Hiện nay đứng trước yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước, nền yhọc nói chung và lĩnh vực xét nghiệm nói riêng phải không ngừng cải tiếnnâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu chăm sóc
Trang 1BỘ Y TẾ BỆNH VIỆN 74 TRUNG ƯƠNG
THỰC TRẠNG TỪ CHỐI MẪU XÉT NGHIỆM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN 74 TRUNG ƯƠNG
Vĩnh Phúc, 2017
Trang 2BỘ Y TẾ BỆNH VIỆN 74 TRUNG ƯƠNG
THỰC TRẠNG TỪ CHỐI MẪU XÉT NGHIỆM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN 74 TRUNG ƯƠNG
CN Nguyễn Bá VươngThS Trương Công Thứ
BS Cao Thanh Thủy
Vĩnh Phúc, 2017
Trang 3Hiện nay đứng trước yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước, nền yhọc nói chung và lĩnh vực xét nghiệm nói riêng phải không ngừng cải tiếnnâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, Thủtướng Chính phủ đã ra quyết định số 316/QĐ- TTg ngày 27/02/2016: Phêduyệt đề án tăng cường năng lực hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm yhọc giai đoạn 2016- 2025 Thông tư số 01/2013/TT-BYT của Bộ Y tế: hướngdẫn thực hiện quản lý chất lượng xét nghiệm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Cùng với sự quan tâm và đầu tư của lãnh đạo bệnh viện (BV) về cơ sởvật chất và trang thiết bị hiện đại cho khoa Xét nghiệm, các bệnh viện cũngđồng thời áp dụng nhiều giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng của xétnghiệm và chất lượng hoạt động của khoa xét nghiệm Chất lượng của xétnghiệm phụ thuộc vào việc đảm bảo ở cả 3 giai đoạn: giai đoạn trước xétnghiệm, giai đoạn xét nghiệm và giai đoạn sau xét nghiệm Đặc biệt ở giaiđoạn trước xét nghiệm, nguy cơ sai số ở giai đoạn này là cao nhất chiếm từ 49đến 73% (tức là trong 100 trường hợp sai số kết quả xét nghiệm thì sai số do
Trang 4giai đoạn này chiếm từ 49 đến 73 trường hợp) mà lý do chính là do cách lấy
và bảo quản bệnh phẩm xét nghiệm
Khoa Xét nghiệm Bệnh viện 74 trung ương gồm 04 bộ phận: Huyếthọc, Sinh hóa, Vi sinh và Giải phẫu Được sự quan tâm của lãnh đạo Bệnhviện, khoa Xét nghiệm đã xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng xét nghiệmnhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng xét nghiệm đáp ứng yêu cầu của lâmsàng trong chẩn đoán và điều trị người bệnh Tuy nhiên, tình trạng mẫu xétnghiệm khi bàn giao cho khoa Xét nghiệm thường không đảm bảo và nhiềumẫu khoa Xét nghiệm phải từ chối Vậy tỷ lệ mẫu xét nghiệm không đảm bảoyêu cầu và bị từ chối là bao nhiêu? Yếu tố nào liên quan đến từ chối mẫu xétnghiệm?
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực
trạng từ chối mẫu xét nghiệm và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện 74 Trung ương” Nghiên cứu nhằm mục tiêu:
1 Mô tả tỷ lệ từ chối và lý do từ chối mẫu xét nghiệm tại Bệnh viện
74 Trung ương, năm 2017.
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến từ chối mẫu tại Bệnh viện
