Ở Việt Nam, từ sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều bước thăng trầm : từ khủng hoảng trầm trọng với mức độ lạm phát lên đến 3 con số, t
Trang 1VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁTỞ NƯỚC
TA HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Tình hình nghiên cứu 4
7 Hướng đóng của đề tài 5
8 Cấu trúc đề tài 5
B PHẦN NỘI DUNG: Chương 1: Cơ sở lý luận về lạm phát: 6
1.1 Khái niệm lạm phát 6
1.2 Phân loại lạm phát 6
1.3 Đo lường lạm phát và các chỉ tiêu đo lường lạm phát 7
1.3.1 Đo lường lạm phát 7
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường lạm phát 8
1.4 Nguyên nhân của lạm phát 9
1.5 Tác động của lạm phát 10
Chương 2: Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2011:.12 2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2011 12
2.2 Nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam 23
2.3.Tác động của lạm phát đối với kinh tế-xã hội 30
Chương 3: Các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay:32 3.1 Thực hiện chính sách tài chính- tiền tệ một cách thận trọng, linh hoạt và hiệu quả 32
3.2.Thực hiện chính sách tài khóa thu hẹp, thắt chặt đầu tư công, giảm bội chi ngân sách 35
3.3 Chính sách ổn định tỷ giá 36
3.4 Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng 37
C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường
Nó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và ảnh tới mọi
hệ thống kinh tế dù phát triển hay không
Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoá-tiền tệ.Nó có tính thường trực,nếu không thường xuyên kiểm soát,không có những giải pháp chống lạm phát thường trực,đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy
ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế độ xã hội nào
Trong đời sống hằng ngày , lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ
mô, nó trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công chúng Lạm phát giờ đây đã trở thành vấn đề toàn cầu chứ không phải là vấn đề riêng của Việt Nam Châu Âu , Châu Úc , Châu Mỹ , hay Việt Nam đều gặp rủi ro lạm phát ở những mức độ khác nhau và đang dùng nhiều bài thuốc khác nhau để chống lại lạm phát Lạm phát như 1 căn bệnh của nền kinh tế thị trường , nó là hai vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt kết quả tốt Kiểm soát lạm phát là nhịêm vụ hàng đầu của chính phủ
Ở Việt Nam, từ sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nền kinh
tế nước ta đã trải qua nhiều bước thăng trầm : từ khủng hoảng trầm trọng với mức độ lạm phát lên đến 3 con số, tăng trưởng thấp, đời sống nhân dân khó khăn dần tiến đến
tỷ lệ lạm phát ổn định , tăng trưởng khá, rồi lại đứng trước thách thức và nguy cơ tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới với tăng trưởng chậm và nguy cơ suy thoái Ở nước ta một số năm tỷ lệ lạm phát ở mức độ thấp, nhưng đến nay lạm phát lại có nguy cơ tiềm ẩn và tái phát cao Nhất là cho đến thời điểm này giá cả các mặt hàng thiết yếu trong và ngoài nước diễn ra rất phức tạp Giá hầu hết các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như : xăng dầu, sắt thép, chất dẻo, phân bón … đều tăng Đặc biệt trong thời gian gần đây khi giá vàng trong ngoài nước, tỷ giá ngoại hối đột ngột tăng cao rồi lại có xu hướng giảm dần thì một câu hỏi đặt ra : liệu đó có phải là dấu hiệu báo trước của lạm phát tăng cao? Tình hình đó đòi hỏi nhà nước phải có những quan điểm và giải pháp cẫp vĩ mô cũng như vi mô để kiềm chế cũng như khắc phục lạm phát
Trang 4Chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhắc đến nền kinh tế thị trường thì vấn đề lạm phát là một vấn đề mang tính tất yếu và khách quan, và muốn được hưởng những lợi ích về vật chất mà nền kinh tế thị trường có thể mang lại thì chúng ta phải khắc phục và giải quyết cho được vấn đề lạm phát
Lạm phát gây ra nhiều tác hại cho nền kinh tế như tình trạng khủng hoảng,công nhân đình công đòi tăng lương,giá nguyên liệu tăng đột biến,thảm hoạ
tự nhiên,chi phí sản xuất tăng…
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội , lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế thì nguyên nhân dẫn tới lạm phát càng ngày càng phức tạp Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ tái lạm phát cao, mà trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường ở nước ta lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa
có sự điều tiết của nhà nước thì việc nghiên cứu về lạm phát,tìm hiểu nguyên nhân
và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước
Nước ta từ tháng 12/2007, do tác động của tình hình phát triển kinh tế chung của hội nhập khu vực và thế giới, chỉ số giá tiêu dùng cho đến nay vẫn ở mức 2 con số vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép của mỗi quốc gia là 9% Mặc dù chính phủ đưa ra các biện pháp để kiềm chế lạm phát song vẫn chưa ổn định, giá cả vẫn
ở mức cao Tình hình lạm phát năm 2010 và những tháng đầu năm 2011 đã và đang có nhiều diễn biến trái chiều với sự dự đoán và có nhều biến động do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới cũng như các chính sách kinh tế trong nước Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay là một chủ đề cần phải đưa ra bàn luận , nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó có những giải pháp can thiệp một cách linnh hoạt, hiệu quả ổn định vĩ mô nền kinh tế nước ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy nghiên cứu lạm phát ở nước ta đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay
Từ những lí do trên nên em chọn đề tài “ Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
từ 2008-2011 và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay”.
2.Mục đích nghiên cứu:
Trang 5Đề tài này nhằm mục đích phân tích những nguyên nhân và diễn biến thực tiễn về lạm phát của Việt Nam giai đoạn năm 2008-2011, những tác động của lam phát đến nền kinh tế xã hội, những giải pháp kiềm chế lạm phát ổn định và phát triển kinh tế quốc gia, đồng thời đưa ra những dự báo về tình hình lạm phát trong thời gian tới
3.Đối tượng nghiên cứu:
Xuất phát từ lý do trên, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Tìm hiểu một số lý luận chung về lạm phát như khái niệm, phân loại, nguyên nhân, các tác động của lạm phát,…
- Khái quát thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2011
- Dựa trên tình hình lạm phát trong giai đoạn này đưa ra những nguyên nhân, các giải pháp kiềm chế đồng thời xem xét hiệu quả của chính sách kiềm chế lạm phát tác động như thế nào đối với nền kinh tế
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và tác động lạm phát ở Việt Nam gian đoạn 2008-2011 và hiệu quả của chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ
5.Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu về lạm phát:
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh
Phương pháp đối chiếu
Phương pháp nghiên cứu lý
thuyết Phương pháp thống kê…
6 Tình hình nghiên cứu:
Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới thì lạm phát đã và đang trở thành một vấn đề mang tính thời sự cấp bách đối với nhiều quốc gia Lạm phát trong thời kì nào thì cũng luôn mang cùng một bản chất tuy nhiên trong mỗi một thời kì khác nhau của nền kinh tế thì lạm phát lại có những biểu hiện mới và có những nguyên nhân mới cần phải được xem xét Vì vậy tuy đã
Trang 6có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lạm phát nhưng tôi nghĩ việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề “lạm phát ở Việt Nam” là rất cần thiết và mang tính cấp thiết hiện nay, từ đó giúp đưa ra được những giải pháp nhằm giải quyết tình trạng lạm phát, giúp cho nền kinh tế phát triển và tăng trưởng một cách bền vững
Từ việc nghiên cứu các giai đoạn lạm phát từ 2008 đến nay để có cái nhìn tổng quát hơn về lạm phát ở Việt Nam qua đó đánh giá hiệu quả của các chính sách mà chính phủ đưa ra từ đó những đề xuất những giải pháp nhằm kiểm soát và kiềm chế sự gia tăng tỷ lệ lạm phát trong thời gian tới
8 Cấu trúc đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: cơ sở lý luận về lạm phát;
Chương 2: thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2011;
Chương 3: các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.1 Khái niệm lạm phát:
-Trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình C Mác viết: "Việc phát hành tiền giấy phát hành vào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện
- Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường : "Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian"
- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát Nó chính là GNP danh nghĩa/ GNP thực tế Trong thực tế nó được thay thế bằng tỷ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán buôn Ip = aip.d
ip: chỉ số giá cả của từng loại nhóm hàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
-Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của hai loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi
-Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác
1.2 Phân loại lạm phát:
- Thiểu phát: tỷ lệ lạm phát ở mức âm và dễ bi nhầm với giảm phát
- Lạm phát vừa phải: mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 3 đến 10% một năm, còn gọi là lạm phát một con số Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn định Sự ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập Trong thời gian này các hãng kinh
Trang 8doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh
- Lạm phát phi mã: mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát Ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế , các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc này người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường
Nhìn chung lạm phát thì phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải
- Siêu lạm phát: Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xảy ra
Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế ngưười Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi)
1.3 Đo lường lạm phát và các chỉ tiêu đo lường lạm phát:
1.3.1 Đo lường lạm phát:
-Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này) Giá cả của các loại hàng hóa
và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở
NGUY N TH KIM S A ỄN THỊ KIM SỮA Ị KIM SỮA ỮA Trang 7
Trang 9thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc -Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó
- Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Tuy nhiên thước đo lạm phát phổ biến nhất là CPI- Chỉ số giá tiêu dùng( consumer price index)
đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế…,được mya bởi “người tiêu dùng thông thường”
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường lạm phát:
- Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung)
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI Đôi khi, các hợp đồng lao động
có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra)
- Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất
là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán Ở đây cũng có
Trang 10một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những
sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ
- Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn Chỉ số này rất giống với PPI
- Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách
có lựa chọn Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng Khi nước Mỹ sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc
- Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội:
Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực
1.4 Nguyên nhân của lạm phát:
- Lạm phát do cầu kéo: Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó có lạm phát Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường Lạm phát do
sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao hơn.các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là "quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hóa”
- Lạm phát do cầu thay đổi: Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt
NGUY N TH KIM S A ỄN THỊ KIM SỮA Ị KIM SỮA ỮA Trang 9