1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng trầm cảm trước sinh của phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2021

59 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng trầm cảm trước sinh của phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2021
Người hướng dẫn ThS. Mạc Đăng Tuấn, BS CKII. Nguyễn Thị Minh Thanh
Trường học Trường Đại học Y Dược, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Dược học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (9)
    • 1.1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu (9)
    • 1.2. Phương pháp chẩn đoán trầm cảm (10)
    • 1.3. Thực trạng trầm cảm ở phụ nữ mang thai trên thế giới và tại Việt (18)
    • 1.4. Hạn chế từ các nghiên cứu trước (23)
  • CHƯƠNG II: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (25)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (25)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (25)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (25)
    • 2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu (25)
    • 2.5. Biến số, chỉ số nghiên cứu (26)
    • 2.6. Quy trình và kỹ thuật thu thập số liệu (0)
    • 2.7. Xử lý và phân tích số liệu (0)
    • 2.8. Đạo đức trong nghiên cứu khoa học (0)
  • CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu (28)
    • 3.2. Tỷ lệ và triệu chứng trầm cảm trước sinh ở thai phụ (32)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm trước sinh (35)
  • CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN (0)
    • 4.1. Tỷ lệ trầm cảm trước sinh ở phụ nữ mang thai (40)
    • 4.2. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm trước sinh ở phụ nữ mang thai (42)
  • KẾT LUẬN (47)
  • PHỤ LỤC (56)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TRẦN THỊ YẾN THỰC TRẠNG TRẦM CẢM TRƯỚC SINH CỦA PHỤ NỮ MANG THAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2021 KHÓA

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Là các thai phụ đã sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 8/2021 đến tháng 11/2021

Các phụ nữ mang thai trong các quý 1, quý 2, và quý 3 thai kỳ đều có thể sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong suốt quá trình nghiên cứu Việc chăm sóc sức khỏe định kỳ giúp đảm bảo sự phát triển an toàn của mẹ và bé, đồng thời giảm thiểu các rủi ro trong thai kỳ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao, phù hợp với từng giai đoạn thai kỳ, góp phần nâng cao sức khỏe tổng thể cho phụ nữ mang thai.

- Tỉnh táo, có khả năng giao tiếp bình thường, có khả năng tham gia phỏng vấn từ 15-20 phút

- Đồng ý tham gia nghiên cứu và ký thỏa thuận tham gia nghiên cứu

- Thai phụ không đồng ý tham gia cuộc khảo sát

- Thai phụ có các vấn đề về nhận thức có khả năng ảnh hưởng đến quá trình phỏng vấn

- Thai phụ trong thời gian nằm viện nội trú.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 09/08/2021 đến 22/11/2021

Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.

Thiết kế nghiên cứu

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 268 thai phụ Cộng 5% cỡ mẫu dự phòng đối tượng không hoàn thành phỏng vấn, tổng cỡ mẫu là 282 thai phụ

Trong nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để tuyển chọn các thai phụ đến khám thai định kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội Các thai phụ đã tham gia khám thai theo lịch trình đều được mời tham gia phỏng vấn cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu cần thiết, đảm bảo tính đại diện và độ chính xác của kết quả nghiên cứu.

Biến số, chỉ số nghiên cứu

Các biến số, chỉ số nghiên cứu sau được thu thập:

Thông tin nhân khẩu học của thai phụ bao gồm tuổi tác, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú và số lượng thành viên trong gia đình Ngoài ra, các yếu tố khác như tuổi và trình độ học vấn của chồng, nghề nghiệp của chồng, thu nhập trung bình của gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hoàn cảnh sinh sống và đặc điểm xã hội của người mẹ Những dữ liệu này giúp đánh giá tổng quan về điều kiện kinh tế, trình độ học vấn và môi trường sống của thai phụ, từ đó hỗ trợ xây dựng các chiến lược chăm sóc sức khỏe phù hợp và hiệu quả hơn.

- Thông tin về sức khỏe tinh thần: sự lo lắng, hoảng sợ, bồn chồn, vui vẻ, hài hước, hào hứng,…

- Phiếu thu thập thông tin: thông tin nhân khẩu học và thông tin sức khỏe tinh thần của thai phụ (Phụ lục)

- Sử dụng thang đo dựa theo bộ câu hỏi Edinburgh Postnatal Depression

Thang đo sàng lọc trầm cảm trước sinh được xây dựng dựa trên nghiên cứu gồm 1014 câu hỏi nhằm đánh giá tâm trạng của phụ nữ trong vòng 7 ngày qua Trong quá trình phân tích, tôi đã chọn ra 10 câu hỏi tiêu biểu phù hợp để đánh giá mức độ trầm cảm của thai phụ Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn trả lời, được tính điểm theo thang điểm từ 0 đến 3 để xác định mức độ trầm cảm rõ ràng hơn Thang đo này giúp các chuyên gia y tế nhanh chóng xác định nguy cơ trầm cảm trước sinh, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời, nâng cao sức khỏe tinh thần của bà mẹ trong thai kỳ.

