là "Điều kiện bổ nhiệm công chứng viên theo quy định của Luật công chứng, những hạn chế bất cập và hướng kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc bổ nhiệm công chứng viên" để tập trung phân tích và đề xuất các hướng sửa đổi phù hợp.

2.Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu;

Phân tích và đánh giá địa vị pháp lý của công chứng viên hiện nay là cần thiết để hiểu rõ vai trò và vị trí của họ trong hệ thống pháp luật Các quy định pháp luật về việc bổ nhiệm công chứng viên cần được nghiên cứu sâu để xác định những quy trình, tiêu chuẩn và điều kiện cần thiết cho việc tuyển chọn và đề cử Điều tra các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng và các văn bản pháp luật liên quan giúp phát hiện những hạn chế, vướng mắc gây cản trở quá trình bổ nhiệm công chứng viên Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác bổ nhiệm và đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong quá trình này Đối tượng nghiên cứu chính là các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng, quy định về việc bổ nhiệm công chứng viên cùng các chế định pháp luật ảnh hưởng đến quá trình bổ nhiệm này, góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định và phù hợp của hệ thống công chứng.

3.Cơ cấu của bài báo cáo;

Ngoài phần mở đầu,kết luận,danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của báo cáo gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát và quy định pháp luật về việc bổ nhiệm công chứng viên;

Chương 2:Thực tiễn áp dụng pháp luật về việc bổ nhiệm công chứng viên và tình huống minh họa;

QUÁT VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VIỆC BỔ NHIỆM CÔNG CHỨNG VIÊN

Khái quát chung về công chứng viên

Công chứng 1 được hiểu là quá trình do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nhằm xác nhận tính hợp pháp và chính xác của các giao dịch dân sự, hợp đồng, hoặc bản dịch giấy tờ từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại, đảm bảo đúng nguyên tắc đạo đức xã hội Các loại văn bản này đều cần phải công chứng theo quy định của pháp luật để đảm bảo tính pháp lý và phòng tránh các rủi ro pháp lý phát sinh sau này Ngoài ra, công chứng viên còn có nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính và chữ ký trong các giấy tờ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc lựa chọn cơ quan có thẩm quyền thực hiện công chứng, đảm bảo quyền lợi và tính pháp lý của các giao dịch và văn bản.

Theo Luật công chứng năm 2014, Công chứng viên 3 là những cá nhân đáp ứng đủ phẩm chất và tiêu chuẩn quy định, và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký quyết định bổ nhiệm mới có thể hành nghề công chứng Hiện nay, có hai loại công chứng viên gồm Công chứng viên nhà nước làm việc tại các Phòng công chứng và Công chứng viên không phải là công chức nhà nước làm việc tại các Văn phòng công chứng Tuy nhiên, về địa vị pháp lý, hai loại công chứng viên này hoàn toàn giống nhau trong hoạt động công chứng, và luật không phân biệt giá trị pháp lý của các văn bản công chứng do họ thực hiện, bất kể mô hình tổ chức hành nghề nào.

Theo quy định, công chứng viên có chức năng xã hội quan trọng, bao gồm cung cấp các dịch vụ công do cơ quan Nhà nước ủy nhiệm nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng và giao dịch Công chứng viên còn có vai trò phòng ngừa các tranh chấp về nội dung văn bản, ngăn chặn khả năng xảy ra xung đột pháp lý khi các văn bản chưa được công chứng Ngoài ra, họ có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu công chứng cùng các bên liên quan Cuối cùng, công chứng viên đóng vai trò trong việc góp phần thúc đẩy sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội.

3 Khoản 2 Điều 2 Luật công chứng 2014.

Quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của công chứng viên

* Quyền của công chứng viên:

Căn cứ theo quy định khoản 1 tại Điều 17, Luật công chứng năm 2014 quy định thì công chứng viên có các quyền hạn như sau đây:

Pháp luật đảm bảo quyền hành nghề công chứng, tạo điều kiện thuận lợi cho công chứng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Nhà nước quy định rõ ràng các quyền của công chứng viên như được công chứng các hợp đồng và giao dịch trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời có quyền từ chối công chứng theo quy định của pháp luật Ngoài ra, công chứng viên còn được hưởng quyền bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và quyền mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Hội Công chứng tại mỗi tỉnh, thành phố đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, đồng thời phối hợp với cộng đồng để lên án các hành vi xâm phạm quyền hành nghề của công chứng viên Các tổ chức này còn hỗ trợ các cơ quan chức năng xử lý nhanh chóng và nghiêm khắc các hành vi vi phạm, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo môi trường pháp lý an toàn cho hoạt động công chứng Nhờ đó, nghề công chứng được duy trì sự ổn định và phát triển bền vững.

Hình 1:Công chức viên thực hiện ký công chứng hợp đồng.

Luật công chứng 2014 đã quy định rõ ràng về quyền thành lập Văn phòng công chứng, trong đó Văn phòng công chứng phải thành lập dưới hình thức công ty hợp danh, khác với Luật công chứng 2006 cho phép tồn tại song song hai loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân do một công chứng viên thành lập và công ty hợp danh do hai công chứng viên trở lên thành lập Thay đổi này hướng tới tăng cường tính minh bạch và chặt chẽ trong hoạt động của các Văn phòng công chứng Ngoài ra, Luật công chứng cũng quy định rõ về việc tổ chức và hoạt động của các Văn phòng công chứng, tạo ra khung pháp lý rõ ràng để đảm bảo quyền thành lập và hoạt động hợp pháp của các tổ chức hành nghề công chứng.

