Tuy nhiên, nơi đây cũng đang đ ứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, hạn mặn, nguồn tài nguyên thiên nhiên ngà y c
Trang 1Kinh tế tuần hoàn – Hướng phát triển bền vững cho Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế về nông nghiệp và thủy sản Tuy nhiên, nơi đây cũng đang đ ứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, hạn mặn, nguồn tài nguyên thiên nhiên ngà y càng cạn kiệt, khan hiếm; quá trình đô th ị hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh, làm cho quỹ đất nông nghi ệp ngày càng thu h ẹp dần… Vì v ậy, phát tri ển kinh tế tuần hoàn đư ợc xem là gi ải pháp tiềm năng đ ể sử dụng tốt hơn các ngu ồn lực, giúp giải quyết bài to án giữa lợi ích kinh tế và môi trư ờng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long hướng tới một mô hình kinh tế bền vững, một nền kinh tế xanh và phúc l ợi cho xã h ội; góp ph ần giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường
Những tiền đề cho kinh tế tuần hoàn phát triển tại Việt Nam
Kinh tế tuần hoàn (KTTH) là m ột mô hình kinh t ế, trong đó các ho ạt động thiết kế, sản xuất và d ịch vụ đặt ra mục tiêu kéo dài tu ổi thọ của vật chất
và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường Đây là mô hình kinh t ế đặc biệt chú trọng đến quản lý và tái t ạo tài nguyên theo m ột vòng khép kín nhằm tránh tạo ra phế thải Mô hình này hư ớng đến tái sử dụng nh ững gì có thể, tái chế những gì không th ể tái sử dụng, sửa chữa những gì hỏng hóc, tái sản xuất những gì không th ể sửa chữa Mô hình KTTH là m ột giải pháp thay thế bền vững cho mô hình kinh t ế truyền thống KTTH đư ợc đánh giá
là một mô hình ưu vi ệt, bởi vừa tạo ra lợi nhuận, vừa tạo ra công ăn vi ệc làm, mang l ại những giá trị về mặt xã hội và môi trư ờng, từ đó hư ớng tới một nền kinh tế xanh KTTH là m ột chu trình s ản xuất khép kín, các ch ất thải được quay tr ở lại, trở thành nguyên li ệu cho sản xuất, từ đó giảm mọi tác động tiêu cực đến môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con
người Nền KTTH vận hành theo một chu trình khép kín, trong đó tận dụng tất cả những gì phát sinh trong quá trình s ản xuất
Tại Việt Nam, nhiều yếu tố của KTTH đã đư ợc đề cập trong các văn b ản quy phạm pháp luật, như: Chỉ thị số 36/1998/CT-TW ngày 25/6/1998 c ủa
Bộ Chính tr ị về tăng cư ờng công tác b ảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nư ớc; Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày
15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trư ờng trong thời kỳ đẩy mạnh
Trang 2công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa đất nư ớc; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 c ủa Ban Ch ấp hành Trung ương v ề chủ động ứng phó v ới biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Trên cơ
sở các chủ trương c ủa Đảng, Nhà nước đã ban hành lu ật và các chính sách
có liên quan t ới mô hình KTTH, như: Lu ật Bảo vệ môi trường năm 2014; Chiến lư ợc quốc gia v ề quản lý tổng hợp chất thải rắn năm 2018; Quy ết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê
duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Đặc biệt, ngày 13/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Ch ỉ thị số 18/CT-TTg về xây dựng kế hoạch phát triển kinh t ế – xã hội 5 năm 2021 -2025… Các văn b ản đều đề cập những khía cạnh của mô hình KTTH, như: khai thác và s ử dụng tiết kiệm tài