Trong bài viết này, điểm số dành cho các câu hỏi dao động từ 0 đến 3 điểm, dựa trên cách trả lời của người tham gia Các câu 2, 3, 6, 8 được tính điểm tăng dần từ 0 đến 3 điểm, trong khi các câu 4, 7, 9 được tính điểm ngược lại từ 3 đến 0 điểm Tổng điểm tối đa có thể đạt được là 30 điểm, và mức độ trầm cảm càng cao thì triệu chứng càng nặng Ngưỡng đánh giá chẩn đoán mức độ trầm cảm là 10 điểm, giúp phân loại chính xác mức độ bệnh.

+ Tổng điểm các câu trả lời < 10 điểm: Không có dấu hiệu trầm cảm trong thời kỳ mang thai

+ Tổng điểm các câu trả lời ≥ 10 điểm: Có dấu hiệu trầm cảm trong thời kỳ mang thai

2.6.2.7 Quy trình và kỹ thuật thu thập số liệu

Formatted: Heading 3, Left, Indent: First line: 0",Space Before: 12 pt, Numbered + Level: 1 +Numbering Style: 1, 2, 3, … + Start at: 1 +Alignment: Left + Aligned at: 0.25" + Indent at: 0.5", Tab stops: Not at 0.49" + 0.59"

Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc gồm 7 phần chính: nhân khẩu học, đặc điểm thai sản, cảm xúc khi mang thai, mối quan hệ với chồng/người yêu, thông tin sức khỏe, đặc điểm sức khỏe tinh thần, và tình trạng cũng như ý thức sử dụng thuốc Bộ câu hỏi này được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu và các điều dưỡng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, với các điều tra viên được tập huấn để đảm bảo thu thập dữ liệu đồng nhất, chất lượng cao.

Khi đến khám thai sản định kỳ, thai phụ sẽ được mời tham gia vào nghiên cứu bởi nghiên cứu viên trong một phòng riêng để đảm bảo sự riêng tư Họ sẽ được giới thiệu các thông tin cơ bản về nghiên cứu và nếu đồng ý, sẽ ký vào bản đồng thuận tham gia Quá trình phỏng vấn sẽ được tiến hành bởi nghiên cứu viên và điều tra viên, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 15 đến 20 phút.

2.7.2.8 Xử lý và phân tích số liệu

Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng Stata 16.0, áp dụng thống kê mô tả và thống kê suy luận để đánh giá các biến số Kiểm định bình phương được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa các nhóm, với mức ý nghĩa thống kê được xác định khi giá trị p < 0,05.

2.8.2.9 Đạo đức trong nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội và Tuyên ngôn Helsinki trong nghiên cứu y học để đảm bảo đạo đức và an toàn Quản lý quyền con người được đặt lên hàng đầu; mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật tuyệt đối Các đối tượng nghiên cứu hoàn toàn có quyền từ chối tham gia mà không bị phân biệt đối xử, thể hiện sự tôn trọng quyền tự do lựa chọn của họ Mục tiêu chính của nghiên cứu là bảo vệ, nâng cao sức khỏe cộng đồng, không nhằm mục đích thương mại hay lợi ích riêng tư.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu học

3.1.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu

Thông tin chung Số lượng

Trung học phổ thông trở xuống

Cao đẳng/trung cấp trở lên

Độ tuổi trung bình của thai phụ là 30,3 ± 4,88, trong đó thấp nhất là 19 tuổi và cao nhất là 51 tuổi Trong tổng số 282 thai phụ, 79,4% có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên, có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm lao động trí óc (84,7%) và nhóm lao động chân tay (15,3%) Phần lớn thai phụ sống ở thành phố, chiếm 27,3% Hiện tại, 18,8% các thai phụ đang mắc bệnh tại thời điểm nghiên cứu, tương đương 53 người trong tổng số.

3.1.1.2 Đặc điểm chung của gia đình đối tượng tham gia nghiên cứu

Bảng 3.2: Đặc điểm chung của gia đình đối tượng nghiên cứu

Thông tin chung Số lượng

Trung học phổ thông trở xuống

Cao đẳng/trung cấp trở lên

Số người chung sống trong 6 tháng

Độ tuổi trung bình của chồng/người yêu của đối tượng nghiên cứu là 33,2 ± 5,54, với mức thấp nhất 19 tuổi và cao nhất 54 tuổi Phần lớn chồng/người yêu của các thai phụ có trình độ học vấn từ trung cấp đến cao đẳng trở lên, chiếm 76,2% Các thai phụ có chồng/người yêu làm công việc lao động trí óc chiếm tỷ lệ cao hơn so với lao động chân tay, lần lượt là 78,4% so với 21,6% Theo cấu trúc gia đình, 21,3% gia đình có dưới 2 thành viên, trong khi tỷ lệ gia đình có hơn 2 thành viên chiếm tới 78,7%.

Bảng 3.3: Đặc điểm thai sản

Thông tin thai sản Số lượng

Số lần xảy thai, thai lưu

Lần mang thai này có theo kế hoạch

Vấn đề bất thường trong lần mang thai này

Phần lớn thai phụ tham gia nghiên cứu có ít hơn 2 con, chỉ 12 thai phụ (4,3%) đã có 3 con trở lên Thai phụ mang thai lần đầu chiếm tỷ lệ cao nhất, với 77,3%, trong khi tỷ lệ thai phụ từng bị sảy thai hoặc thai lưu là 22,7% Đa số các thai phụ đang ở giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ, chiếm 89,3% với 252 người Hầu hết các thai phụ đều mang thai theo kế hoạch, chiếm 63,1%, còn 24,8% gặp phải các vấn đề bất thường như dọa sẩy thai, ra máu kéo dài, thiếu hoặc ối ít trong lần mang thai này.

3.1.3 Mối quan hệ với chồng/ người yêu

Bảng 3.4: Đặc điểm mối quan hệ với chồng/người yêu

Chồng/người yêu đáp ứng nhu cầu của thai phụ

Mức độ mối quan hệ đáp ứng với kỳ vọng ban đầu của thai phụ

Trung bình Đáp ứng hoàn toàn

Tần suất phát sinh vấn đề

Khoảng 83% chồng hoặc người yêu của các thai phụ trong nghiên cứu đáp ứng tốt các nhu cầu của họ, góp phần tạo sự an tâm và hỗ trợ tích cực cho quá trình mang thai Những mối quan hệ đạt kỳ vọng ban đầu của thai phụ chiếm tỷ lệ 64,5%, cho thấy phần lớn các bà mẹ tương lai hài lòng với tình cảm và sự quan tâm từ người đồng hành Ngoài ra, các mối quan hệ này rất ít khi phát sinh vấn đề, với tỷ lệ 69,1% trong số 195 thai phụ, điều này phản ánh mức độ ổn định và hài hòa trong các mối quan hệ tình cảm của họ.

Tỷ lệ và triệu chứng trầm cảm trước sinh ở thai phụ

3.2.1 Tỷ lệ trầm cảm trước sinh ở phụ nữ mang thai

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm trước sinh ở thai phụ

Nhận xét: Theo tiêu chuẩn đánh giá của thang đo EPDS với điểm cắt

9/10: có 68 trên tổng số 282 thai phụ có biểu hiệnbị trầm cảm trong thời kỳ mang thai, chiếm tỉ lệ 24,1% (Biểu đồ 3.1)

Biểu đồ 3.2: Phân bố điểm theo thang điểm EPDS

Theo thang đo EPDS, điểm trung bình của các thai phụ tham gia nghiên cứu là 7,0 ± 3,77 điểm, với mức điểm thấp nhất là 0 và cao nhất là 22 Khoảng 47,1% thai phụ có tổng điểm từ 5-9, chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là 28,7% có tổng điểm dưới 5, và 21,3% có tổng điểm từ 10-14 (Xem Biểu đồ 3.2).

Trầm cảm Không trầm cảm

3.2.2 Triệu chứng trầm cảm trong khi mang thai

Theo Bảng Phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), các triệu chứng trầm cảm ở thai phụ đã được phân loại rõ ràng, bao gồm những biểu hiện như tâm trạng buồn rầu kéo dài, mất hứng thú trong sinh hoạt hàng ngày và thay đổi trong cảm xúc Các dấu hiệu này giúp xác định chính xác tình trạng trầm cảm ở phụ nữ mang thai, từ đó hướng đến chẩn đoán và điều trị phù hợp Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của mẹ và thai nhi.

Bảng 3.5: Các triệu chứng trầm cảm

Các triệu chứng Số lượng

Cảm thấy như bị chậm lại:

Cảm thấy căng thẳng, tổn thương:

 Thỉnh thoảng nhưng không thường xuyên

Cảm giác hoảng sợ, bồn chồn:

Bất chợt cảm thấy hoảng loạn:

Các triệu chứng Số lượng

Giảm quan tâm, thích thú

Mức độ thích những điều đã từng thích:

 Không còn nhiều như vậy

Tần suất có thể cười và thấy những điều hài hước xung quanh:

 Nhiều như tôi có thể

 Bây giờ thì không nhiều lắm

 Hiển nhiên là không nhiều

75,2 20,6 2,1 2,1 Tần suất cảm thấy vui tươi:

Không còn hứng thú quan tâm đến ngoại hình:

 Tôi không chăm sóc nhiều như đã từng

 Tôi có thể chăm sóc ngoại hình như đã từng

 Tôi vẫn luôn chăm sóc ngoại hình như bình thường

Tần suất có thể ngồi tĩnh lặng và thư giãn:

Các yếu tố đặc trưng của TCTS ở nhóm đối tượng nghiên cứu bao gồm khó tĩnh lặng và thư giãn (40,8%), cảm giác bị chậm lại (19,9%), mất hứng thú và quan tâm đến ngoại hình (18,8%), cùng với cảm giác lo lắng (15,3%).

Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm trước sinh

3.3.1 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân của thai phụ và trầm cảm trước sinh:

Bảng 3.6: Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân của thai phụ và trầm cảm trong khi mang thai

Kết quả phân tích cho thấy, mức độ hài lòng với cuộc sống của thai phụ có mối liên hệ chặt chẽ với TCTS Tỷ số chênh về nguy cơ trầm cảm ở những người có mức độ hài lòng thấp so với những người có mức độ hài lòng cao cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì sự hài lòng trong cuộc sống để giảm thiểu nguy cơ mắc trầm cảm trong thời kỳ mang thai Đây là một yếu tố cần được chú ý trong công tác chăm sóc sức khỏe tiền sản nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của thai phụ và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần.

- Trung học phổ thông trở xuống

- Cao đẳng/trung cấp trở lên

Mức độ hài lòng với cuộc sống

30 thai phụ có mức độ hài lòng với cuộc sống dưới 8 điểm so với những thai phụ cho điểm từ 8 trở lên là 2,8 lần

Phân tích cho thấy, thai phụ dưới 30 tuổi có nguy cơ TCTS cao hơn gấp 1,3 lần so với những người trên 30 tuổi Ngoài ra, những thai phụ có trình độ học vấn từ trung cấp hoặc cao đẳng trở lên có nguy cơ TCTS cao gấp 1,5 lần so với các thai phụ có trình độ học vấn thấp hơn Tuy nhiên, các yếu tố như độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và tình trạng mắc bệnh hiện tại của thai phụ không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy chúng không liên quan đến nguy cơ TCTS.

3.3.2 Mối liên quan giữa đặc điểm, hành vi của người chồng với trầm cảm trước sinh ở thai phụ:

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa đặc điểm của người chồng và trầm cảm ở phụ nữ trong khi mang thai

Kết quả phân tích cho thấy, yếu tố liên quan chính đến nguy cơ TCTS ở thai phụ là độ tuổi của chồng hoặc người yêu Cụ thể, nhóm đối tượng có chồng dưới 33 tuổi có nguy cơ TCTS cao hơn so với nhóm có chồng từ 33 tuổi trở lên Đây là mối liên hệ đáng chú ý cần được chú ý trong các chiến lược phòng ngừa và chăm sóc sức khỏe sinh sản.

- Trung học phổ thông trở xuống

- Cao đẳng/trung cấp trở lên

Trong nghiên cứu, số lượng tượng còn lại là 1,8 lần Thai phụ có chồng lao động trí óc có nguy cơ trầm cảm cao gấp 1,8 lần so với các nhóm đối tượng khác; tuy nhiên, yếu tố này không đạt ý nghĩa thống kê Trình độ học vấn của chồng hoặc người yêu của thai phụ có chỉ số p lớn hơn 0,05, cho thấy không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và nguy cơ trầm cảm trong nhóm nghiên cứu.

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa hành vi của người chồng và trầm cảm ở phụ nữ trong khi mang thai

Kết quả phân tích cho thấy, tần suất phát sinh vấn đề và mức độ so với kỳ vọng ban đầu của thai phụ là những yếu tố quan trọng liên quan đến nguy cơ TCTS Thai phụ có mối quan hệ phát sinh nhiều vấn đề so với nhóm đối tượng khác có nguy cơ TCTS cao hơn gấp 1,8 lần Đồng thời, nhóm thai phụ có mối quan hệ đạt kỳ vọng ở mức trung bình hoặc kém so với các thai phụ khác có nguy cơ TCTS cao hơn gấp 2,8 lần Bên cạnh đó, nhóm thai phụ có chồng/người yêu đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống ở mức trung bình có khả năng gặp TCTS cao hơn gấp 1,6 lần so với các đối tượng còn lại, tuy nhiên yếu tố này không có ý nghĩa thống kê khi chỉ số p lớn hơn 0,05.

Chồng đáp ứng nhu cầu

Mức độ so với kỳ vọng ban đầu của thai phụ

Tần suất phát sinh vấn đề

3.3.3 Mối liên quan giữa gia đình và trầm cảm trước sinh ở thai phụ

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa gia đình và trầm cảm ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai

Kết quả phân tích cho thấy, các yếu tố như số người chung sống trong gia đình, nơi sinh sống của thai phụ và mức độ quan tâm, hỗ trợ từ gia đình không có ý nghĩa thống kê với nguy cơ trầm cảm trước sinh, do p > 0,05 Tuy nhiên, nhóm thai phụ thường xuyên hoặc thi thoảng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ có nguy cơ trầm cảm trước sinh cao hơn 1,7 lần so với nhóm hiếm khi nhận được sự quan tâm từ gia đình Trong khi đó, số người chung sống trong 6 tháng dưới 2 người và sinh sống tại vùng nông thôn không đều có ảnh hưởng đáng kể, với tỷ lệ chênh về nguy cơ TCTS khoảng 1,3 lần so với các nhóm đối tượng khác.

Số người chung sống trong 6 tháng

Mức độ được quan tâm, giúp đỡ từ gia đình

Hiếm khi/Không bao giờ

3.3.4 Mối liên quan giữa đặc điểm thai sản và trầm cảm trước sinh

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa đặc điểm thai sản và trầm cảm ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai

Kết quả phân tích cho thấy, các vấn đề bất thường trong thai kỳ như dọa sẩy thai, ra máu kéo dài, có liên quan đến trầm cảm tiền sản với tỷ số chênh lệch 1,8 lần giữa nhóm gặp vấn đề bất thường và nhóm còn lại Trong khi đó, các yếu tố liên quan đến đặc điểm thai sản như số con, số lần sẩy thai hoặc thai lưu, mức độ mong muốn có con và việc mang thai theo kế hoạch không cho thấy ý nghĩa thống kê vì p lớn hơn 0,05.