Năm 2014, quy định của Luật công chứng năm 2006 vẫn được kế thừa, trong đó cho phép Văn phòng công chứng thuê công chứng viên làm việc theo hợp đồng Chính sách này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức hành nghề công chứng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Đồng thời, nó cũng đáp ứng nhu cầu của nhân dân về dịch vụ công chứng một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Về mặt pháp lý, theo khoản 1 Điều 12 Luật công chứng 2014, công chứng là quá trình công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng xác nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự bằng văn bản, cũng như đảm bảo tính chính xác, hợp pháp và không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc ngược lại Theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ, người dân có thể chứng thực sao y bản chính, chứng thực chữ ký và hợp đồng giao dịch tại các tổ chức hành nghề công chứng hoặc Phòng tư pháp cấp huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các yêu cầu chứng nhận bản dịch và giảm tải áp lực công việc cho các cơ quan này Điều này không chỉ giúp quá trình công chứng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế mà còn mở rộng khả năng hội nhập của công chứng Việt Nam, nhằm đảm bảo các văn bản công chứng có thể được công nhận tại các quốc gia thành viên của Ủy ban công chứng Châu Á mà Việt Nam đã gia nhập.

Việc quy định này sẽ nâng cao chất lượng công chứng bản dịch nhờ vào việc công chứng viên kiểm tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của giấy tờ dịch Điều này khác biệt với phương thức cấp huyện chỉ đơn thuần chứng thực chữ ký người dịch Công chứng viên còn chứng nhận bản dịch do người hành nghề dịch thuật hợp pháp thực hiện hoặc hiệu đính, đồng thời cả công chứng viên và người dịch cùng chịu trách nhiệm liên đới về tính xác thực và hợp pháp của bản dịch, từ đó nâng cao chất lượng và độ tin cậy của bản dịch.

Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu cần thiết để thực hiện công chứng nhằm đảm bảo tính xác thực và hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch Hoạt động công chứng là hoạt động pháp lý ngoài tố tụng nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể pháp luật, ngăn ngừa tranh chấp phát sinh, và là một công cụ quan trọng trong quản lý nền tư pháp hiệu quả Qua quá trình công chứng, công chứng viên xác nhận tính hợp pháp của các giao dịch, đảm bảo các bên không phạm pháp luật khi xác lập giao dịch Việc công chứng dựa trên các thông tin, tài liệu mà các chủ thể có liên quan cung cấp sau khi trao đổi trực tiếp, nâng cao ý thức trách nhiệm và đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên Các tài liệu này là yếu tố bắt buộc để công chứng viên tiến hành công chứng hợp đồng, giao dịch một cách chính xác, hiệu quả và tuân thủ pháp luật.

Công chứng viên có quyền từ chối công chứng các hợp đồng, giao dịch hoặc bản dịch vi phạm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội Quyết định từ chối này phải dựa trên căn cứ xác thực và theo đúng quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào cảm xúc cá nhân về dân tộc, tôn giáo, lối sống, tuổi tác, khuyết tật, nghề nghiệp hay giới tính của người yêu cầu công chứng Quyền từ chối công chứng thể hiện tính độc lập và nhiệm vụ của công chứng viên trong việc thực thi pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự xã hội dựa trên hiểu biết về pháp luật và đạo đức xã hội.

* Nghĩa vụ của công chứng viên:

Căn cứ theo quy định khoản 2 tại Điều 17, Luật công chứng năm

2014 có quy định thì công chứng viên có các quyền hạn như sau đây:

Để đảm bảo các mục tiêu của hoạt động công chứng, pháp luật quy định công chứng viên phải tuân thủ nguyên tắc hành nghề gồm tuân theo Hiến pháp, pháp luật, hành xử khách quan và trung thực Công chứng viên còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung văn bản công chứng và tuân theo đạo đức nghề nghiệp Những quy định này nhằm xây dựng một đội ngũ công chứng viên có đạo đức tốt, thành thạo nghiệp vụ và tận tụy với công việc, đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn và năng lực để thực hiện nhiệm vụ một cách chính xác và hiệu quả.

Công chứng viên bắt buộc hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng theo quy định pháp luật Điều này nhằm đảm bảo quản lý, thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm trong hoạt động công chứng hiệu quả Quy định này cũng giúp xác định rõ trách nhiệm vật chất, trách nhiệm mua bảo hiểm và trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên, phù hợp với đặc thù công việc đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ.

Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng dịch vụ pháp lý Một mối quan hệ cởi mở, tin cậy giữa công chứng viên và khách hàng tạo nền tảng cho hiệu quả công chứng, dựa trên thái độ trung thực và chuẩn mực Tuy nhiên, sự tôn trọng cần thể hiện qua việc tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, pháp luật và quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu, thay vì tiếp nhận mọi yêu cầu một cách vô điều kiện Công chứng viên có trách nhiệm đảm bảo chất lượng dịch vụ, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Các công chứng viên tại Văn phòng công chứng Bình Tân có trách nhiệm giúp người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, cũng như lợi ích hợp pháp liên quan Việc giải thích rõ ý nghĩa, hậu quả pháp lý của việc công chứng đảm bảo rằng các bên tham gia hiểu đúng và tuân thủ đúng quy định pháp luật Trong trường hợp từ chối yêu cầu công chứng, công chứng viên cần lý giải rõ lý do để khách hàng nắm bắt chính xác, từ đó tạo sự minh bạch và tin tưởng trong quá trình giao dịch Quá trình thực hiện hoạt động công chứng đòi hỏi công chứng viên nắm bắt thông tin chính xác từ người yêu cầu, cung cấp tư vấn pháp lý dễ hiểu, và đảm bảo rằng hợp đồng, giao dịch phản ánh đúng ý chí của các bên và được pháp luật bảo vệ.