nguyên, sử dụng năng lư ợng tái t ạo, sản xuất và tiêu dùng b ền vững, chuỗi cung ứng xanh, tiêu dùng xanh…
Thực trạng mô hình kinh t ế tuần hoàn t ại đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vị trí địa – kinh tế, địa – chiến lược quan trọng; với diện tích gần 4 triệu ha, dân số hơn 17 triệu người, khoảng 700 km b ờ biển và trên 360 nghìn km2vùng bi ển và vùng đặc quyền kinh tế; là trung tâm s ản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, hằng năm sản xuất trên 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây c ủa cả nước; 95% lư ợng gạo xuất khẩu và 60% s ản lư ợng
cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao thương v ới các nư ớc ASEAN
và Tiểu vùng sông Mêkông1… Đây còn là vùng có v ị trí chiến lược về an ninh – quốc phòng, giàu ti ềm năng v ề tài nguyên v à năng lượng tái t ạo, có nhiều lợi thế phát triển kinh tế biển, giao thương qu ốc tế…
Với tiềm năng to lớn và lợi thế của mình, ĐBSCL hội đủ những yếu tố cần thiết để trở thành m ột trong những vùng kinh t ế trọng điểm của khu vực và
cả nước Tuy nhiên, tron g quá trình phát tri ển, ĐBSCL ph ải đối mặt với nhiều khó khăn, thách th ức do đây là vùng đ ất “mẫn cảm” với thay đổi của
tự nhiên Bi ến đổi khí h ậu và nước biển dâng di ễn ra nhanh hơn d ự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh k ế và đời sống của ngư ời dân Mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế với cường độ cao ở nội vùng bộc lộ ngày càng gay g ắt, gây nhiều hệ lụy như: ô nhiễm
Trang 3môi trường, mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, sụt lún đất, suy giảm mực nư ớc ngầm… đã gây ra nh ững tác động xấu đối với môi trường, đặc biệt là ô nhiễm môi trư ờng nư ớc Hằng năm, các trang tr ại nuôi cá tra ở ĐBSCL thải ra hơn 10 tỷ mét khối nước thải có chứa khoảng 51.336 tấn
ni-tơ và 16.070 tấn phốt-pho không qua xử lý; mỗi năm có khoảng 1.790 tấn hoạt chất thuốc diệt ốc, 210 tấn hoạt chất thuốc diệt cỏ, 1.224 t ấn hoạt chất thuốc trừ sâu và 4.245 t ấn hoạt chất thuốc diệt nấm đư ợc sử dụng dư thừa trong sản xuất nông nghi ệp2 Hằng năm, ch ất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp và các hóa ch ất độc hại trong khu vực thải ra môi trư ờng khá cao Vì vậy, chỉ có phát triển mô hình KTTH m ới có thể giúp ĐBSCL dần khắc phục sự ô nhiễm, hướng đến nền kinh t ế xanh
Thời gian qua, các t ỉnh, thành vùng ÐBSCL đã đ ẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo mô hình KTTH , áp dụng sản xuất tiên tiến, thân thiện môi trường Ðiển hình như, mô hình vườn – ao – chuồng (VAC), vườn – ao – chuồng – rừng (VACR), hay vư ờn – ao – chuồng – biogas (VACB) giúp khắc phục việc quản lý ph ế thải, sử dụng đư ợc phụ phẩm nông nghi ệp để trả lại độ phì nhiêu cho đ ất, xử lý an toàn ch ất thải động vật, tạo nguồn chất đốt phục vụ sinh ho ạt, góp phần giảm rác thải Hiện tại, đã có một số tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL bư ớc đầu thực hiện thành công mô hình KTTH, như: tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ và tỉnh Bạc Liêu
Hạ tầng đô th ị TP Cần Thơ, trung tâm kinh t ế – văn hóa vùng ĐBSCL Ảnh: zingnews.vn