Số lần xảy thai, thai lưu

Lần mang thai này có theo kế hoạch

Vấn đề bất thường trong lần mang thai này

BÀN LUẬN

Tỷ lệ trầm cảm trước sinh ở phụ nữ mang thai

Trong nghiên cứu này, với tổng số 282 thai phụ tham gia nghiên cứu có

68 thai phụ có biểu hiệnmắc trầm cảm trước sinh, chiếm tỷ lệ 24,1% Tỷ lệ này nằm trong khoảng dao động từ 15% đến 65% theo nghiên cứu của Dadi năm

2020 [3] và trong khoảng từ 5% đến 25% được công bố bởi nhóm nghiên cứu của Mai Thị Huệ năm 2020 [6]

Tổng quan, tỷ lệ trầm cảm trước sinh trong nghiên cứu này có sự chênh lệch so với các nghiên cứu quốc tế đã công bố, như tỷ lệ 20,7% theo York X năm 2021 Điều này phản ánh sự đa dạng về nền văn hóa, thời điểm đo và phương pháp sử dụng thang đo trầm cảm như BDI, HAMD, Zung-SDS hay EPDS, cùng với cách chọn điểm cắt và đối tượng nghiên cứu khác nhau Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ trầm cảm trước sinh được ghi nhận trong các nghiên cứu, làm nổi bật sự phức tạp và đa dạng trong việc đánh giá trầm cảm trong thai kỳ.

Bảng 4: Tỷ lệ thai phụ có biểu hiện trầm cảm trước sinh trên thế giới

Tác giả Địa điểm Năm Tỷ lệ TC

NC của chúng tôi Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 2021 24,1%

Tại Việt Nam, tỷ lệ thu được trong nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả của Đàm Như Bình (2021) và Trần Thị Trúc Phương (2021), lần lượt là 27,1% và 28,7% [4,22] Nghiên cứu của Đàm Như Bình có điểm tương đồng khi sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang và thang đo trầm cảm EPDS với điểm cắt tại 10 điểm [22] Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu của Đàm Như Bình tập trung vào đối tượng là phụ nữ mang thai ở tháng thứ 3 cuối cùng của thai kỳ, điều này có thể giải thích sự chênh lệch tỷ lệ do các thai phụ trong giai đoạn này thường dễ lo lắng, suy nghĩ về quá trình sinh đẻ và những mối lo trong việc chăm sóc con sau sinh.

Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Thị Trúc Phương tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2021, đã sử dụng thang đo EPDS làm công cụ đánh giá, với điểm cắt tại 13 để phân loại trầm cảm sau sinh, tập trung vào các thai phụ trong 3 tháng cuối thai kỳ, điều này tương tự với nghiên cứu của Đàm Như Bình Sự khác biệt về tỷ lệ dự kiến có thể do ảnh hưởng của vị trí địa lý, văn hóa và điều kiện kinh tế khu vực Ngoài ra, cả hai nghiên cứu đều thực hiện trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2021, thời điểm dịch Covid-19 bùng phát đợt 3 tại Việt Nam, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế và sức khỏe của các gia đình, làm tăng nỗi lo và tỷ lệ trầm cảm.

Nghiên cứu tại Việt Nam về tỷ lệ thai phụ có biểu hiện trầm cảm trước sinh cho thấy kết quả tương đồng, với Mai Thị Huệ (2020) ghi nhận tỷ lệ là 24,5% và Phạm Thị Thu Phương (2021) là 24,0% Cả hai nghiên cứu đều tập trung vào thai phụ ở các tuần thai khác nhau sử dụng dịch vụ tại các bệnh viện sản, sử dụng thang đo EPDS với điểm cắt 10 để sàng lọc trầm cảm trước sinh Tuy nhiên, nghiên cứu của Mai Thị Huệ có một số điểm khác biệt về quy mô, thời gian và mô hình thực hiện, điều này có thể giải thích cho sự chênh lệch không đáng kể trong tỷ lệ cũng như những khác biệt về các yếu tố liên quan.

Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm trước sinh ở phụ nữ mang thai

4.2.1 Yếu tố cá nhân của thai phụ

Kết quả cho thấy, độ tuổi của thai phụ không liên quan đến TCTS, trái ngược với nghiên cứu của Trần Thị Trúc Phương tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, khẳng định rằng phụ nữ trên 25 tuổi có nguy cơ TCTS cao hơn gấp 3,9 lần Một nghiên cứu khác tại Việt Nam của nhóm tác giả Đàm Như Bình cũng chỉ ra rằng nhóm tuổi mẹ từ 25 trở lên có liên quan đến nguy cơ TCTS cao hơn.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có 34 yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ trầm cảm trong thai kỳ, đặc biệt là nhóm tuổi 25-34 có nguy cơ tăng gấp 4,2 lần so với nhóm ≥35 tuổi [8] Các nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng tuổi mẹ là yếu tố liên quan đến TCTS [12,23] Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, độ tuổi trung bình của thai phụ là 30 tuổi và phần lớn đã có ít nhất một con, cùng với tỷ lệ thai phụ mang thai theo kế hoạch lên đến 63,1%, cho thấy họ thường có kinh nghiệm và chuẩn bị tâm lý tốt để đón nhận thành viên mới trong gia đình, khiến tuổi mẹ không có ý nghĩa thống kê rõ ràng.

Nghiên cứu cho thấy nghề nghiệp của thai phụ không có ý nghĩa thống kê liên quan đến TCTS, do đó yếu tố này không ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé Trong khi đó, một nghiên cứu năm 2019 tại Trung Quốc lại chỉ ra rằng những thai phụ làm việc toàn thời gian có nguy cơ trầm cảm thấp hơn (OR=0,608), điều này trái ngược với kết quả của nghiên cứu hiện tại Nguyên nhân có thể do phần lớn đối tượng nghiên cứu là lao động trí óc (78,4%), có công việc ổn định, thu nhập cao và chế độ thai sản hợp lý, giúp giảm bớt nỗi lo về tài chính trong thời kỳ mang thai và sau sinh.

Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của phụ nữ mang thai không liên quan đến TCTS Tuy nhiên, phát hiện này trái ngược với các nghiên cứu của Mai Thị Huệ năm 2020, cho rằng phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn có nguy cơ TCTS cao hơn Ngoài ra, Ying Hu và cộng sự năm 2019 cũng khẳng định trình độ học vấn có mối liên hệ với TCTS, cho thấy sự đa dạng trong các kết quả nghiên cứu về yếu tố này.

Các thai phụ có điểm hài lòng về cuộc sống thấp hơn 7 điểm có nguy cơ mắc trầm cảm cao gấp 2,8 lần so với những người có điểm từ 7 trở lên Nghiên cứu cho thấy, những thai phụ này thường gặp khó khăn trong các mối quan hệ với chồng hoặc người yêu, thiếu sự quan tâm từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, đồng thời gặp vấn đề về sức khỏe cá nhân Một nghiên cứu năm 2015 của Srinivasan và cộng sự tại vùng nông thôn Chennai đã xác nhận rằng mức độ hài lòng trong cuộc sống của thai phụ bị trầm cảm thấp hơn rõ rệt so với những phụ nữ không bị trầm cảm trước sinh, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa cảm xúc tích cực và sức khỏe tâm thần trong thai kỳ.

4.2.2 Yếu tố cá nhân của chồng/người yêu thai phụ

Kết quả nghiên cứu cho thấy, những thai phụ có chồng/người yêu dưới

Ở độ tuổi 33, tỷ lệ mắc trầm cảm của các thai phụ cao hơn gấp 1,8 lần so với những người phụ nữ mang thai khác, cho thấy nguy cơ trầm cảm tăng đáng kể trong nhóm này Đáng chú ý, các đối tượng có chồng hoặc người yêu dưới 33 tuổi là nhóm chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, đặc biệt khi trong số 68 thai phụ mắc trầm cảm trước sinh, gần gấp đôi số thai phụ có chồng hoặc người yêu trên 33 tuổi Điều này cho thấy yếu tố tuổi tác của chồng hoặc người yêu đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc trầm cảm khi mang thai.

Hiện nay chưa có nghiên cứu nào chứng minh mối liên hệ giữa độ tuổi của chồng/người yêu và trầm cảm trước sinh, nhưng nghiên cứu này cho thấy độ tuổi của người đàn ông cũng ảnh hưởng đến tình trạng TCTS ở thai phụ Những người chồng dưới 33 tuổi thường chưa trưởng thành và tâm lý chưa thật sự chín chắn để quan tâm cảm xúc vợ trong thời kỳ nhạy cảm của mang thai Thêm vào đó, họ thường tập trung vào công việc và ít dành thời gian chăm sóc vợ, đồng thời kinh tế chưa vững vàng, gây áp lực tài chính trong giai đoạn mang thai, sinh đẻ và nuôi dưỡng con, góp phần gây trầm cảm cho phụ nữ.

Nghiên cứu cho thấy nghề nghiệp và trình độ học vấn của chồng hoặc người yêu thai phụ không ảnh hưởng đến tỷ lệ TCTS Điều này chủ yếu bởi vì hầu hết các thai phụ đều có công việc ổn định và chế độ thai sản phù hợp, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính và lo lắng về kinh tế trong quá trình mang thai.

4.2.3 Mối quan hệ với chồng/người yêu của thai phụ

Nghiên cứu cho thấy hơn 1/3 thai phụ cảm thấy mối quan hệ hiện tại không đáp ứng kỳ vọng ban đầu, gây ảnh hưởng lớn đến tâm lý và sinh lý của họ Tỷ lệ trầm cảm ở những thai phụ này cao gấp 2,8 lần so với các đối tượng khác, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc tinh thần trong giai đoạn mang thai.

Gần 1/3 số thai phụ đang trong mối quan hệ có tần suất gặp vấn đề trung bình đến thường xuyên, làm tăng nguy cơ trầm cảm gấp 1,8 lần Nghiên cứu này phù hợp với phân tích năm 2018 của WHO dựa trên dữ liệu từ 2000-2018 trên 161 quốc gia, cho thấy gần 30% phụ nữ trên toàn thế giới từng bị bạo lực thể chất và/hoặc tình dục Phân tích của WHO năm 2013 cũng nhấn mạnh rằng phụ nữ từng bị bạo lực do bạn tình có nguy cơ mắc trầm cảm gấp đôi Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối quan hệ hôn nhân không thuận lợi liên quan trực tiếp đến trầm cảm tiền sản ở phụ nữ mang thai, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của bà mẹ và thai nhi.

Nghiên cứu của Đàm Như Bình và cộng sự năm 2021 tại Việt Nam cho thấy nhóm thai phụ thường xuyên mâu thuẫn với chồng có nguy cơ trầm cảm cao gấp 3,97 lần Bên cạnh đó, nghiên cứu của Trần Thị Trúc Phương năm 2021 cũng chỉ ra rằng các xung đột trong mối quan hệ hôn nhân làm tăng nguy cơ trầm cảm tiền sản lên đến 8,5 lần Những kết quả này khẳng định mối liên hệ chặt chẽ antara xung đột trong mối quan hệ và tỷ lệ trầm cảm trước sinh, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của phụ nữ mang thai.

Trong quá trình nghiên cứu, phụ nữ thường cảm thấy bị bỏ qua, từ chối hỗ trợ và bị kiểm soát bởi chồng hoặc người yêu, phản ánh những hành vi tiêu cực ảnh hưởng đến tâm lý và quyền lợi của họ Các nghiên cứu về bạo lực gia đình tại Việt Nam đã ghi nhận tình trạng căng thẳng trong hôn nhân, trong đó, người chồng sử dụng và duy trì quyền lực của nam giới để kiểm soát vợ qua các hành vi bạo lực thể chất và tinh thần, đồng thời bỏ qua các nhu cầu chính đáng của vợ.

4.2.4 Đặc điểm gia đình của thai phụ

Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố nơi sinh sống của gia đình không ảnh hưởng đến tỷ lệ TCTS ở thai phụ, trong đó nhóm thai phụ sống ở nông thôn có nguy cơ TCTS cao hơn thành phố 1,3 lần Trái ngược với nghiên cứu của Mai Thị Huệ, xác định sống ở nông thôn có nguy cơ TCTS thấp hơn, một nghiên cứu của Habtamu Belete A cho thấy phụ nữ thành thị bị TCTS cao gấp 7 lần so với nhóm khác Nguyên nhân có thể do các vùng nông thôn Việt Nam vẫn còn chênh lệch về thái độ yêu thích giới tính thai nhi, gây áp lực tinh thần và kinh tế, làm tăng lo lắng cho thai phụ trong quá trình mang thai Ngoài ra, phần lớn thai phụ trong nghiên cứu sống ở thành thị, có trình độ học vấn trung cấp hoặc cao đẳng trở lên, giúp giảm bớt nỗi lo về kinh tế và chuẩn bị tốt hơn cho thai kỳ.

Nghiên cứu của Trần Thị Trúc Phương tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2021 cho thấy, thiếu sự tâm sự, chia sẻ từ gia đình, bạn bè liên quan đến tăng nguy cơ TCTS gấp 2,7 lần ở thai phụ Trong khi đó, nghiên cứu của Đàm Như Bình lại phát hiện rằng việc thai phụ ít nhận được sự quan tâm từ gia đình có liên quan đến TCTS (OR=4,29), cho thấy mức độ chăm sóc và quan tâm từ người thân đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ TCTS đối với bà mẹ Nguyên nhân có thể liên quan đến độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng trong các nghiên cứu này, góp phần giải thích sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu.

Hầu hết những người có công việc ổn định và trình độ học vấn cao đều chuẩn bị đầy đủ về mặt tâm sinh lý để đối mặt với quá trình mang thai và nuôi con Điều này giúp họ duy trì sự cân bằng tâm lý và thể chất, đảm bảo sức khỏe tốt cho cả mẹ và bé trong suốt thời kỳ mang thai Việc chuẩn bị tâm lý kỹ lưỡng góp phần giảm căng thẳng, lo lắng và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng bé yêu một cách nhẹ nhàng, hiệu quả.