Công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng phải giữ bí mật tất cả thông tin thu thập trong quá trình thực hiện dịch vụ công chứng, trừ khi được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật Việc tuân thủ các nguyên tắc bảo mật là yếu tố then chốt để xây dựng lòng tin giữa công chứng viên và các cá nhân, tổ chức Bảo vệ bí mật bao gồm thông tin trong hồ sơ yêu cầu công chứng, hồ sơ công chứng và tất cả dữ liệu mà công chứng viên có thể biết về nội dung công chứng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên liên quan Quy định này góp phần gia tăng an toàn trong các hợp đồng, giao dịch, hạn chế các hậu quả pháp lý và ngăn chặn tranh chấp hoặc kiện tụng phát sinh (Theo điểm đ khoản 2 Điều 17 Luật công chứng 2014).

Các công chứng viên phải tham gia đầy đủ lớp bồi dưỡng công chứng hàng năm tại Học viện Tư pháp cơ sở Hồ Chí Minh để nâng cao nghiệp vụ, với thời gian tối thiểu 03 ngày làm việc (24 giờ) Theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 17 Luật công chứng 2014, việc bồi dưỡng này nhằm đảm bảo trình độ chuyên môn của công chứng viên luôn được cập nhật Công chứng viên có thể được miễn tham gia bồi dưỡng công chứng hàng năm nếu đã tham gia giảng dạy tại Học viện tư pháp, giảng dạy lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm hoặc tham gia khóa bồi dưỡng nghề công chứng ở nước ngoài trong cùng năm.

Công chứng viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về nội dung và tính xác thực của văn bản công chứng của mình, theo khoản 3 Điều 2 Thông tư số 11/2012/TT-BTP và điểm g khoản 2 Điều 17 Luật công chứng năm 2014 Trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng, công chứng viên phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng cũng như các cá nhân, tổ chức khác nếu gây lỗi hoặc thiệt hại Cơ chế bồi thường yêu cầu công chứng viên hoàn trả lại khoản tiền đã chi trả cho tổ chức hành nghề công chứng, và nếu không thực hiện nghĩa vụ này, tổ chức có quyền đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp.

Tiêu chuẩn công chứng viên

Vì vậy,để nâng cao chất lượng của công chứng Điều 8 Luật công chứng

2014 quy định một công chứng viên cần đáp ứng những tiêu chuẩn cụ thể như sau:

Để được bổ nhiệm làm công chứng viên tại Việt Nam, người đó phải là công dân Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam và đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam Điều kiện đầu tiên để trở thành công chứng viên là người đó phải có đăng ký thường trú tại Việt Nam Người nước ngoài không được phép trở thành công chứng viên tại Việt Nam, vì theo quy định, chỉ những công dân Việt Nam sinh sống, làm việc và học tập tại Việt Nam mới đủ điều kiện để đảm nhận vị trí này.

Công chứng viên luôn tuân thủ Hiến pháp và các quy định của pháp luật để đảm bảo tính hợp pháp của các giao dịch và hợp đồng Họ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự công bằng và ngăn ngừa tranh chấp liên quan đến hợp đồng Bên cạnh đó, công chứng viên cần có phẩm chất đạo đức tốt và tư tưởng vững vàng để đảm bảo tính pháp lý của các giao dịch giữa các bên, từ đó bảo vệ quyền lợi của khách hàng và duy trì uy tín nghề nghiệp.

Bạn cần có bằng cử nhân tốt nghiệp chuyên ngành Luật từ các trường đào tạo luật trên toàn quốc Bằng cử nhân này được cấp bởi các trường đại học có khoa Luật đủ điều kiện để cấp chứng chỉ cho học viên Việc sở hữu bằng cử nhân luật giúp bạn mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực pháp lý.

Người có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên sau khi tốt nghiệp và có bằng cử nhân luật cần tích lũy kinh nghiệm làm việc trong các cơ quan, tổ chức hành nghề luật hoặc văn phòng luật Kinh nghiệm này giúp họ đối mặt với các tình huống thực tế và vận dụng linh hoạt các quy định của pháp luật Để đáp ứng yêu cầu này, các luật sư cần có ít nhất 05 năm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, đảm bảo đủ kiến thức và kỹ năng để phục vụ khách hàng hiệu quả.

Đã tốt nghiệp khóa đào tạo công chứng giúp ứng viên nắm vững nghiệp vụ công chứng một cách chuyên nghiệp và bài bản Chương trình đào tạo cung cấp kiến thức cần thiết để chuẩn bị cho nghề công chứng viên, đảm bảo sĩ tử có đủ năng lực và kỹ năng để thực hiện công việc một cách hiệu quả và chính xác.

Để đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, ứng viên cần có Giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc Giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghề Thời gian tập sự hành nghề công chứng có thể thực hiện tại bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng nào do người tập sự tự liên hệ hoặc được Sở tư pháp địa phương giới thiệu và bố trí nếu tự liên hệ không thành công Sau khi hoàn thành tập sự và đủ điều kiện, người tham gia sẽ được cấp giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự hành nghề công chứng, xác nhận khả năng hành nghề của họ.