Đồng Tháp là một tỉnh điển hình của mô hình này, với quan điểm từng bước chuyển từ kinh tế truyền thống sang nền kinh tế tri thức, KTTH… đã thu hút, phát huy hi ệu quả, đa dạng các nguồn lực, thúc đẩy tăng trư ởng, nâng cao thu nhập và ch ất lư ợng sống của Nhân dân V ới nỗ lực đổi mới, sáng tạo của cả hệ thống chính tr ị, cộng đồng doanh nghi ệp (DN), cùng v ới việc thực hiện có hi ệu quả những chủ trương, chính sách phát tri ển KTTH, bước đầu tỉnh đạt được nhiều kết quả quan trọng, mở ra thời kỳ phát triển mới Tăng trưởng kinh t ế (GRDP) bình quân h ằng năm đạt 6,44% Cơ c ấu kinh tế chuyển dịch theo hư ớng tích cực, đến năm 2020, t ỷ trọng khu vực công nghi ệp – xây dựng chiếm 19,93%, thương m ại – dịch vụ chiếm
Trang 445,53%, nông – lâm – thủy sản chiếm 34,54%3 Thực tiễn cho thấy, Đồng Tháp có m ột số mô hình KTTH đư ợc thực hiện có hiệu quả, như: mô hình thu chất thải làm phân bón c ủa Công ty c ổ phần Vĩnh Hoàn t ại phường 11, thành phố Cao Lãnh v ới mô hình “sông trong ao” đ ể có thể thu các chất thải về phục vụ trồng tr ọt
Ngoài ra, để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường sau khi thu hoạch lúa, nguồn rơm rạ trên đ ồng ruộng đư ợc nhiều ngư ời dân thực hiện tái tạo thành nhiều sản phẩm có giá trị, như: phân vi sinh, than sinh h ọc, nguyên li ệu sản xuất nấm… Cách làm này ch ấm dứt chuỗi thời gian nửa thế kỷ canh tác nông nghi ệp quá kỳ vọng vào hóa ch ất, làm cho môi trư ờng sống bị hủy hoại, nguồn thu nhập của nhà nông giảm dần Công ty Cỏ May đã tạo ra bất ngờ khi trình làng s ản phẩm mới là nấm rơm hữu cơ trồng trong nhà kín, không dùng bất kỳ loại hóa chất nào Giá trị của rơm còn đư ợc nâng cao gấp nhiều lần khi n ấm rơm đư ợc chế biến thành bột dinh dưỡng, nư ớc mắm chay, nấm sấy, nấm tươi4
Những năm gần đây, thành ph ố Cần Thơ đã xu ất hiện nhiều mô hình kinh t ế mang giá tr ị nền tảng ban đầu cho việc hình thành và phát tri ển KTTH Chẳng hạn, tại 3 phường: Long Hòa, Long Tuy ền, Thới An Đông của Quận Bình Thủy đang nhân r ộng các mô hình nông nghi ệp đô thị, nông nghi ệp ứng dụng công nghệ cao với những hiệu quả tích cực, như: làng nghề hoa kiểng Bà Bộ; hợp tác xã rau an toàn t ại phư ờng Long Tuy ền; tổ hợp tác trồng nấm bào ngư và m ột số DN có mô hình s ản xuất nông nghiệp hiện đại… Đặc biệt, thành phố Cần Thơ là 1 trong 3 tỉnh, thành phố của cả nước được lựa chọn để phát triển “Mô hình khu công nghiệp sinh thái” Theo đó, Cần Thơ đã lựa chọn Khu công nghi ệp Trà Nóc 1, Trà Nóc 2 đ ể tham gia
dự án Mục tiêu c ủa dự án là giúp cho các DN t ại đây tiết kiệm điện, tăng cường chuyển giao, ứng dụng và phổ biến công nghệ, phương thức sản xuất sạch hơn để giảm thiểu chất thải nguy hại, phát th ải khí nhà kính cũng như các chất gây ô nhi ễm nước, quản lý tốt hóa ch ất tại các khu công nghi ệp… Cần Thơ đang từng bước thay đổi tư duy tiêu dùng c ủa ngư ời dân, hư ớng đến tiêu dùng xanh, sử dụng những sản phẩm thân thiện môi trường như túi
tự phân hủy; xây d ựng hành lang pháp lý trong th ực hiện KTTH theo l ộ
Trang 5trình; đẩy mạnh hỗ trợ các mô hình mang xu hư ớng phát triển theo hình thức KTTH; phát huy vai trò DN là đ ộng lực để thúc đẩy KTTH
Tỉnh Bạc Liêu tập trung đẩy mạnh ứng dụng công ngh ệ cao trong nghề nuôi tôm để nâng cao năng suất, chất lượng nuôi tôm Ở địa phương này, ngày càng có nhiều DN, hộ nuôi tôm chú tr ọng ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ tiên tiến nhất thế giới trong nghệ nuôi tôm, t ạo nên vòng nuôi tuần hoàn khép kín, v ừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa hạn chế
ô nhiễm môi trường Nông nghi ệp ứng dụng công ngh ệ cao là 1 trong 5 tr ụ cột phát tri ển kinh t ế – xã hội được Tỉnh ủy Bạc Liêu xác định từ giữa nhiệm kỳ 2015 – 20205
Tuy nhiên, trong phát tri ển các mô hình KTTH, các t ỉnh, thành ph ố vùng ĐBSCL đang gặp nhiều khó khăn, thách thức Hiện tại, vẫn chưa có hành lang pháp lý đầy đủ cho phát triển KTTH, ngoài những nội dung quy định trong Luật Bảo vệ môi trường chưa có bộ tiêu chí đ ể nhận diện, đánh giá, tổng kết và phân lo ại chính xác nên các t ỉnh, thành ph ố không th ể đo lư ờng
sự phát triển kinh t ế đã tiếp cận tới mức độ phát triển nào c ủa KTTH Nhận thức về bản chất KTTH c ủa DN, người dân và lãnh đ ạo, quản lý ở một số tỉnh, thành chưa đầy đủ KTTH gắn với đổi mới công ngh ệ và thiết kế mô hình, đòi hỏi phải có chuyên gia giỏi, giải quyết được từ khâu thiết kế đến khâu cuối cùng là tái s ử dụng, tái chế chất thải, nhưng ph ần lớn các DN ở ĐBSCL là các DN nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chất lư ợng nguồn nhân lực còn hạn chế KTTH đòi hỏi phải có sự phân loại, làm s ạch chất thải trước khi đưa vào tái s ử dụng, tái ch ế, trong khi đó ý thức phân loại chất thải tại nguồn của người dân chưa được hình thành…
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng phát bi ểu kết luận Hội nghị Ảnh: baodongkhoi.vn
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy kinh t ế tuần hoàn tại đồng bằng sông Cửu Long trong th ời gian t ới
Trang 6Để thúc đẩy phát triển mô hình KTTH ở đồng bằng sông Cửu Long, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thi ện hành lang pháp lý ph ục vụ cho sự hình thành, phát triển mô hình KTTH t ừ chủ trương c ủa Đảng đến pháp luật của Nhà nước Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường; quy định trách nhiệm cụ thể của nhà sản xuất, nhà phân ph ối trong việc thu hồi, phân loại và tái chế hoặc chi tr ả chi phí xử lý các sản phẩm thải bỏ dựa trên số lượng sản phẩm bán ra trên th ị trường; quản lý dự án theo vòng đ ời sản phẩm, thiết lập lộ trình xây dựng và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường tương đương với nhóm các nước tiên tiến trong khu vực Tạo điều kiện cho công tác thu gom, vận chuyển đưa vào tái sử dụng, tái chế được thuận lợi và dễ dàng hơn Xây dựng chiến lược truyền thông nhằm nâng cao nh ận thức của các nhà s ản xuất và xã h ội về trách nhi ệm của họ đối với các sản phẩm trong suốt vòng đời của chúng
Thứ hai, cần có những cơ chế, chính sách nh ằm huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào khâu s ản xuất nguyên liệu, phát t riển ngành công nghi ệp phụ trợ hỗ trợ các ngành cùng phát tri ển Có cơ ch ế khuyến khích DN đầu
tư, phát triển công nghiệp tái chế, thúc đẩy sử dụng các sản phẩm thân thiện môi trường, đ ầu tư vào công ngh ệ sạch; đặc biệt là chính sách thu ế, khuyến khích tài trợ hoặc giảm lãi su ất ngân hàng cho các DN th ực hiện
mô mình KTTH Các t ỉnh, thành vùng ĐBSCL c ần lồng ghép nội dung
KTTH vào kế hoạch phát tri ển kinh tế – xã hội giai đo ạn 2021 – 2025 và lồng ghép vào các quy ho ạch để tổ chức thực hiện sâu rộng phát triển các
mô hình KTTH trong c ộng đồng dựa vào l ợi thế và nguồn tài nguyên b ản địa của từng địa phương
Thứ ba, có cơ chế, chính sách khuy ến khích phát tri ển KTTH trong lĩnh vực xử lý nư ớc thải dùng l ại cho sản xuất; tái chế sử dụng lại vật liệu xây dựng thay thế việc khai thác cát dư ới lòng sông; nghiên c ứu tái chế rác thải thành nguyên vật liệu có ích có thể dùng cho chôn l ấp tại các điểm sạt lở, xây dựng đê bao theo công ngh ệ hiện đại và thân thiện với môi trư ờng Cần
có cơ chế liên kết vùng trong mua bán sử dụng tái chế rác thải đã được phân loại tập trung quy mô l ớn tại một tỉnh, thành làm đầu mối điều phối,
Trang 7sản xuất tập trung Xây d ựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về
KTTH Các dữ liệu về KTTH không chỉ là tập hợp thông tin v ề các điển hình hoặc sáng kiến tuần hoàn t ốt để xem xét và nhân r ộng, mà còn bao gồm các dữ liệu quan tr ọng, giúp theo dõi m ức độ tuần hoàn của nền kinh
tế như tỷ lệ tái chế chất thải rắn, tỷ lệ tái sử dụng chất thải, hiệu suất tuần hoàn tài nguyên…
Thứ tư, hoàn thiện và ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi, h ỗ trợ thúc đẩy công nghiệp môi trường, nhất là công nghiệp tái chế Ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn về công nghệ, quản lý dự án theo vòng đ ời, thúc đẩy phát triển thị trường trao đ ổi sản phẩm phụ, sản phẩm thải bỏ để kết nối chuỗi giữa thải bỏ – tái chế – tái sử dụng để rác thải, chất thải trở thành tài
nguyên thứ cấp trong chu trình s ản xuất mới Để làm được điều này c ần phân loại rác tại nguồn, mở rộng trách nhi ệm của nhà sản xuất và thúc đ ẩy các thị trường mới phát triển bao gồm thị trường thu h ồi và tái ch ế nhựa, giấy, kim loại và th ị trường cung cấp các sản phẩm tái chế
Thứ năm, tăng cường trao đ ổi, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhất là các quốc gia đã và đang th ực hiện thành công mô hình KTTH, t ừ đó chuyển giao và áp dụng vào hoàn c ảnh cụ thể của vùng ĐBSCL Vi ệc phát triển các
mô hình KTTH cần gắn với thành tựu của cuộc cách mạng công nghi ệp lần thứ tư, nhất là việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào phục vụ mô hình
KTTH Đồng thời, đẩy mạnh thu hồi vật liệu và hạn chế rác thải khó tái chế, mở rộng trách nhi ệm của nhà sản xuất và thúc đ ẩy các thị trường mới phát triển bao gồm thị trường thu h ồi và tái ch ế nhựa, giấy, kim loại và thị trường cung cấp các sản phẩm tái chế
Chú thích:
1 Nghị quyết số 120/NQ -CP ngày 17 /11/2017 của Chính phủ về phát tri ển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí h ậu
2 Trần Việt Trư ờng Báo cáo đề dẫn hội thảo khoa học “Phát triển kinh t ế tuần hoàn ở các tỉnh, thành phía Nam – Vấn đề và giải pháp K ỷ yếu Hội thảo khoa học do T ạp chí Cộng sản và Thành ủy Cần Thơ đồng tổ chức, Cần Thơ, tháng 11/2020, tr.4
Trang 83 Tỉnh ủy Đồng Tháp Văn ki ện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ XI–2020, tr 35
4 Phạm Ngọc Hòa Kinh t ế tuần hoàn – xu hư ớng phát tri ển tất yếu Báo Đồng Tháp, số 3914, ngày 09/7/2021, tr.9
5 Minh Đạt Bạc Liêu nuôi tôm công nghệ cao theo hướng tuần hoàn, khép kín Hồ sơ và Sự kiện (Chuyên san c ủa Tạp chí Cộng sản), ngày 25/6/2020, tr.29