1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kinh tế học về sự phát triển bền vững

6 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế học về sự phát triển bền vững
Tác giả Jeffrey D. Sachs
Trường học Đại học Columbia
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Thành phố Paris
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 162,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sachs, Giáo Sư về lĩnh vực Phát Triển Bền Vững, Giáo Sư về Chính Sách Sức Khỏe và Quản Lý, giữ chức Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Trái Đất tại Đại Học Columbia, kiêm Chuyên Gia Tư V ấn Đặc Bi

Trang 1

Kinh tế học về sự phát triển bền vững

Jeffrey D Sachs (1954 -)

Kinh tế học về sự phát triển bền vững

Về Jeffrey D Sachs

Jeffrey D Sachs, Giáo Sư về lĩnh vực Phát Triển Bền Vững, Giáo Sư về Chính Sách Sức Khỏe và Quản Lý, giữ chức Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Trái Đất tại Đại Học Columbia, kiêm Chuyên Gia Tư V ấn Đặc Biệt cho Tổng Thư Ký Liên Hi ệp Quốc về Các Mục tiêu Thiên Niên Kỷ (Millennium Development Goals - MDGs) Các tác ph ẩm của ông gồm The End of

Poverty (Đoạn Cuối Của Sự Nghèo Đói), Common Wealth (Th ịnh Vượng Chung), và gần đây nh ất là The Age of Sustainable Development (K ỷ

Nguyên của Sự Phát Tri ển Bền Vững)

Kinh Tế Học Về Sự Phát Triển Bền Vững

PARIS - Hiện tồn tại hai trư ờng phái có xu hư ớng thống trị các cuộc tranh luận đương thời trong kinh t ế học Theo các kinh t ế gia thuộc trường phái thị trường tự do, chính phủ nên cắt giảm thuế, nới lỏng các quy đ ịnh, cải cách luật lao động, rồi tiếp đến là đứng sang m ột bên để cho ngư ời tiêu

Trang 2

dùng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và ngư ời sản xuất tạo ra công ăn vi ệc làm Theo kinh t ế học thuộc trường phái Keynesian, chính ph ủ nên thúc đẩy tổng cầu thông qua bi ện pháp n ới lỏng định lượng và chính sách kích thích tài khóa Tuy nhiên, không cách ti ếp cận nào đang mang l ại kết quả khả quan Chúng ta c ần kinh tế học mới về sự phát triển bền vững, mà theo đó, chính phủ thúc đẩy các loại hình đầu tư mới

Kinh tế học thị trường tự do mang lại cho ngư ời giàu kết quả hoàn mỹ, trong khi những người khác l ại nhận được kết cục rất đắng lòng Chính ph ủ

Mỹ và các chính ph ủ của một số nước châu Âu đang c ắt giảm ngân sách dành cho chi tiêu xã h ội, tạo công ăn việc làm, đầu tư cơ s ở hạ tầng, và đào tạo nghề bởi lẽ chính gi ới chủ giàu có là những nhà tài tr ợ cho chi ến dịch tranh cử của các chính trị gia đang r ất ăn nên làm ra, ngay c ả khi các xã hội xung quanh họ đang đổ nát

Song, các giải pháp Keynesian - chi tiền dễ dàng và thâm hụt ngân sách khổng lồ - vẫn chưa hề mang lại được thành qu ả gì như đã hứa hẹn Nhiều chính phủ cố gắng gia tăng chi tiêu công sau cu ộc khủng hoảng tài chính

2008 Xét cho cùng thì h ầu hết các chính tr ị gia đều thích tiêu ti ền của người khác Các giải pháp kích cầu ngắn hạn đã thất bại ở hai điểm chủ yếu

Thứ nhất, nợ của các chính phủ tăng vọt và xếp hạng tín d ụng của họ tụt dốc Ngay c ả nước Mỹ cũng rơi ra kh ỏi hạng AAA Thứ hai, khu vực tư không đáp lại các giải pháp kích cầu bằng cách gia tăng đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và thuê mướn thêm đủ số lao động mới Thay vào

đó, họ đã tích trữ lượng tiền mặt khổng lồ, mà phần lớn là gởi trong các tài khoản miễn thuế ở nước ngoài

Vấn đề chung của kinh t ế học thị trường tự do và kinh t ế học Keynesian là

cả hai cùng hi ểu nhầm bản chất của đầu tư hiện đại Cả hai trường phái đều

Trang 3

tin rằng đầu tư đư ợc dẫn dắt bởi thành phần tư nhân, bởi chính sách thu ế

và các quy định được nới lỏng (trong mô hình thị trường tự do) hoặc bởi tổng cầu ở mức cao (trong mô hình Keynesian)

Nhưng đầu tư của thành phần tư nhân ngày nay lại phụ thuộc vào đầu tư công Chính m ối quan hệ bổ sung này xác định các đặc trưng của thời đại của chúng ta Trừ khi khu vực công đầu tư, và đ ầu tư khôn ngoan, n ếu

không thì khu vực tư sẽ tích trữ vốn của họ hoặc hoàn l ại cho các cổ đông dưới dạng cổ tức hoặc dưới hình thức mua lại cổ phần

Vấn đề cốt lõi là ph ải cân nhắc kỹ lưỡng về sáu loại hàng hóa v ốn: vốn kinh doanh, cơ sở hạ tầng, vốn con người, vốn trí tuệ, vốn tự nhiên và vốn

xã hội Tất cả đều hữu ích, nhưng m ỗi loại vốn có vai trò chuyên bi ệt

Vốn kinh doanh gồm nhà xư ởng, máy móc, phương ti ện vận tải và hệ thống thông tin c ủa các doanh nghi ệp tư nhân Cơ s ở hạ tầng gồm đường bộ,

đường sắt, hệ thống điện, hệ thống nước, cáp quang, đường ống, sân bay và hải cảng Vốn con ngư ời là trình đ ộ học vấn, kỹ năng và sức khỏe của lực lượng lao động Vốn trí tuệ gồm bí quyết khoa học và công nghệ cốt lõi của xã hội Vốn tự nhiên là hệ sinh thái và nh ững nguồn lực cơ bản hỗ trợ sản xuất nông nghi ệp, sức khỏe, và các đô th ị Và vốn xã hội là lòng tin trong c ộng đồng hình thành cơ s ở cho các hoạt động giao thương, tài chính

và quản lý công có th ể diễn ra hiệu quả

Sáu dạng thức vốn hoạt động theo kiểu bổ sung cho nhau Đ ầu tư kinh

doanh mà không có cơ sở hạ tầng và vốn con người thì không thể sinh lời được Các thị trường tài chính cũng không thể vận hành nếu vốn xã hội (lòng tin) b ị khô kiệt Không có vốn tự nhiên (bao gồm khí h ậu an toàn, đ ất đai màu mỡ, nguồn nước sẵn có, và các biện pháp chống lũ lụt), thì các loại vốn còn lại dễ dàng bị mất đi Và n ếu không có đư ợc sự tiếp cận phổ cập

Trang 4

đến các hoạt động đầu tư công cho vốn con người thì các xã hội sẽ chìm đắm trong sự bất bình đẳng trầm trọng về thu nhập và của cải

Đầu tư vốn là một vấn đề không hề đơn giản Chìa khóa của sự phát triển từng là giáo dục cơ bản, là một mạng lưới đư ờng sá và năng lư ợng điện, là một bến cảng đang hoạt động, và kh ả năng tiếp cận thị trường thế giới Tuy nhiên, ngày nay, ch ỉ dừng lại ở giáo dục cơ bản công lập thôi thì chưa đ ủ; người lao động cần những kỹ năng hết sức chuyên biệt được trang bị thông qua hoạt động đào t ạo hư ớng nghiệp, các trình đ ộ nâng cao, và các chương trình huấn nghiệp kết hợp vốn công và tư Giao thông ph ải linh đ ộng hơn là chỉ xây dựng những con đường công qu ản; lư ới điện phải thể hiện nhu cầu cấp thiết đối với loại điện năng có hàm lư ợng carbon thấp; và chính ph ủ khắp nơi ph ải đầu tư vào vốn trí tuệ mới để đối phó v ới các vấn đề bất trắc

về sức khỏe cộng đồng, biến đổi khí h ậu, suy thoái môi trư ờng, quản lý hệ thống thông tin, và các v ấn đề khác