Để đảm bảo thực hiện công việc công chứng một cách hiệu quả, người hành nghề cần duy trì điều kiện sức khỏe tốt và ổn định Sức khỏe tốt không chỉ giúp họ thực hiện các nhiệm vụ một cách chính xác và nhanh chóng mà còn đảm bảo tính chính xác, trung thực trong quá trình chứng nhận các tài liệu pháp lý Việc đảm bảo sức khỏe tốt là yêu cầu bắt buộc để hành nghề công chứng chuyên nghiệp, góp phần nâng cao uy tín và chất lượng dịch vụ pháp lý.

Đào tạo và tập sự hành nghề công chứng

Công chứng viên có năng lực là những người được đầu tư phát triển về kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm thông qua quá trình đào tạo bài bản, tích lũy kinh nghiệm thực tế trong quá trình tập sự và hành nghề Theo Điều 9 Luật công chứng năm 2014, người có bằng cử nhân Luật có thể tham dự khóa đào tạo nghề công chứng tại các cơ sở đào tạo được Bộ trưởng Bộ Tư Pháp quy định, nhằm trang bị kỹ năng chuyên sâu cần thiết cho nghề Để đảm bảo chất lượng và nâng cao năng lực, thời gian đào tạo nghề đã được mở rộng lên 12 tháng, bao gồm cả thời gian kiến tập, thực tập tại tổ chức hành nghề công chứng, giúp học viên áp dụng kiến thức vào thực tiễn và nâng cao khả năng hành nghề chuyên nghiệp Khóa đào tạo nghề được tổ chức theo chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp phê duyệt, nhằm đảm bảo chuẩn kỹ năng và kiến thức cho công chứng viên tương lai.

Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề công chứng sẽ nhận được giấy chứng nhận tốt nghiệp từ cơ sở đào tạo nghề công chứng Đối với những người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài, quá trình công nhận tương đương được thực hiện theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 06/2015/TT-BTP, đảm bảo quyền lợi và tiêu chuẩn như người học trong nước.

Văn bằng đào tạo nghề công chứng do cơ sở đào tạo ở nước ngoài cấp phù hợp với quy định của Hiệp định về tương đương văn bằng hoặc công nhận lẫn nhau về văn bằng, hoặc các điều ước quốc tế liên quan đến văn bằng mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên Đây đảm bảo việc công nhận và sử dụng văn bằng được thống nhất theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người có bằng của nước ngoài hành nghề công chứng tại Việt Nam.

Văn bằng đào tạo nghề công chứng phải do cơ sở đào tạo ở nước ngoài cấp, đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng đã được cơ quan kiểm định chất lượng của quốc gia đó công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập Học viên có thể yên tâm về tính hợp pháp và giá trị của văn bằng nếu chương trình đào tạo nghề công chứng được chứng nhận phù hợp theo quy định của nước sở tại Điều này đảm bảo rằng bằng cấp có giá trị pháp lý và phù hợp với yêu cầu của hệ thống đào tạo nghề của quốc gia đó.

Người có bằng nghề công chứng theo quy định có thể yêu cầu công nhận tương đương đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài bằng cách nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính đến Bộ Tư pháp Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ ra quyết định công nhận hoặc từ chối việc công nhận tương đương Trong trường hợp từ chối, Bộ Tư pháp phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối, đảm bảo sự minh bạch và rõ ràng trong quá trình xét duyệt.

Việc tham gia khóa đào tạo hành nghề công chứng không áp dụng cho tất cả các trường hợp, theo Điều 10 Luật Công chứng 2014, những đối tượng sau sẽ được miễn đào tạo hành nghề công chứng Cơ sở pháp lý này quy định rõ các trường hợp được miễn đào tạo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng cụ thể Việc hiểu rõ các đối tượng được miễn đào tạo giúp các cá nhân và tổ chức nắm bắt chính xác các quy định liên quan đến hành nghề công chứng.

- Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên;

- Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên;

- Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật;

Người đã là thẩm tra viên cao cấp trong ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp trong ngành kiểm sát, cùng với đó là các chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp và giảng viên pháp luật cao cấp Những vị trí này đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về hệ thống tư pháp và pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, nghiên cứu và giảng dạy pháp luật Các chuyên viên cao cấp và giảng viên pháp luật cao cấp đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo, truyền đạt kiến thức pháp luật chính xác và cập nhật Việc đạt được các danh hiệu cao cấp này thể hiện trình độ chuyên môn và uy tín trong lĩnh vực pháp luật của người đội ngũ cán bộ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư pháp và kiểm sát.

Các trường hợp được miễn đào tạo hành nghề công chứng vẫn cần tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và quy tắc đạo đức hành nghề tại Học viện Tư pháp trong vòng 3 tháng Đồng thời, họ cũng phải hoàn thành thời gian tập sự hành nghề để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn chuyên môn Việc này giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công chứng và đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về nghề nghiệp.

*Tập sự hành nghề công chứng viên

Các quy định về tập sự hành nghề công chứng bao gồm thời gian tập sự, địa điểm tập sự và nghĩa vụ của người tập sự, được giữ theo quy định của Luật công chứng 2006 Tuy nhiên, Luật công chứng 2014 đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của công chứng viên hướng dẫn người tập sự, cũng như các vấn đề cụ thể liên quan đến quá trình tập sự hành nghề công chứng, đảm bảo sự chuyên nghiệp và minh bạch trong hoạt động công chứng.

