1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kỹ năng công chứng viên nhận dạng ký, chữ viết, con dấu

28 909 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kỹ năng công chứng viên nhận dạng chữ ký, chữ viết con dấu, trong hoạt động công chứngTrong xã hội ngày nay thuật ngữ tài liệu giấy tờ, chữ ký, con dấu được sử dụng rất phổ biến đó là vật phẩm do con người tạo ra mà ở chúng chứ đựng giá trị tinh thần hoặc những giá trị vật chất nhất định. Đồng thời chúng phải ánh lượng thông tin về sự việc, sự kiện pháp lý, con người. Đặc biệt trong lĩnh vực công chứng, giấy tờ là đối tượng được chứng nhận và cũng có thể là vật chứa đựng căn cứ pháp lý để chứng nhận các giao dịch khác

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Trong xã hội ngày nay thuật ngữ tài liệu giấy tờ, chữ ký, con dấu được sử dụngrất phổ biến đó là vật phẩm do con người tạo ra mà ở chúng chứ đựng giá trị tinhthần hoặc những giá trị vật chất nhất định Đồng thời chúng phải ánh lượng thôngtin về sự việc, sự kiện pháp lý, con người Đặc biệt trong lĩnh vực công chứng, giấy

tờ là đối tượng được chứng nhận và cũng có thể là vật chứa đựng căn cứ pháp lý đểchứng nhận các giao dịch khác Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Công

chứng 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Bằng hoạt động công chứng của mình, công chứng viên góp

phần bảo đảm an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợpđồng, giao dịch qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp phápcủa cá nhân, tổ chức Thông qua hoạt động công chứng, công chứng viên là ngườigóp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầucông chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa vi phạmpháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công chứng, chứng thực trong nhữngnăm gần đây thì tình trạng giả mạo trong hoạt động này cũng ngày một tăng cao,việc giả mạo giấy tờ, tài liệu, con dấu trong hoạt động công chứng rất đáng lo ngại

và đã gây nên hậu quả nặng nề cho xã hội Đã có những trường hợp một người dùngmột hoặc nhiều tài sản (thật hoặc ảo) với giấy tờ giả, thủ đoạn khác nhau đã lừađược hàng chục lần, chiếm đoạt tài sản của nhiều cá nhân, tổ chức và đã “qua mặt”được nhiều Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng khác nhau,…

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng,giao dịch, công chứng viên cần phải trang bị tốt cho bản thân những kỹ năng cơ

Trang 2

Việc xác định “đúng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu” là yêucầu quan trọng nhất đối với hoạt động công chứng Việc xác định đúng, chính xácchữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu trong hoạt động công chứng khôngnhững tạo điều kiện cho công chứng viên có thể xác định đúng chủ thể, khách thểcủa hợp đồng, giao dịch mà còn ngăn ngừa những trường hợp mạo danh, lừa đảo…

Từ những trình bày ở trên, sau khi được học lớp đào tạo nghề công chứngKhoá 21 tại Học viện tư pháp cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi chọn chuyên đề:

“Những kỹ năng công chứng viên cần sử dụng để việc nhận dạng chữ viết, chữ

ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu” để làm rõ hơn và giúp công chứng viên hoàn

thành tốt nhiệm vụ của mình, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch cũng nhưcác văn bản công chứng và bảo đảm an toàn pháp lý cho bản thân

1.2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của báo cáo là nghiên cứu các kỹ năng công chứng viên cần sửdụng để nhận dạng nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu Đánhgiá ưu điểm, hạn chế bất cập của quy định pháp luật về việc nhận dạng chữ viết,chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu trong hoạt động công chứng Trên cơ sở đó đềxuất các biện pháp, giải pháp nhằm thúc đẩy việc hoàn thiện pháp luật và các kỹnăng cần có để tuỳ theo yêu cầu cụ thể Công chứng viên có thể áp dụng tổng hợpcác phương pháp nhận dạng khác nhau

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của báo cáo tập trung vào các vấn đề:

Nghiên cứu quy định của pháp luật về nhận dạng kỹ năng về nhận dạng chữviết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu;

Nghiên cứu cơ sở khoa học, phương pháp nhận dạng kỹ năng về nhận dạngchữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu;

Nghiên cứu các đặc điểm, thực tiễn của quy định pháp luật về nhận dạng kỹnăng về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu;

Trang 3

Nghiên cứu nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị về công tác nhận dạng conngười trong hoạt động công chứng, đề xuất biện pháp nhằm tăng cường một số kỹnăng nhận dạng kỹ năng về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tàiliệu đối với Công chứng viên trong thời gian tới.