Ngày đăng: 01/02/2023, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nhị TT. Thực trạng trầm cảm và hành vi tìm kiếm hỗ trợ ở phụ nữ mang thai, sau sinh tại huyện Đông Anh, Hà Nội. Luận án tiến sĩ Y tế công cộng.Trường đại học Y Hà Nội; 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng trầm cảm và hành vi tìm kiếm hỗ trợ ở phụ nữ mang thai, sau sinh tại huyện Đông Anh, Hà Nội
Tác giả: Nhị TT
Nhà XB: Trường đại học Y Hà Nội
Năm: 2018
14. giới TcYtT. “Rối loạn khí sắc”, Phân loại bệnh Quốc Tế Lần thứ 10 về các Rối loạn Tâm thần và Hành vi, Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại bệnh Quốc Tế Lần thứ 10 về các Rối loạn Tâm thần và Hành vi, Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Tác giả: giới TcYtT
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1992
15. Nguyễn Viết Thiêm, Bưởi LT. “Rối loạn cảm xúc”, Bệnh học Tâm thần Phần Nội sinh, Tập bài giảng Sau Đại học. Trường Đại học Y Hà Nội. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn cảm xúc
Tác giả: Nguyễn Viết Thiêm, Bưởi LT
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2001
16. Chao RCL, Manita J. DSM‐IV‐TR: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders. The Encyclopedia of Cross ‐ Cultural Psychology. 2013; 1:445-447 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DSM‐IV‐TR: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders
Tác giả: Chao RCL, Manita J
Nhà XB: The Encyclopedia of Cross ‐ Cultural Psychology
Năm: 2013
42. Marshall J, Bethell K. Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS): Translated Versions–Validated. Perth, Western Australia: Department of Health, Government of Western Australia. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS): Translated Versions–Validated
Tác giả: Marshall J, Bethell K
Nhà XB: Department of Health, Government of Western Australia
Năm: 2006
43. People MHCaY. Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS). Muticultural Health Communication Service. 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS)
Tác giả: People MHCaY
Nhà XB: Muticultural Health Communication Service
Năm: 2019
51. Keyes CL, Goodman SH. Women and depression: A handbook for the social, behavioral, and biomedical sciences. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Women and depression: A handbook for the social, behavioral, and biomedical sciences
Tác giả: Keyes CL, Goodman SH
Năm: 2006
57. Phương PTT. Trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phương PTT
Năm: 2020
1. Tho Nhi T, Hanh NTT, Hinh ND và cộng sự. Intimate Partner Violence among Pregnant Women and Postpartum Depression in Vietnam: A Longitudinal Study. Biomed Res Int. 2019; 2019:4717485.doi:10.1155/2019/4717485 Link
5. Accortt EE, Cheadle AC, Dunkel Schetter C. Prenatal depression and adverse birth outcomes: an updated systematic review. Matern Child Health J.2015; 19(6):1306-37. doi:10.1007/s10995-014-1637-2 Link
6. Beyene GM, Azale T, Gelaye KA và cộng sự. Depression remains a neglected public health problem among pregnant women in Northwest Ethiopia. Arch Public Health. 2021; 79(1):132. doi:10.1186/s13690-021- 00649-6 Link
7. Alvarado-Esquivel C, Sifuentes-Alvarez A, Salas-Martinez C. Depression in teenager pregnant women in a public hospital in a northern mexican city: prevalence and correlates. J Clin Med Res. 2015; 7(7):525-33.doi:10.14740/jocmr2156w Link
8. Hue MT, Nguyet Van NH, Nha PP và cộng sự. Factors associated with antenatal depression among pregnant women in Vietnam: A multisite cross- sectional survey. Health Psychol Open. 2020; 7(1):2055102920914076.doi:10.1177/2055102920914076 Link
10. Luong-Thanh BY, Nguyen LH, Murray L và cộng sự. Depression and its associated factors among pregnant women in central Vietnam. Health Psychol Open. 2021; 8(1):2055102920988445. doi:10.1177/2055102920988445 Link
17. Kroenke K, Spitzer RL, Williams JB. The PHQ-9: validity of a brief depression severity measure. J Gen Intern Med. 2001; 16(9):606-13.doi:10.1046/j.1525-1497.2001.016009606.x Link
20. Cox JL, Holden JM, Sagovsky R. Detection of postnatal depression. Development of the 10-item Edinburgh Postnatal Depression Scale. Br J Psychiatry. 1987; 150:782-6. doi:10.1192/bjp.150.6.782 Link
21. Levis B, Negeri Z, Sun Y và cộng sự. Accuracy of the Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) for screening to detect major depression among pregnant and postpartum women: systematic review and meta-analysis of individual participant data. Bmj. 2020; 371:m4022. doi:10.1136/bmj.m4022 Link
23. Shakeel N, Eberhard-Gran M, Sletner L và cộng sự. A prospective cohort study of depression in pregnancy, prevalence and risk factors in a multi-ethnic population. BMC Pregnancy Childbirth. 2015; 15:5. doi:10.1186/s12884-014- 0420-0 Link
24. Hu Y, Wang Y, Wen S và cộng sự. Association between social and family support and antenatal depression: a hospital-based study in Chengdu, China. BMC Pregnancy Childbirth. 2019; 19(1):420. doi:10.1186/s12884-019- 2510-5 Link
29. Shidhaye P, Shidhaye R, Phalke V. Association of gender disadvantage factors and gender preference with antenatal depression in women: a cross- sectional study from rural Maharashtra. Soc Psychiatry Psychiatr Epidemiol.2017; 52(6):737-748. doi:10.1007/s00127-017-1380-2 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w