Người đã hoàn thành khóa đào tạo hoặc bồi dưỡng công chứng cần đăng ký việc tập sự hành nghề tại Sở Tư pháp, nơi có Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng để bắt đầu thực hành nghề công chứng một cách hợp pháp và đúng quy định.

Trong trường hợp không tìm được tổ chức hành nghề công chứng để tập sự hoặc gặp khó khăn trong việc liên hệ trực tiếp, người tập sự có thể liên hệ với Sở Tư pháp tại địa phương nơi dự định thực tập để được hỗ trợ và bố trí phù hợp (Khoản 1, Điều 11 Luật Công chứng 2014).

Sau khi tìm được tổ chức hành nghề công chứng để tập sự, tổ chức sẽ phân công công chứng viên hướng dẫn tập sự theo quy định Công chứng viên hướng dẫn phải đáp ứng điều kiện tại khoản 3 Điều 11 của Luật công chứng 2014, bao gồm đã hành nghề công chứng ít nhất 2 năm và không bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong nghề công chứng trong vòng 12 tháng gần nhất Ngoài ra, một công chứng viên không được hướng dẫn nhiều hơn hai người tập sự để đảm bảo chất lượng hướng dẫn.

Thời gian thực tập hành nghề công chứng là 12 tháng đối với những người đã tốt nghiệp khóa đào tạo hành nghề công chứng, và 3 tháng đối với người đã hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng Người thực tập có quyền thay đổi nơi tập sự, miễn sao đảm bảo mỗi tổ chức hành nghề đều thực hiện tối thiểu 3 tháng thực tập Quy định này nhằm đảm bảo đủ thời gian thực hành và nâng cao năng lực cho người hành nghề công chứng theo quy định tại Khoản 2, Điều 3, Thông tư 04/2015/TT-BTP.

Việc đăng ký tập sự hành nghề công chứng phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 04/2015/TT-BTP Người tập sự có thể tự liên hệ với tổ chức hành nghề công chứng đủ điều kiện hoặc đề nghị Sở Tư Pháp địa phương bố trí tập sự tại một tổ chức phù hợp Hồ sơ đăng ký tập sự gồm một bộ hồ sơ gửi trực tiếp hoặc qua bưu chính đến Sở tư pháp nơi đăng ký, ngoại trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư Trong quá trình tập sự, người tập sự được hướng dẫn các kỹ năng hành nghề và thực hiện các công việc liên quan dưới sự hướng dẫn của công chứng viên Người tập sự không được ký văn bản công chứng trong thời gian tập sự và phải báo cáo kết quả tập sự bằng văn bản, có nhận xét của công chứng viên hướng dẫn và xác nhận của tổ chức hành nghề công chứng trong vòng 15 ngày sau khi kết thúc Kết quả này gửi đến Sở tư pháp để tham dự kiểm tra kết quả hành nghề công chứng, và những người đạt yêu cầu sẽ được cấp giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự, xác nhận hoàn thành quy trình đào tạo tập sự hợp pháp.

Quy định pháp luật về bổ nhiệm công chứng viên

Sau khi hoàn thành đào tạo, bồi dưỡng và tập sự nghề công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng, các đối tượng đủ tiêu chuẩn có quyền đề nghị bổ nhiệm công chứng viên Luật công chứng 2014 quy định tất cả các đối tượng muốn trở thành công chứng viên đều phải trải qua thời gian tập sự hành nghề và tuân thủ một trình tự, thủ tục bổ nhiệm chung sau khi đáp ứng yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự, thay thế cho quy định phân chia thủ tục cho người tập sự và người được miễn tập sự như trước đây.

Người đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 8 của Luật có quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm cần được gửi tới Sở Tư pháp nơi người đề nghị đã đăng ký tập sự hành nghề công chứng Việc thực hiện đúng quy trình này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người đề nghị và thúc đẩy hoạt động công chứng diễn ra hiệu quả, đúng pháp luật.

Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên gồm các giấy tờ quan trọng như đơn đề nghị bổ nhiệm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định, phiếu lý lịch tư pháp, bản sao bằng cử nhân, thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật, và các giấy tờ chứng minh về thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật Ngoài ra, cần có bản sao giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng; đối với người được miễn đào tạo nghề công chứng, phải có bản sao giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng và giấy tờ chứng minh là người được miễn đào tạo theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này Hồ sơ còn bao gồm bản sao giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự hành nghề công chứng và giấy kiểm tra sức khỏe cấp bởi cơ quan y tế có thẩm quyền.

Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 2 Điều này, Sở Tư pháp sẽ có văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên kèm hồ sơ liên quan Trường hợp từ chối đề nghị, Sở Tư pháp phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do để người nộp hồ sơ nắm rõ.

Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên từ Sở Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét và quyết định việc bổ nhiệm Trường hợp từ chối, Bộ trưởng phải gửi thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do đến Sở Tư pháp và người đề nghị bổ nhiệm.

Theo quy định của pháp luật, người đề nghị bổ nhiệm công chứng viên cần lập hồ sơ gửi đến Sở Tư pháp địa phương nơi đăng ký tập sự Sau khi nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định, trong vòng 10 ngày làm việc, Sở Tư pháp sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ và đề nghị cấp phép bổ nhiệm.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên dựa trên các trường hợp đáp ứng yêu cầu hoặc gửi văn bản trả lời về việc từ chối đề nghị, trong đó nêu rõ lý do Thời hạn xem xét và quyết định bổ nhiệm là 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị kèm hồ sơ từ Sở Tư pháp Trong trường hợp không bổ nhiệm, Bộ trưởng phải gửi thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do, đến Sở Tư pháp và người đề nghị Việc này đảm bảo quá trình bổ nhiệm công chứng viên minh bạch, đúng quy trình và phù hợp với quy định pháp luật.