74 Trung ương, năm 2017.
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm về chuyên ngành xét nghiệm
Xét nghiệm là một loạt các hoạt động có mục tiêu xác định giá trị hoặctính chất của một vật thể
Xét nghiệm chẩn đoán là một xét nghiệm để xác định một bệnh hoặcmột triệu chứng của bệnh
Xét nghiệm định tính là một xét nghiệm để phát hiện sự hiện diện hoặckhông của một chất, một phức hợp đặc biệt, hoặc điều kiện cho sự tồn tại haymất đi của chúng
Xét nghiệm định lượng là một xét nghiệm để xác định nồng độhoặc số lượng của một chất phân tích trong một mẫu bệnh phẩm, kết quảđược biểu hiện dưới dạng số lượng
Phòng xét nghiệm là các khoa, phòng hoặc đơn vị xét nghiệmtại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp nhận mẫu xét nghiệm lấy từ người vàcác nguồn liên quan khác để thực hiện xét nghiệm, cung cấp thông tin trựctiếp phục vụ cho công tác khám bệnh, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học và đàotạo
Quản lý chất lượng xét nghiệm là các hoạt động phối hợp để địnhhướng và kiểm soát của phòng xét nghiệm về chất lượng xét nghiệm, bao gồmlập kế hoạch, kiểm soát, bảo đảm và cải tiến chất lượng xét nghiệm
Bảo đảm chất lượng (Quality Assurance-QA) bao hàm toàn bộcác chính sách, pháp qui, kế hoạch về đào tạo con người, trang bị máy móc,lựa chọn phương pháp kỹ thuật và thuốc thử để làm cho xét nghiệm đạtđược độ tin cậy mà thầy thuốc lâm sàng có thể dựa vào nó trong việc chẩnđoán và điều trị bệnh Hay nói một cách khác, đảm bảo chất lượng là một quytrình tổng thể đảm bảo kết quả của phòng thí nghiệm đưa ra là chính xác nhất
Trang 6Kiểm tra chất lượng (Quality Control-QC) là một khâu của đảmbảo chất lượng nhằm phát hiện sai số, tìm nguyên nhân gây sai số và từ đó đề
ra các biện pháp chế ngự hay khắc phục, tức là tiếp tục cải thiện điều kiện xétnghiệm, tăng cường công tác đảm bảo chất lượng Kiểm tra chất lượng cũngđược hiểu như là những quy trình được sử dụng để phát hiện hoặc hiệu chỉnhsai sót có thể xảy ra vì xét nghiệm sai, điều kiện môi trường bất lợi và sự khácnhau do người thực hiện cũng như kiểm soát độ chính xác và tính chắc chắnđúng của xét nghiệm
Đánh giá chất lượng xét nghiệm nội bộ là hoạt động tự kiểm tra vàđánh giá chất lượng xét nghiệm có tổ chức, kế hoạch trong phòng xét nghiệmvới mục đích xem xét của lãnh đạo nhằm đánh giá chất lượng thực hiện cácxét nghiệm, tìm ra các vấn đề không phù hợp để đề ra các biện pháp phòngngừa, khắc phục và cải tiến
1.2.3 giai đoạn đảm bảo chất lượng xét nghiệm
1.2.1 Giai đoạn trước xét nghiệm (Fre-Testing)
Giai đoạn trước xét nghiệm bao gồm các công việc sau:
- Chỉ định xét nghiệm
Đây là bước đầu tiên Việc chỉ định xét nghiệm thường do bác sĩ lâmsàng thực hiện căn cứ trên chẩn đoán tình trạng bệnh lý của bệnh nhân Tuynhiên chỉ định thế nào cho đúng cũng là vấn đề không hề nhỏ Chỉ định phảisát với tình trạng của bệnh nhân mới có khả năng phát hiện và chẩn đoánđúng bệnh Chỉ định phải đúng thời điểm Ví dụ không thể chỉ định làm xétnghiệm công thức máu khi mà bệnh nhân đang thực hiện truyền dịch, hoặclàm các xét nghiệm về đường máu, mỡ máu sau khi bệnh nhân đã ăn
- Lấy mẫu
Việc lấy mẫu ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét nghiệm Mẫu ở đây
có thể là mẫu máu, mẫu nước tiểu, mẫu dịch… Mỗi loại mẫu đều có các quyđịnh riêng nhằm đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác Ví dụ với mẫu máu