Tuy vậy, ở hầu hết các quốc gia, các chính ph ủ không đang lãnh đ ạo,

hướng dẫn, hay thậm chí là chia sẻ trong quá trình đầu tư Họ đang cắt giảm Những ngư ời theo chủ thuyết thị trường tự do cho r ằng chính phủ không thể đầu tư có hi ệu quả Các kinh tế gia Keynesian cũng không cân nhắc xem loại hình đầu tư công nào là c ần thiết; đối với họ, chi tiêu ch ỉ đơn thuần là chi tiêu Kết quả là sự thiếu vắng khu vực công và sự khan hiếm đầu tư công, chính k ết quả này sẽ kìm hãm ho ạt động đầu tư cần thiết của khu vực tư

Ngắn gọn là các chính ph ủ cần có chiến lược đầu tư dài h ạn và giải pháp tài chính tương ứng Họ cần phải hiểu thấu đáo hơn làm thế nào để ưu tiên cho đầu tư xây dựng đường bộ, đường sắt, lưới điện và bến cảng; làm thế nào để đầu tư bền vững về mặt môi trường bằng cách chuyển đổi sang hệ thống năng lượng có trữ lượng carbon thấp; làm thế nào để đào tạo lao động trẻ đảm trách những công việc tử tế, không chỉ làm những công việc

Trang 5

lương thấp trong ngành dịch vụ; và làm thế nào để hình thành vốn xã hội trong một thời đại mà lòng tin b ị mai một và tham nhũng l ộng hành

Tóm lại, các chính ph ủ cần học cách tính xa Đi ều này một lần nữa đi

ngược lại với kinh tế học dòng chính Trường phái thị trường tự do không muốn chính ph ủ phải suy nghĩ gì c ả; và trường phái Keynesian mu ốn chính phủ chỉ suy tính trong ng ắn hạn, bởi vì họ hứng thú v ới câu châm bi ếm rất nổi tiếng của John Maynard Keynes: ” In the long run we are all dead.” (“Trong dài hạn chúng ta đều không còn sống”)

Đây là một tư tưởng bị ghét cay ghét đắng ở Washingtin, DC, nhưng đáng

để cân nhắc Nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, Trung Quốc, dựa vào các kế hoạch 5 năm trong đ ầu tư công, đư ợc điều hành b ởi Ủy ban Phát Triển và Cải Cách Qu ốc Gia Nư ớc Mỹ không có định chế nào tương tự, hay bất cứ cơ quan nào qu ản lý các chi ến lược đầu tư công m ột cách có h ệ thống Nhưng t ất cả các quốc gia hi ện cần nhiều hơn các k ế hoạch 5 năm;

họ cần 20 năm, c ần các chi ến lư ợc có tầm nhìn xa tương đương m ột thế hệ

để tạo lập các kỹ năng, xây dựng nền kinh tế xanh của thế kỷ 21

Nhóm G20 g ần đây đã có m ột bư ớc tiến nhỏ đi đúng hướng, b ằng cách đặt

cho khu vực công l ẫn khu vực tư Chúng ta c ần nhiều hơn nữa cách thức tư duy theo kiểu này trong nh ững năm t ới, khi các chính ph ủ sẽ đàm phán các thỏa thuận toàn cầu mới về vấn đề tài trợ cho phát triển bền vững (ở Addis Ababa vào tháng 7/2015); Các M ục Tiêu Phát Triển Bền Vững (tại Liên Hiệp Quốc vào tháng 9/2015), và bi ến đổi khí h ậu (tại Paris vào tháng 12/2015)

Những thỏa thuận này hứa hẹn sẽ định hình một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân loại Nếu thành công, K ỷ Nguyên M ới của Sự Phát Triển Bền Vững cũng sẽ sản sinh ra Kinh Tế Học Mới của Sự Phát Triển Bền Vững

Trang 6

Jeffrey Sachs

Ngày đăng: 30/12/2022, 07:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w