Sở tư pháp hoặc Bộ tư pháp có quyền từ chối bổ nhiệm hoặc khiếu nại theo quy định của pháp luật Theo Luật công chứng 2014, việc bổ nhiệm lại công chứng viên được quy định rõ ràng tại Điều 16, bao gồm các trường hợp như công chứng viên xin miễn nhiệm do nguyện vọng cá nhân, chuyển sang công việc khác, bị miễn nhiệm do không còn đủ tiêu chuẩn, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, kiêm nhiệm công việc khác hoặc không hành nghề trong thời hạn quy định Khi các lý do miễn nhiệm không còn phù hợp, công chứng viên đáp ứng đủ tiêu chuẩn có thể được xem xét bổ nhiệm lại.

Luật công chứng 2014 quy định rõ các trường hợp được bổ nhiệm lại công chứng viên, đồng thời cũng xác định những trường hợp không được xem xét bổ nhiệm lại, như công chứng viên bị miễn nhiệm do kết án có hiệu lực về tội phạm cố ý hoặc bị xử phạt hành chính lần thứ hai trong hoạt động hành nghề mà vẫn tái phạm hoặc bị xử lý kỷ luật cảnh cáo trở lên và tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc Các quy định này nhằm đảm bảo đội ngũ công chứng viên có trình độ chuyên môn cao, đạo đức tốt, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công chứng.

Quy định pháp luật về miễn nhiệm công chứng viên

Theo quy định tại Điều 15 Luật Công chứng 2014, công chứng viên có thể được miễn nhiệm theo nguyện vọng của chính họ hoặc bị miễn nhiệm trong những trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật hiện hành Việc miễn nhiệm này nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế và đảm bảo hoạt động công chứng được diễn ra một cách hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

* Công chứng viên được miễn nhiệm trong các trường hợp sau:

- Theo nguyện vọng của công chứng viên;

- Công chứng viên chuyển làm công việc khác.

* Công chứng viên bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

- Không còn đủ tiêu chuẩn công chứng viên theo quy định tại Điều 8 của Luật này;

- Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

- Kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác;

Theo quy định, công chứng viên không hành nghề công chứng trong vòng 02 năm kể từ ngày được bổ nhiệm hoặc không liên tục hành nghề trong vòng 12 tháng trở lên được xem là vi phạm Điều này ảnh hưởng đến thời gian hoạt động hợp pháp của công chứng viên và có thể dẫn đến các điều chỉnh về hồ sơ, thủ tục công chứng Việc duy trì việc hành nghề liên tục hoặc đúng thời hạn đảm bảo tính hợp lệ của các hoạt động công chứng, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.

Hết thời hạn tạm đình chỉ hành nghề công chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật này mà lý do tạm đình chỉ vẫn còn tồn tại Người hành nghề công chứng cần được xem xét lại để đảm bảo thực hiện đúng quy trình pháp luật Việc kết thúc thời gian tạm đình chỉ không đồng nghĩa với việc tự động phục hồi hoạt động công chứng nếu lý do tạm đình chỉ vẫn chưa được giải quyết triệt để Do đó, cần có các biện pháp xử lý phù hợp để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan theo quy định của pháp luật.

Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính lần thứ hai trong hoạt động hành nghề công chứng nhưng vẫn tiếp tục vi phạm Ngoài ra, những cá nhân bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên lần thứ hai và vẫn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định Vi phạm này gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và tính chất công vụ của hoạt động công chứng, cần có chế tài xử lý mạnh để đảm bảo trật tự pháp luật.

- Bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;

- Thuộc các trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Điều 13 của Luật này tại thời điểm được bổ nhiệm.

Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị miễn nhiệm công chứng viên kèm theo đơn đề nghị miễn nhiệm của công chứng viên hoặc các tài liệu liên quan làm căn cứ để đề nghị miễn nhiệm Các bước này nhằm đảm bảo quy trình rõ ràng và minh bạch trong việc xử lý miễn nhiệm công chứng viên, gửi lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp để xem xét quyết định.

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị miễn nhiệm của công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm xem xét và đưa ra quyết định miễn nhiệm Thời hạn này đảm bảo quy trình được thực hiện kịp thời và đúng quy định pháp luật Việc quyết định miễn nhiệm công chứng viên phải dựa trên các căn cứ rõ ràng, đúng pháp luật Đây là quy định nhằm đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình xử lý thủ tục miễn nhiệm công chứng viên.

Quy định pháp luật hiện hành về việc bổ nhiệm lại công chứng viên

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì công chứng viên có thể được bổ nhiệm lại công chứng viên,quy định tại điều 16 Luật công chứng 2014:

Người được miễn nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật này có thể được xem xét bổ nhiệm lại công chứng viên khi có đề nghị bổ nhiệm lại, đảm bảo quyền lợi và tiêu chuẩn công chứng viên phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

- Người bị miễn nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 2 Điều

15 của Luật này quy định về việc xem xét bổ nhiệm lại công chứng viên, chỉ những người đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn công chứng viên theo quy định tại Điều 8 của Luật mới được xem xét Các trường hợp miễn nhiệm công chứng viên sẽ không còn áp dụng nếu lý do miễn nhiệm không còn, trừ khi có quy định đặc biệt tại khoản 3 Điều này Chính sách này nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác trong việc bổ nhiệm lại công chứng viên phù hợp với tiêu chuẩn pháp luật.