Trang 7bạn phải lấy đủ số lượng, đúng loại chất chống đông, mẫu không bị vỡ hồngcầu
- Vận chuyển mẫu
Vận chuyển mẫu ở đây có thể từ khoa phòng lấy mẫu đến phòng xétnghiệm hoặc từ phòng xét nghiệm này đến phòng xét nghiệm khác Theo quyđịnh thì mẫu phải đảm bảo được tính nguyên vẹn Tức là thành phần các chấttrong mẫu phân tích không bị biến đổi so với ban đầu Để đáp ứng yêu cầunày thì mẫu cần phải chuyển đến phòng xét nghiệm sớm nhất, có thể dùngthêm các chất bảo quản Ví dụ với mẫu máu dùng để định lượng các chấtthành phần trong huyết tương/ huyết thanh thì bạn nên ly tâm tách huyếttương/ huyết thanh và gửi đi chứ không gửi máu toàn phần Các mẫu phảiđược bảo quản cần thận tránh đổ vỡ, lây nhiễm từ môi trường bên ngoài vào
- Nhận mẫu
Phải có cán bộ chuyên trách cho việc nhận mẫu Khi nhận mẫu phảiđánh giá xem mẫu có đạt không? Các thông tin có trùng khớp? Mẫu có đủ sốlượng không? Có bảo quản đúng cách Trong trường hợp người nhận mẫuđánh giá thấy mẫu không đạt và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xétnghiệm thì có quyền từ chối nhận mẫu
- Xử lý mẫu
Ngay sau khi nhận mẫu, cán bộ phòng xét nghiệm sẽ tiến hành xử lýmẫu sơ bộ như ly tâm, để rã đông… Cần lưu ý là mẫu cần dược bảo đảmtránh hư hại hoặc mất mát
1.2.2 Giai đoạn xét nghiệm (Testing)
Đây là giai đoạn tác động trực tiếp đến kết quả Giai đoạn này gồm 2phần là xét nghiệm và kiểm soát chất lượng 2 quá trình này luôn luôn đượclàm song song với nhau Xét nghiệm chính là việc sử dụng các thuốc thử vớiphương pháp đã xây dựng trên các trang thiết bị để cho ra kết quả Tuy nhiên
Trang 8muốn biết được kết quả này đúng hay sai phải cần có quá trình kiểm soát chấtlượng.
- Quá trình xét nghiệm
Phòng xét nghiệm phải xây dựng quy trình xét nghiệm và thực hiệntuân thủ đúng theo quy trình đã xây dựng Quy trình xét nghiệm phải đượcxác định giá trị sử dụng Các cán bộ thực hiện xét nghiệm phải được đào tạođúng chuyên ngành Phải hiểu, nắm chắc và thực hiện thành thạo các quytrình xét nghiệm này Cán bộ xét nghiệm phải tuyệt đối tuân thủ quy trình xétnghiệm đã được ban hành Không được tự ý thay đổi, thêm bớt các bước.Không được thay đổi lượng hóa chất, bệnh phẩm đã được quy định trong quytrình
- Quá trình kiểm soát chất lượng
Quá trình kiểm soát chất lượng phải làm thường xuyên và liên tục Quátrình này được thực hiện bằng các biện pháp như sử dụng mẫu kiểm tra chấtlượng (QC), thực hiện so sánh liên phòng (ngoại kiểm) hoặc so sánh vớiphòng xét nghiệm tham chiếu Trong đó đặc biệt chú ý tới mẫu QC Việc QCphải được thực hiện hàng ngày và kết quả mẫu QC không được vi phạm cácquy tắc Phải nhớ không được trả kết quả cho bệnh nhân nếu kết quả QCkhông phù hợp
1.2.3 Giai đoạn sau xét nghiệm (Post-Testing)
Giai đoạn sau xét nghiệm gồm 2 quá trình là báo cáo kết quả và lưu giữ
hồ sơ
- Báo cáo kết quả
Kết quả phải được báo cáo chính xác và rõ ràng Trong đó đặc biệt chú
ý tới việc truyền dữ liệu từ kết quả máy chạy ra đến phiếu kết quả của bệnhnhân Ngày nay với sự phát triển của vông nghệ thông tin việc truyền dữ liệunày có thể được thực hiện tự động và chính xác Tuy nhiên các phòng xét
Trang 9nghiệm vẫn cần phải xây dựng quy trình hướng dẫn truyền dữ liệu để đảmbảo tính chính xác của của việc sao chép kết quả xét nghiệm.