1.2.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là các quy định về nhận dạng kỹ năng vềnhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu và một số kỹ năng cầnthiết để Công chứng viên sử dụng nhận dạng kỹ năng về nhận dạng chữ viết, chữ

ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu trong hoạt động công chứng, trong đó tập trungvào một số nội dung chủ yếu như: Cơ sở khoa học của nhận dạng chữ viết, chữ ký,con dấu trong giấy tờ tài liệu; những phương pháp nhận dạng chữ viết, chữ ký, condấu trong giấy tờ tài liệu

1.3 Cơ cấu của bài báo cáo

Báo gồm có Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Tài liệu tham khảo Trong đó,Nội dung của báo cáo được chia thành 05 phần như sau:

Phần I Quy định của pháp luật về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong

giấy tờ tài liệu

Phần II Cơ sở khoa học, phương pháp nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu

trong giấy tờ tài liệu

Phần III Đặc điểm về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài

liệu

Phần IV Thực tiễn của quy định pháp luật về nhận dạng chữ viết, chữ ký,

con dấu trong giấy tờ tài liệu

Phần V Nguyên nhân, giải pháp, kiến nghị về việc nhận dạng chữ viết, chữ

ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu

Trang 4

Phần I Quy định của pháp luật về nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong giấy tờ tài liệu

1.1 Khái niệm

Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợppháp của hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phảicông chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện theo yêu cầu công chứng

Bằng hoạt động công chứng của mình, công chứng viên góp phần bảo đảm

an toàn pháp lý trong quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh, thương mại và cácquan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giaodịch cũng như cho các văn bản công chứng và bảo đảm an toàn pháp lý cho bảnthân, trước hết, mỗi công chứng viên phải có kỹ năng nhận dạng chữ viết, chữ ký,con dấu trong tài liệu, giấy tờ có liên quan đến việc công chứng

Trong xã hội, thuật ngữ tài liệu, giấy tờ được sử dụng khá phổ biến, đó lànhững vật phẩn do con người tạo ra mà ở chúng chứa đựng những giá trị tinh thầnhoặc những giá trị vật chất nhất định Đồng thời, chúng phản ánh một lượng thôntin nhất định về sự việc, con người Đặc biệt, trong lĩnh vực công chứng, tài liệu,giấy tờ có thể là đối tượng được chứng nhận và cũng có thể là vật chứa đựng căn cứpháp lý để chứng nhận các giao dịch khác

Thực tế cho thấy, giấy tờ là phương tiện được sử dụng rộng rãi trong cácquan hệ xã hội, nó gắn liền với mọi lĩnh vực hoạt động của mỗi người Chính vìvậy, trong mỗi hoạt động công chứng, công chứng viên và nhân viên nghiệp vụphải phát hiện được tài liệu, giấy tờ nào là phương tiện để cá nhân, tổ chức thựchiện hành vi trái pháp luật, tài liệu giấy tờ nào là đối tượng bị xâm hại

Trang 5

Tình trạng hiện nay việc các đối tượng làm giả bản chính văn bằng, chứngchỉ, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản giả rất nhiều và các đối tượng làm ra đểlừa dối những cơ quan hữu quan trong việc tuyển dụng, bổ nhiệm, chuyển dịchquyền sở hữu,… là phương tiện thực hiện hành vi trái pháp luật và đạo đức xã hội.Còn văn bằng, chứng chỉ thật bị đối tượng cạo sửa, lồng ghép nội dung để làm thayđổi một phần hay toàn bộ nội dung để sử dụng vào mục đích bất hợp pháp lại là đốitượng bị xâm Dù có là phương tiện hay đối tượng bị xâm hại thì mục đích chínhcủa thủ phạm là tạo ra giấy tờ, tài liệu bất hợp pháp để sử dụng vào các mục đíchriêng của chúng mà không được xã hội chấp nhận.