Người bị miễn nhiệm công chứng viên do bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do cố ý Họ cũng không được phép bổ nhiệm lại công chứng viên nếu bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề công chứng Ngoài ra, nếu người đó tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai và vẫn không sửa đổi, họ sẽ không đủ điều kiện để được bổ nhiệm lại công chứng viên.

* Sơ đồ tóm tắt về việc bổ nhiêm công chứng viên

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC BỔ NHIỆM CÔNG

CHỨNG VIÊN VÀ TÌNH HUỐNG MINH HỌA

1.Thực tiễn áp dụng pháp luật về việc bổ nhiệm công chứng viên và tình huống minh họa;

Những mặt đạt được

Sau gần 5 năm thực hiện Luật Công chứng 2014, số lượng công chứng viên đã tăng hơn 6 lần, từ 393 lên hơn 2.400 người, cho thấy hoạt động công chứng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong xã hội Các tổ chức hành nghề công chứng, gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng, cũng tăng gần 12 lần, từ 84 lên 1.003 tổ chức, trong đó có 128 Phòng công chứng với khoảng 875 công chứng viên, hơn 320 trong số đó là viên chức Nhờ sự mở rộng này, hoạt động công chứng đã đáp ứng nhanh chóng và hiệu quả nhu cầu của cá nhân, tổ chức, đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng giao dịch dân sự, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững, tránh gây ùn tắc và phiền hà trong quá trình ký kết hợp đồng, giao dịch.

Sau khi Luật công chứng 2014 đi vào thực tiễn, chất lượng đội ngũ công chứng viên đã được nâng cao rõ rệt Các quy định về bổ nhiệm và tiêu chuẩn công chứng viên hiện đã được quy định chặt chẽ hơn, đảm bảo yêu cầu chuyên môn cao và năng lực phù hợp Đặc biệt, thời gian đào tạo nghề công chứng đã được tăng lên thành 12 tháng, nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của công chứng viên so với trước đây Những quy định mới này góp phần thúc đẩy sự chuyên nghiệp và uy tín của ngành công chứng tại Việt Nam.

Người được miễn đào tạo nghề công chứng phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, hoặc hành nghề luật sư từ 5 năm trở lên, hoặc là giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật Các đối tượng này còn phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và đạo đức nghề nghiệp tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng viên Thời gian đào tạo nghề công chứng là 3 tháng, và người hoàn thành khóa học sẽ được cấp giấy chứng nhận Việc tham gia khóa đào tạo nghề công chứng là bắt buộc để đảm bảo nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp.

Những mặt hạn chế

Thứ nhất, vấn đề về tiêu chuẩn công chứng viên còn tồn tại những bất cập, đặc biệt là quy định cần "Có sức khỏe bảo đảm hành nghề công chứng" Tuy nhiên, tiêu chuẩn này vẫn chưa đủ để đảm bảo chất lượng và uy tín của nghề công chứng, đòi hỏi phải có những cải tiến và bổ sung phù hợp nhằm nâng cao năng lực và trách nhiệm của công chứng viên.

Điều 8 Luật công chứng 2014 gây ra nhiều hiểu lầm về tiêu chuẩn sức khỏe để hành nghề công chứng, như thế nào là đảm bảo sức khỏe và độ tuổi phù hợp Thực tế cho thấy nhiều công chứng viên được bổ nhiệm khi đã cao tuổi, do chuyển ngành hoặc về hưu, không còn khả năng phát huy hiệu quả công việc, gây ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý và uy tín của nghề công chứng.

Để được bổ nhiệm công chứng viên, người ứng tuyển cần có bằng cử nhân Luật hoặc trình độ tương đương, nhất là đối với những trường hợp được đào tạo ở nước ngoài Ngoài ra, yêu cầu về thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức, Bộ Tư pháp cũng là điều kiện bắt buộc, bao gồm những người thực hiện nhiệm vụ chuyên môn pháp lý tại các cơ quan như Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, tổ chức pháp chế của các Bộ, ngành hoặc các cơ quan, tổ chức khác có công tác pháp lý Tuy nhiên, việc xác định thời gian công tác này theo Điều 8 Luật công chứng viên 2014 chưa đủ rõ ràng, đặc biệt là các trường hợp có thời gian công tác không liền mạch nhưng tổng cộng đạt đủ 5 năm.

Luật công chứng 2014 quy định về thời gian tập sự hành nghề công chứng là 12 tháng đối với người có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng và 6 tháng đối với người có giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng, nhưng chưa quy định rõ ràng về thời gian này, dẫn đến các công chứng viên lợi dụng kẽ hở để thực hiện “tập sự đối phó” bằng cách lập khống giấy tờ và hồ sơ thể hiện quá trình tập sự Các hồ sơ giả mạo này được hợp pháp hóa bằng xác nhận của công chứng viên và đóng dấu tổ chức hành nghề công chứng để lừa dối cơ quan Nhà nước, nhằm tham gia kiểm tra kết quả tập sự và hợp thức hóa tài liệu để bổ nhiệm công chứng viên không đúng quy định.

Theo quy định tại điểm d Điều 15 của Luật công chứng năm 2014, nếu công chứng viên không hành nghề công chứng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày được bổ nhiệm hoặc không hành nghề công chứng liên tục trong thời gian dài, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét thu hồi hoặc huỷ bỏ giấy phép hành nghề công chứng của họ Việc này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp và uy tín của hoạt động công chứng, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.