- Lưu giữ hồ sơ
Phòng xét nghiệm phải xây dựng một hệ thống lưu trữ hồ sơ, kết quảxét nghiệm của bệnh nhân để có thể truy xuất, sử dụng trong tương lai Việclưu giữ hồ sơ có thể sử dụng trên hệ thống điện tử hoặc bằng phương pháp thủcông Dù quản lý trên hệ thống nào cũng cần đảm bảo nguyên tắc bảo mậtnhưng cũng cần dễ dàng truy xuất Đòng thời phải có phương án dự phòngtrong các trường hợp sự cố vẫn có thể truy xuất được Do đó các phòng xétnghiệm nên áp dụng cả 2 phương pháp điện tử và thủ công để lưu giữ hồ sơ
1.3 Một số yêu cầu chung với mẫu xét nghiệm
1.3.1 Bệnh phẩm máu
1.3.1.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm
- Bệnh phẩm máu được chỉ định làm các xét nghiệm hóa sinh và huyếthọc lâm sàng cần được lấy máu vào buổi sáng sớm khi bệnh nhân chưa ănuống gì
- Bệnh nhân nhịn đói và không dùng các chất kích thích như cà phê,thuốc lá, rượu, bia 12 giờ trước khi lấy máu ( trừ những chỉ định đặc biệt thìthời gian nhịn đói có thể ngắn hơn ví dụ như bệnh nhân cấp cứu hoặc làm một
số xét nghiệm có yêu cầu của bác sỹ )
- Bệnh nhân ngừng các hình thức tập luyện 24-48 h, ngủ ít nhất 7h vàkhông dùng bất cứ thuốc gì trước khi lấy máu (kể cả vitamin và thuốc tránhthai)
- Bệnh phẩm máu được chỉ định làm xét nghiệm vi sinh lâm sàng nhằmtìm căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết Vì vậy cấy máu phải đượcchỉ định khi bệnh nhân có một trong các triệu chứng như sốt, ớn lạnh, lạnhrun, tiếng thổi tim nghi ngờ viêm nội tâm mạc, có xuất huyết ở da hay niêm
Trang 10mạc, xuất huyết dạng sao trên móng tay, choáng Phải cấy máu trước khi bệnhnhân dùng kháng sinh hệ thống.
1.3.1.2 Yêu cầu đối với bệnh phẩm máu
- Thông thường lấy máu tĩnh mạch, một số xét nghiệm thì có thể phảilấy máu mao mạch hoặc lấy máu đông mạch Và tất cả các kỹ thuật lấy máuđều phải bằng phương pháp vô trùng (sát trùng da bằng cồn 70o hoặc cồniod) Máu được đựng vào vào các tube khác nhau nhằm thu được huyết thanh,huyết tương hoặc máu toàn phần
- Huyết thanh: thu được bằng cách để máu đông tự nhiên trong khoảng
thời gian từ 30 phút đến 1 giờ, ly tâm ở khoảng 3.000 vòng/phút trong 10phút, phần dịch nổi (supernatant) phía trên là huyết thanh
- Huyết tương: thu được khi ức chế tạm thời hoặc ức chế vĩnh viễn ion
Ca2+ trong máu bằng cách thêm vào máu chất chống đông là citrat hoặc cácchất tạo phức (chelators) để tạo phức với ion Ca2+ như EDTA, oxalat hoặcheparinat
+ EDTA-K2và EDTA-K3 (tuýp nắp màu xanh hoặc tím) với nồng độ1,5-2 mg/mL máu được sử dụng cho các xét nghiệm huyết học thông thường
+ Heparin (dưới dạng các muối như amon, Li, Na, K – tuýp nắp màuđen) được sử dụng theo tỷ lệ 25U/mL máu, hay 0,01-0,1 mL heparin/mL máuthường dùng cho các xét nghiệm hóa sinh thông thường
+ Fluorid (muối Na) được sử dụng với nồng độ 2 mg/mL máu (tuýpmàu xám) Fluorid có tác dụng ức chế cả sự đông máu và cả sự đường phân(glycolysis) nên thường được sử dụng để định lượng glucose máu
+ Dung dịch Natri citrat (tuýp màu xanh lá cây) nồng độ 3,8% hoặc0,11 mol/L được sử dụng cho các xét nghiệm đông máu với tỷ lệ 1 thể tíchNatri citrat và 9 thể tích máu toàn phần hoặc được sử dụng để xét nghiệm tốc
độ máu lắng với tỷ lệ 1 phần Na citrat và 4 thể tích máu toàn phần
Trang 11- Máu toàn phần: máu toàn phần có thể thu được bằng cách sử dụng
các chất chống đông như đã nêu trên (không ly tâm)
- Lấy máu làm xét nghiệm theo đúng thứ tự được khuyến cáo như sau:
- Đối với các xét nghiệm sinh học phân tử hoặc di truyền: tiến hành
phản ứng PCR, Realtime PCR mà khuyến cáo lấy ống chống đông EDTA thì
đề nghị lấy máu theo thứ tự sau:
1 Bình cấy máu
2 Ống không chống đông
3 Ống Natri citrate
4 Ống EDTA (xét nghiệm PCR, Realtime PCR )
5 Ống có chứa Gel (lấy huyết thanh)
6 Ống Heparin
7 Ống EDTA (xét nghiệm huyết học)
8 Ống Oxalat
- Đối với vi sinh lâm sàng : thì lấy máu tĩnh mạch để cấy máu với thể
tích máu nên chiếm 1/10 thể tích môi trường canh thang (lấy 5ml máu cấy vàobình chứa 50ml canh thang) Với bệnh nhân là trẻ nhỏ, lấy khoảng 2 đến 3 mlmáu để cấy Ngoài ra, một số hệ thống cấy máu tự động có chai cấy máu tiêuchuẩn có các vạch ấn định số lượng máu cần lấy cho phù hợp
1.3.2 Bệnh phẩm dịch não tủy
Trang 121.3.2.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm
- Bệnh phẩm dịch não tủy là một trong những bệnh phẩm cần thời gianxét nghiệm nhanh để trả kết quả cho bệnh nhân.Vì vậy khi bệnh nhân có triệuchứng nghi ngờ viêm màng não nên được chỉ định chọc dịch não tủy làm xétnghiệm càng sớm càng tốt
- Lưu ý không nên chỉ định với những bệnh nhân có dấu hiệu gia tăng
áp lực nội sọ Dấu hiệu này được đánh giá qua soi đáy mắt thấy gai thị bị phù
nề Chỉ định cấy dịch não tủy nên được đưa ra càng sớm càng tốt ngay sau khi
có chẩn đoán lâm sàng và trước khi bệnh nhân dùng kháng sinh toàn thân
1.3.2.2 Yêu cầu đối với bệnh phẩm dịch não tủy
- Bệnh phẩm dịch não tủy phải do bác sỹ chuyên khoa trực tiếp chọc dòtrong điều kiện vô trùng
- Thể tích dịch não tủy chọc dò tốt nhất là từ 5-10ml và được chia vào 2tube thủy tinh vô trùng có nút bông chống thấm nước, hoặc 2 lọ vô trùng cónắp chặt rồi gửi ngay đến phòng xét nghiệm Một tube làm xét nghiệm visinh, tube còn lại làm xét nghiệm hóa sinh và xét nghiệm tế bào
- Khi nhận bệnh phẩm dịch não tủy, ngoài thể tích bệnh phẩm, người kỹthuật viên phải chú ý quan sát màu sắc dịch Nếu dịch bị lẫn ít máu là do quátrình chọc dò bị chạm vào mạch máu Trừ trường hợp lẫn nhiều máu làm dịch
có màu đỏ là do bệnh lý của bệnh nhân (xuất huyết não )
- Dịch não tuỷ để phân tích hoá sinh lâm sàng phải được sử lý vớiEDTA để ngăn ngừa sự hình thành cục đông fibrin, tránh cho việc làm sai lạc
số lượng tế bào đếm được
1.3.3 Bệnh phẩm dịch ngoáy họng
1.3.3.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm
- Dịch ngoáy họng được chỉ định khi bệnh nhân có các triệu chứng:đau, rát vùng họng Khám thấy niêm mạc họng sưng đỏ, phù nề, viêmamidan, có màng mủ hay màng giả, phù nề lưỡi, sưng hạch cổ
Trang 13- Phải lấy trước khi bệnh nhân dùng kháng sinh toàn thân.
1.3.3.2 Yêu cầu đối với bệnh phẩm dịch ngoáy họng
- Việc lấy bệnh phẩm dịch ngoáy họng nên được thực hiện trực tiếp bởi
kỹ thuật viên xét nghiệm và được xử lý ngay
- Trong trường hợp điều dưỡng viên lấy bệnh phẩm, cần chuyển ngayđến khoa xét nghiệm, không được để tăm bông ngoáy họng bị khô trước khichuyển đến khoa xét nghiệm Nếu việc vận chuyển chậm trễ hơn 4 giờ thìphải cho tăm bông vào môi trường chuyên chở Stuart-Amies
1.3.4 Bệnh phẩm đờm
1.3.4.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm
- Nên chỉ định lấy mẫu đờm trong các trường hợp bệnh nhân có mộttrong các triệu chứng sau: ho có máu hay ho nhiều, đau ngực, khó thở, có dấuhiệu đặc phổi như có ran âm và rít, giảm tiếng rì rào phế nang, gõ đục khikhám phổi, phim phổi có thâm nhiễm, có nang, có mủ
- Bệnh phẩm được lấy ở giai đoạn càng sớm càng tốt, nên lấy mẫu ngaysau khi có chuẩn đoán lâm sàng
- Nên lấy mẫu trước khi bệnh nhân dùng kháng sinh toàn thân
1.3.4.2 Yêu cầu đối với bệnh phẩm đờm
- Trước khi nhận, người kỹ thuật viên phải kiểm tra xem trong bệnhphẩm có đờm hay không Nếu chỉ toàn nước bọt, phải yêu cầu lấy lại bệnhphẩm ngay
- Bệnh phẩm đờm phải có dịch đặc, quánh, trắng đục có thể có màuvàng hoặc xanh nhạt, đôi khi có lẫn máu tùy bệnh lý của bệnh nhân Nếu chỉchứa dịch nhớt trong, không màu và lẫn nhiều bọt cần yêu cầu lấy lại bệnhphẩm
1.3.5 Bệnh phẩm mủ (mủ áp xe, vết thương nhiễm trùng, nạo mủ xương,
mủ ở đường sinh dục )
1.3.5.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm
Trang 14- Các trường hợp có mủ như mủ áp xe, vết thương nhiễm trùng, baogồm các vết loét, lở, mổ hậu phẫu, loét do nằm lâu, các mẫu nạo mủ xươngkhi giải phẫu đều phải được chỉ định cấy mủ tìm căn nguyên gây bệnh.
- Bệnh phẩm mủ với tổ chức mủ kín cần được chọc hút rồi cho vàoeppendorf hoặc tube/lọ vô trùng có nắp vặn chặt, hay để nguyên trong ốngkim hút mủ
- Với các tổ chức mủ hở (vết thương nhiễm trùng ), cần rửa ổ mủ bằngnước muối sinh lý vô trùng và sát trùng các vùng da lành xung quanh bằngcồn 70% sau đó có thể lấy tăm bông lấy bệnh phẩm ở đáy tổn thương rồi chovào môi trường chuyên chở Stuart-Amies
- Bệnh phẩm mủ sau khi lấy cần được gửi ngay đến phòng xét nghiệm
1.3.5.2 Yêu cầu đối với bệnh phẩm mủ
- Đối với bệnh phẩm mủ đựng trong tube hay lọ phải còn nguyên nắp đậy
- Đối với bệnh phẩm mủ lấy bằng tăm bông phải còn nguyên bệnhphẩm, không được để khô
1.3.6 Bệnh phẩm nước tiểu
1.3.6.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm
- Bệnh phẩm nước tiểu dùng để xét nghiệm hóa sinh có thể lấy nướctiểu vào buổi sáng hoặc lấy nước tiểu 24 giờ
- Đối với vi sinh nên lấy vào buổi sáng, trong đêm bệnh nhân cố nhịntiểu cho đến khi lấy mẫu
- Chỉ định cấy nước tiểu đối với các bệnh nhân có một trong các triệuchứng nghi ngờ nhiễm trùng bàng quang như: đái ra mủ, đái khó, đái ra máu,đái đau, đau tức vùng trên xương mu hay bụng dưới; hay nhiễm trùng thận:như đau lưng, tức cằng vùng góc sống- sườn
1.3.6.2 Yêu cầu đối với bệnh phẩm nước tiểu
- Nước tiểu nên được lấy vào các lọ vô trùng có nắp đậy hoặc nút bôngkhông thấm nước Đối với nước tiểu 24 giờ phải có dung dịch chống thối
Trang 15- Nước tiểu sau khi lấy xong phải được gửi đến phòng xét nghiệm ngay.Nếu chậm trễ, có thể giữ lạnh ở 40C nhưng không được 2 giờ.
1.3.7 Bệnh phẩm phân
1.3.7.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm
- Chỉ định cấy phân khi bệnh nhân bị tiêu chảy hay bị các rối loạn tiêuhóa nghi do bị nhiễm trùng tiêu hóa
- Nên chỉ định cấy phân nếu bệnh nhân có các triệu chứng như: tiêuchảy, lỵ với phân có mủ, nhầy hay máu, bị cơn đau bụng
- Nên lấy phân vào giai đoạn sớm, càng sớm càng tốt
- Lấy phân xét nghiệm trước khi bệnh nhân sử dụng kháng sinh
1.3.7.2 Yêu cầu đối với bệnh phẩm phân
- Bệnh phẩm phân thường dùng trong xét nghiệm Vi sinh và Kí sinhtrùng Xét nghiệm Vi sinh chủ yếu là nhuộm soi, test nhanh và cấy phân Xétnghiệm Kí sinh trùng chủ yếu là xét nghiệm soi tươi, phân phong phú, phântrực tiếp
- Có thể lấy phân tươi, tốt nhất là vùng có nhầy máu mũi, cho vào lọsạch, rộng miệng, không chứa chất sát khuẩn, hóa chất ức chế/tiêu diệt vikhuẩn Phân tươi phải được cấy trong vòng không quá 2 giờ sau khi lấy mẫu
- Nếu không thể mang ngay đến phòng xét nghiệm thì cần cho vào môitrường chuyên chở Cary-Blair và có thể giữ được trong khoảng 48 giờ Trongtrường hợp nghi tả, mẫu phân có thể được cho vào môi trường pepton kiềm đểvừa tăng sinh, vừa chuyên chở đến phòng thí nghiệm
- Có thể lấy mẫu phân bằng tăm bông trực tràng rồi cho vào môi trườngchuyên chở Cũng có thể không cần dùng môi trường chuyên chở nếu mẫutăm bông lấy phân được nuôi cấy trong vòng 30 phút sau khi lấy mẫu
1.3.8 Bệnh phẩm dịch (dịch rửa phế quản, dịch màng phổi, dịch màng bụng )
1.3.8.1 Thời điểm lấy bệnh phẩm