Việc nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong các tài liệu, giấy tờ có liênquan đến việc công chứng khá giản đơn và khác hẳn công tác nghiên cứu giám địnhtài liệu trong khoa học kỹ thuật của nhiều lĩnh vực như: tâm lý học, sinh lý học,ngôn ngữ học, hoá học, vật lý học, toán học,… để phân loại, điều tra, phòng chốngtội phạm

1.2 Nhận dạng chữ viết

1.2.1 Sơ lược về chữ viết

Con người chúng ta nhờ có lao động và thông qua lao động mà tiếng nói vàchữ viết của con người được hình thành và phát triển, việc hình thành chữ viết làmột quá trình phát triển lâu dài Chữ viết đầu tiên khá đơn giản, chỉ gồm nhữngđường nét đơn điệu, hoặc là những nét vẽ tượng trưng có khả năng biểu đạt tưtưởng của con người và phản ánh được hiện thực khách quan của thế giới Cùngvới tiến trình phát triển của lao động, tiếng nói và chữ viết cũng phát triển và hoànthiện như ngày nay

Đến nay, trên thế giới đã hình thành và phát triển chữ viết theo 4 hệ chữ cơbản sau:

Trang 6

Hệ chư Slôven: Nga, Bungari, Nam Tư,…

Hệ chữ tượng hình: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên,…

Hệ chữ Ai Cập: Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Campuchia,…

Có thể nói, chữ viết là hệ thống những đường nét liên kết với nhau theo mộtquy tắc nhất định, do một dân tộc, một quốc gia hay một tập đoàn người quy ướcvới nhau dùng làm phương tiện để tư duy, trao đổi và lưu trữ thông tin,… phục vụcho đời sống con người và sự phát triển của xã hội

1.2.2 Sự hình thành chữ viết ở một người:

Chữ viết ở mỗi con người được hình thành không phải do bẩm sinh mà doquá trình luyện tập có ý thức, lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành một phản xạ cóđiều kiện Phản xạ ấy được tạo ra bởi có sự tham gia chủ yếu của não và các cơquan khác do não điều khiển Có thể nói, chữ viết vừa là sản phẩn, vừa là phươngtiện vật chất để biểu đạt ngôn ngữ của con người

Thông thường, trẻ em 6 tuổi có khả năng học tập để hiểu biết chữ viết Mớiđầu trẻ quan sát từng chữ cái, sau đó chúng tập đọc và tập viết thêm mẫu chữ tiêuchuẩn, rồi ghép vần và tiến tới ghép thành câu Sự hoạt động được lặp đi lặp lạinhiều lần theo một hình thức nhất định sẽ tạo thành những thói quen, những thóiquen đó chính là những phản xạ có điều kiện và khi đó chữ viết sẽ được con ngườitạo ra một cách tự động Quá trình tự động hoá khi viết của mỗi người đã tạo ramẫu chư riêng ngày càng khác xa với mẫu chữ tiêu chuẩn trong sách vở và có tính

ổn định ở mỗi người Chính sự khác biệt mẫu chữ này là đặc điểm riêng của chữviết, tập hợp những đặc điểm riêng đó lại sẽ biểu hiện tính đặc trưng dạng chữ củatừng người

Khi chữ viết đã được hình thành ở mỗi người, với chức năng là phản xạ cóđiều kiện thì dạng chữ có hai tính chất cơ bản là tính riêng biệt và tính ổn định

Trang 7

Tính riêng biệt: Là biểu hiện sự khác biệt giữa chữ viết của người này với

người khác Viết là cả một quá trình hoạt động phối hợp khá phức tạp của cả một hệthống các cơ quan trong cơ thể con người dưới sự chỉ huy của hệ thần kinh trungương là vỏ não Mỗi người là một cơ thể riêng biệt khác nhau cả về thể chất lẫn tâm

lý và tinh thần, các yếu tố đó tạo nên sự hác biệt trong chữ viết của mỗi người.Ngoài ra, sự hình thành chữ viết ở mỗi người còn phụ thuộc vào yếu tố giáo dục,điều kiện và cơ sở vật chất của người học viết Vì vậy, ở mỗi người có một kiểuchữ viết riêng biệt không thể giống với người khác

Tính ổn định tương đối: Chữ viết có tính bền vững tương đối cũng giống

như một thói quen, khi đã hình thành thì việc phá bỏ thói quen không phải là dể.Chữ viết khi đã trở thành thói quen của mỗi người thì có tính ổn định trong mộtthời gian khá dài, nhất là ở tuổi trưởng thành của mỗi người Tuy vậy, chữ viết cũng

có thể bị biến đổi ít nhiều do viết trong trạng thái tâm sinh lý khác thường, điềukiện viết khác thường,… Ngoài ra, còn có trường hợp cố ý làm biến đổi dạng chữcủa mình, song chữ viết dù có bị biến đổi do khách quan hay chủ quan thì nhữngđặc điểm cơ bản có tính riêng biệt của mỗi người vẫn tồn tại

Hai đặc tính cơ bản trên là cơ sở khoa học quan trọng quyết định tính chínhxác của việc nhận dạng chữ viết tay

1.2.3 Đặc điểm của dạng chữ

Việc xác định những đặc điểm của dạng chữ giúp cho công chứng viên cóniềm tin nội tâm vững chắc hơn khi công chứng hoặc từ chối công chứng một vănbản nào đó

Đặc điểm chung: Là những đặc điểm biểu thị tính chất chung nhất, những nétkhái quát nhất của hệ thống chuyển động dạng chữ của một người Những đặc điểm

đó bao gồm:

Trang 8

 Mức độ điêu luyện của dạng chữ: Đặc điểm này phản ánh khả năng thực hiện

các chuyển động chữ viết của một người nhanh hay chậm, tự động hay không tựđộng Mức độ điêu luyện của dạng chữ nói chung tương đối bền vững, nó chỉ cóthể bị thay đổi theo chiều từ cao xuống thấp, chứ không thể thay đổi theo chiềungược lại trong một thời gian ngắn, trừ khi có sự luyện tập lâu dài

Như vậy, đối với những tài liệu bị lồng ghép, sửa chữa hoặc bị bắt chước,viết lại, công chứng viên phải đặc biệt lưu ý đến sự tự nhiên của nét chữ để đánhgiá mức độ điêu luyện của chữ viết trong những tài liệu đó

 Cấu trúc chung của dạng chữ

Khi mỗi người đã có khả năng viết tương đối thuần thục thì dạng chữ củangười đó sẽ thuộc một dạng cấu trúc nhất định Dạng cấu trúc này là đặc điểmtương đối bền vững Cấu trúc chung của dạng chữ có 3 loại: Chân phương, đơngiản và phức tạp

 Chiều hướng của trục chữ có 3 loại: thẳng đứng, nghiêng phải và nghiêngtrái

 Độ lớn của chữ: Chủ yếu là tính theo chiều cao của chữ, chữ to từ 5mm trởlên, chữ nhỏ từ 2mm trở xuống và chữ trung bình

 Độ liên kết của chữ: Đó là khả năng liên kết giữa các chữ cái trong cùng một

từ, có 3 mức độ liên két: cao, thấp, trung bình

 Dạng chuyển động và hướng chuyển động: Khi viết, các đường nét chữ ởmỗi người thể hiện một dạng chuyển động nhất định và theo một hướng nhất định.Với những hiểu biết một cách khái quát về đặc điểm của chữ viết công chứngviên có thể căn cứ vào một đặc điểm hay một số đặc điểm để đánh giá tính xác thựccủa văn bản

1.3 Nhận dạng chữ ký

Trang 9

Đại đa số, mỗi người khi đã biết viết đều tự tạo cho mình một chữ ký, thậmchí có người không biết chữ cũng có chữ ký.

Chữ ký là một dạng đặc biệt của chữ viết, nó không tuân theo một quy luậtnhất định mà là một quy ước riêng cho mỗi người nhằm xác nhận văn bản, giấy tờcủa người khác (chủ yếu là những người có thẩm quyền)

Chữ ký có trên giấy tờ, tài liệu có nhiều tác dụng khác nhau: có chữ ký làmcho tài liệu có giá trị pháp lý, có chữ ký chỉ nhằm xác nhận một sự kiện nào đó,…

Chữ ký có thể thay đổi theo từng thời gian và do ý muốn của người ký,nhưng nó vẫn mang tính ổn định nhất định có tính đặc trưng của người tạo ra nó.Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy bên cạnh việc giả mạo chữ viết, con dấu,bọn tội phạm còn giả mạo cả chữ ký trong văn bản giấy tờ, tài liệu để thực hiệnmục đích của chúng Do vậy, việc nhận dạng chữ ký cũng phải dựa trên các nguyêntắc và phương pháp của việc giám định cữ viết tay

Bọn tội phạm thường có nhưng thủ đoạn gia mạo chữ chứ như sau:

- Cố ý làm thay đổi chữ ký của mình: Với mục đích để phục nhận việc mình

đã ký trong một văn bản nào đó, thủ phạm đã cố ý thay đổi chữ ký của mình bằngcách tạo ra một dạng chữ ký khác

Ví dụ: A có đơn kiến nghị ngăn chặn việc B chuyển dịch tài sản thuộc quyền

sở hữu của B, đơn được in sẵn, A ra Uỷ ban nhân dân xã xin chứng thực chữ ký.Nhưng với mục đích nhằm gây thiệt hại cho B, A đã cố tình tạo ra một chữ ký khác.Khi bị truy cứu trách nhiệm, A sẽ phủ nhận chữ ký đó để lẫn tránh trách nhiệm

Dạng chữ ký này có đặc điểm là: Tốc độ chuyển động chậm chạp so với chữ

ký thường sử dụng, có sự sai khác phần đầu và cuối chữ ký, hình dáng nói chunghơi giống và trong chữ ký còn tồn tại nhiều đặc điểm riêng của chữ ký thật

- Tạo ra chữ ký người khác (bắt chước)

Trang 10

Chữ ký được tạo ra bằng thủ đoạn này nói chung đường nét tương đối tựnhiên, lưu loát Song, rất nhiều đặc điểm từ hình dáng chung đến các chi tiết đềukhác chữ ký thật.

- Ký giả theo mẫu có sẵn: Thủ đoạn này có hai hình thức là tập cho quen để

ký và nhìn ký

Chữ ký được luyện tập nhiều lần rồi mới ký có đặc điểm: Hình dáng chungtương đối giống chữ ký thật, tốc độ chuyển động nhanh, một só đặc điểm chung vàriêng giống chữ ký thật Tuy nhiên, vẫn tồn tại những chi tiết khác chữ ký thật ởchỗ: trực chữ, mối tương quang giữa các đường nét, đặc điểm liên kết, hướngchuyển động phức tạp

Chữ ký được ký bằng cách nhìn để ký: Nói chung dể nhận dạng vì có nhữngđặc điểm tốc độ chậm chạp, đường nét run, gãy, gai đậm, có nhiều điểm dừng bút

vô lý Tuy vậy, độ lớn của chữ ký giả tương đối giống chữ ký thật

Ký giả theo trí nhớ: Người ký đã từng quan sát chữ ký thật, chưa có sự luyệntập, khi ký thông có mẫu chữ ký thật để bắt chước Đặc điểm nhận dạng chữ ký này

là chữ ký có phần giống chữ ký thật, tốc độ ký nhanh Nhưng có đặc điểm riêngbiệt là: hướng chuyển động, mối tương quan giữa các nét, nét thừa hoặc thiếu khácbiệt so với chữ ký thật

- Ngoài các thủ đoạn trên, bọn tội phạm còn có thủ đoạn đồ, tô và vẽ chữ ký

Cụ thể là đồ chữ ký qua ánh sáng ngược Đồ qua giấy than hoặc gây vết hằn bằngcách dùng vật nhọn như que, bút bi, bút chì,… tô theo mẫu chữ ký thật, tạo chữ kýgiả, sau đó tô theo mực giấy than hoặc theo vết hằng bằng bút mực Việc vẽ mẫuchữ ký thật thường là bằng bút chì, sau đó tô lại bằng bút mực Đặc điểm nhận dạngcác loại chữ ký này là các đường nét chuyển động chậm chạp, thiếu tự nhiên, congqueo, nét bắt đầu và kết thúc không sắc gọn, mức độ ấn bút đều, nhiều điểm dừngbút vô lý

Trang 11

1.4 Nhận dạng chữ trong văn bản in

Trong thực tiễn hoạt động công chứng, công chứng viên phải tiếp xúc với đa

số văn bản có chữ in, in toàn bộ, in xen kẽ với chữ viết tay hoặc in từng phần

Chữ in trong các văn bản mà ta thường gặp được tạo nên bởi nhiều phươngpháp:

- Đánh máy: Có nhiều loại máy, nhiều nước chế tạo dẫn đến chữ khác nhau,khoảng cách giữa các chữ với chữ, giữa dòng với dòng khác nhau, người đánh máy

có thói quen, kỹ năng khác nhau, độ mòn của chữ khác nhau, màu sắc, độ đậm củaruy băng, giấy than khác nhau

- In ty pô (phổ biến là in bằng chữ đúc, xếp thành khuôn in): Đặc điểm cácnét chữ trên tài liệu có vết hằn, mặt trước lõm xuống, mặt sau lồi; độ tương phảncao nổi rõ vì mực in trực tiếp in lên tài liệu

- In ốp xét, đây là phương pháp in gián tiếp, hình ảnh nét chữ trên khuôn in

in lên cao su, sau đó từ cao su in sang giấy vì vậy không có độ hằng, lõm, lồi như in

ty pô

Ngoài các phương pháp trên, còn rất nhiều phương pháp in điện từ rất hiệnđại, hiện nay rất phổ biến trong hoạt động văn phòng là in bằng lazer, in kim Cácphương pháp này in cũng cho các dạng chữ in khác nhau với các phông chữ và độđậm của mực cũng khác nhau

Trong công tác nghiệp vụ công chứng, mỗi chúng ta có ý thức so sánh sẽphát hiện ra những điểm không bình thường trên một bản in

Ngoài các phương pháp in trên đây, hiện nay có một phương pháp in phổbiến đến mức bình dân là photocopy, tiện ích của nó rất lớn, song rất dể bị lạmdụng Trong công tác nghiệp vụ, hàng ngày những cán bộ công chứng phải tiếp xúcvới nhiều bản photocopy nhất là việc chứng nhận bản sao

Trang 12

Đặc điểm của bản copy là phản ánh như thật bản gốc, thậm chí giống ychang bản chính nếu mực tốt và máy photocopy còn mới, dạng chữ được giữnguyên, cỡ chữ bằng cỡ chữ trong bản gốc nếu khi photocopy đặt ở chế độ 100%.Tuy nhiên, cũng dể so sánh để tìm ra đặc điểm của bản copy là chữ hạt hơn, nét chữkhông đều và nét, trên mặt giấy có những dấu vết riêng do máy hoặc mựcphotocopy để lại,…

Một số thủ đoạn giả mạo giấy tờ, tài liệu in

- Giả mạo toàn bộ: Thủ phạm thường dùng thủ đoạn này để làm ra một haynhiều tài liệu giả Phổ biến nhất là chúng thường dùng biện pháp in lưới hoặc bảnkhắc gỗ để làm ra phôi giấy tờ tài liệu theo mẫu có sẵn, sau đó điền nội dung cầngiả mạo vào Ngoài ra, thủ phạm có thể dùng bản photocopy có chất lượng mực inkém hoặc chụp nhưng cố tình không sấy khô để sau khi được chứng nhận, thủphạm xoá sạch phần nội dung, chỉ để lại con dấu và chữ ký của công chứng viên,sau đó in hoặc photocopy nội dung giả vào để sử dụng

Các giấy tờ thường gặp là văn bằng, chứng chỉ, các giấy tờ về hộ tịch, giấychứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan, tờ khai nguồn gốc xe nhập khẩu,… Cáchlàm giả này thường bộc lộc một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Các đường nét không liên tục, nhất là các hoa văn

Các đường nét không sắc gọn, màu sắc tổng thể lẫn chi tiết của tài liệu khácvới mẫu thật

Dấu chìm trên tài liệu không sắc, chữ in trong dấu có khoản cách, mẫu chữkhông đều

Do phương pháp chế bản khác nhau nên kiểu chữ khác kiểu chữ ở tài liệuthật

- Giả mạo từng phần:

Trang 13

Trên cơ sở tài liệu in thật, thủ phạm có thể in thêm, dán đè hoặc viết thêmvào tài liệu đó Thậm chí, chúng còn dùng thủ đoạn lồng ghép, cắt cúp rất tinh xảo.

Tuy nhiên thủ đoạn này vẫn bộc lộ những đặc điểm để chúng ta nhận dạngnhư: Khoảng cách, hình dạn chung, độ đậm nhạt, độ sắc nét, khoảng cách giữa cácdòng,…không thể giống tài liệu chính một cách tuyệt đối được Đối với những bảnphotocopy, nếu có sự cắt cúp thường để lại những dấu vết khác biệt như độ đậmcủa mực rất khác nhau, xung quanh đoạn bị cắt cúp thường xuất hiện viền mờ,…

Ngoài ra, thủ phạm có thể in nội dung giả mạo vào bản cần công chứng, sau

đó đặt phần nội dung thật và dán ờ lên trên đủ che kính phần nội dung giả mạo.Nếu chúng ta không phát hiện ra, sau khi được chúng nhận thì thủ phạm sẽ bócphần dán đi để sự dụng một phần giả mạo trong tài liệu thật Thủ đoạn này thườngthấy ở những tài liệu có nhiều số, nhiều cột, mục hoặc tài liệu có nhiều trang

Phần II Một số đặc điểm để nhận dạng chung cho giấy tờ, tài liệu viết tay và in

2.1 Đối với thủ đoạn cắt dán

Những vết hoen ố, ẩm ướt, nổi cộm của hồ dán và giấy dán Phía sau tài liệuchỗ bị dán có màu sắc hoặc bị nhăn hoặc co ngót khác thường

Đường chân chữ và số không thẳng, trục chữ và số không thống nhất,khoảng cách không đều, có sự sai lệch

2.2 Đối với thủ đoạn tẩy xoá

* Tẩy xoá bằng cơ học

Làm mất nội dung cần tẩy xoá bằng dụng cụ như: tẩy cao su, mũi dao hoặcvật nhọn khác

Đặc điểm về nhận dạng: Mặt tài liệu bị mất độ bóng do có nhiều vết trầy

Trang 14

Chữ mới viết lên chỗ tảy xoá bị nhoè, độ đậm khác thường Có thể còn sótlại những nét chữ cũ chưa tẩy hết.

Cách nhận dạng: Trước hết dùng mắt thường, dùng ánh sáng chiếu xiên,chiếu ngược, chiếu xuyên, kính lúp, kính hiển vi hoặc dùng bột màu nhỏ mịn lángnhẹ lên chỗ nghi bị tẩy xoá Ngoài ra người ta còn dùng đèn cực tím để soi, chỗ bịtẩy sẽ phát quang

 Tẩy xoá bằng hoá chất

Làm mất nội dung tài liệu bằng tác động hoá hoạc của một số hoá chất như:thuốc tím, clo, một số axit loãng, rượu, cồn,…

Hình thức tẩy:

- Tẩy từng phần: Tẩy từng phần sẽ để lại vết loang và màu sắc giấy ở chỗ bịtẩy bị thay đổi, nét chữ cũ bị phai nhạt, chữ viết vào chỗ tẩy sẽ bị nhoè, độ đậmkhác thường, chỗ bị tẩy sẽ phát quang dưới ánh đèn cực tím

- Tẩy toàn bộ: Nhúng toàn bộ tài liệu (trừ phần con dấu và chữ ký nếu có)vào dung dịch chất tẩy, sau đó làm khô

Đặc điểm nhận dạng: Giấy có thể bị co lại, mặt giấy có nhiều nếp nhăn, độbóng tự nhiên bị giảm độ thẩm thấu mực viết, in cao hơn Giấy có thể bị bở hơn do

bị tác động của hoá chất, màu sắc giấy nhợt nhạt, không tự nhiên

Cách nhận dạng: Trước hết dùng mắt thường, dùng ánh sáng chiếu xiên,chiếu ngược, chiếu xuyên Ngoài ra người ta còn dùng đèn cực tím để soi

2.3 Nhận dạng hình dấu giả trong giấy tờ, tài liệu

Trong đại đa số các giao dịch, một tài liệu, giấy tờ được ký và đóng dấu cóthể nói là một điều kiện, một đặc trưng thể hiện tính hợp pháp của tài liệu, giấy tờ

đó Trong nhiều trường hợp, hình thức con dấu đã có tác dụng cũng cố lòng tin

Ngày đăng: 18/08/2020, 08:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w