Quy định "12 tháng trở lên" vẫn còn thiếu sót và chưa đầy đủ, đặc biệt trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp Hiện nay, việc áp dụng quy định này chưa thực sự hợp lý, vì nhiều công chứng viên hoạt động công tác hoặc du lịch ở nước ngoài khi dịch bệnh xảy ra, không thể về nước liên tục trong 12 tháng Do đó, quyết định này cần xem xét lại để phù hợp với tình hình thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác công chứng trong bối cảnh dịch bệnh.

Tình huống minh họa

Ông Phúc không tham gia tập sự hành nghề công chứng tại tỉnh Bình Phước, mặc dù có hồ sơ đăng ký kiểm tra kết quả tập sự do Sở Tư pháp tỉnh này gửi đến Tuy nhiên, Sở Tư pháp khẳng định toàn bộ hồ sơ của ông Phúc đều là hồ sơ khống, bao gồm giấy đăng ký, xác nhận, nhật ký tập sự và báo cáo kết quả Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước nhận định rằng ông Phúc đã lập khống toàn bộ giấy tờ thể hiện quá trình tập sự hành nghề công chứng, sau đó hợp pháp hóa hồ sơ bằng xác nhận của công chứng viên và con dấu tổ chức hành nghề công chứng, nhằm lừa đảo cơ quan Nhà nước để tham gia kiểm tra và hợp thức hóa tài liệu, nhằm mục đích được bổ nhiệm làm công chứng viên.

6 https://danviet.vn/2-doi-tuong-lap-khong-ho-so-tap-su-hanh-nghe-cong-chung-77771013777.htm

2.Nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị quy định pháp luật về việc bổ nhiệm công chứng viên;

Nguyên nhân

Một trong những nguyên nhân chính gây ra hạn chế và bất cập trong hoạt động công chứng là các quy định của Luật công chứng năm 2014 đã trở nên không còn phù hợp hoặc thiếu sót nhằm đáp ứng thực tiễn Cụ thể, luật này chưa quy định đầy đủ về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chứng viên, đồng thời quy trình bổ nhiệm còn dễ dãi và thiếu quy định về giới hạn độ tuổi hành nghề Những điểm yếu này đã dẫn đến những hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động công chứng và sự phát triển của lĩnh vực này.

Giải pháp,kiến nghị

Để nâng cao chất lượng và bảo đảm sự phát triển bền vững của đội ngũ công chứng viên, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện bổ nhiệm, trong đó xác định rõ hơn địa vị pháp lý của công chứng viên và quy định về sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cùng tổ chức xã hội - nghề nghiệp Việc tăng thời gian đào tạo nghề công chứng và sửa đổi quy định về tập sự hành nghề nhằm đảm bảo chất lượng, trong đó không miễn đào tạo nghề mà chỉ giảm thời gian tập sự đối với các đối tượng được miễn trước đây Ngoài ra, việc bổ sung quy định về kiểm tra kết quả tập sự hành nghề, tổ chức kiểm tra định kỳ và quy định công chứng viên chỉ được hành nghề đến 65 tuổi góp phần nâng cao tiêu chuẩn và đảm bảo chất lượng dịch vụ công chứng.

Để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cho công chứng viên, cần quy định rõ ràng rằng họ phải có bằng cử nhân luật được đào tạo tại Việt Nam theo quy định pháp luật Việt Nam Về yêu cầu về kinh nghiệm, hiện hành quy định phải có ít nhất 05 năm công tác pháp luật, nhưng cần điều chỉnh để yêu cầu phải có trên 05 năm làm giúp việc nghiệp vụ trực tiếp cho công chứng viên hoặc làm việc tại tổ chức hành nghề công chứng, cùng với đó là có 05 năm công tác liên tục tại các cơ quan, tổ chức Điều này nhằm thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa những kinh nghiệm tích lũy trong thời gian này với công việc của công chứng viên sau này.

Để thể hiện tính nghiêm minh và chặt chẽ của quy định pháp luật về tập sự hành nghề công chứng, cần điều chỉnh và bổ sung quy định: Thời gian tập sự hành nghề công chứng là 12 tháng liên tục đối với người có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng và 06 tháng liên tục đối với người có giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng, tính từ ngày đăng ký tập sự Những đối tượng không thực hiện tập sự hành nghề công chứng mà lập khống toàn bộ giấy tờ, hồ sơ để lừa dối cơ quan Nhà nước (Sở Tư pháp và Bộ Tư pháp) nhằm tham gia kiểm tra kết quả tập sự, hợp thức hoá tài liệu để bổ nhiệm công chứng viên cần bị xử lý nghiêm khắc và công khai cảnh báo trên các phương tiện truyền thông, báo mạng, đồng thời thông báo đến các Văn phòng công chứng để ngăn chặn các hành vi trái pháp luật.

Thứ tư,quy định pháp luật tại điểm d Điều 15 của Luật công chứng năm

Năm 2014, luật đã được điều chỉnh, bổ sung quy định về việc không hành nghề công chứng trong vòng 2 năm kể từ ngày được bổ nhiệm hoặc không hành nghề công chứng liên tục từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh Điều này thể hiện tính nhân văn và sự linh hoạt của pháp luật nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi và sự an toàn cho các công chứng viên cũng như người dân.

Ngày đăng: 13/01/2023, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm