TIỂU LUẬN VỀ HỌC PHẦN MÔN KINH TẾ LAO ĐỘNG ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM SAU ĐẠI DỊCH BỆNH COVID – 19 Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TP Hồ Chí Minh, tháng 6 năm.
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: KINH TẾ LAO ĐỘNG
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
VÀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM SAU DỊCH BỆNH COVID – 19 Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TP Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2022
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Cán bộ chấm thi 1
Cán bộ chấm thi 2
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT BÀI VIẾT 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 2
2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
2.1 Sơ lược lực lượng lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 2
2.2 Các chính sách giải quyết và hỗ trợ tạo việc làm sau dịch Covit -19 ở thành phố Hồ Chí Minh 5
2.3 Thực trạng các chính sách tạo việc làm hiện nay 7
2.4 Đánh giá tác động của các chính sách 8
2.4.1 Ưu điểm của các chính sách tạo, hỗ trợ việc làm việc làm 8
2.4.2 Hạn chế của các chính sách tạo việc làm 9
2.4.3 Nguyên nhân 9
3 KHUYẾN NGHỊ 10
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4TÓM TẮT BÀI VIẾT
Đề tài: phân tích chính sách về giải quyết việc làm và hỗ trợ tạo việc làm sau dịch bệnh Covid – 19 ở Thành Phố Hồ Chí Minh
Thời gian thực hiện: 01/6/2022 đến 11/6/2022
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối mặt với sự thiếu hụt lao động khi 1,3 triệu người đã trở về quê và 2,5 triệu lao động phải ngừng làm việc Thực trạng này đòi hỏi những quyết sách phù hợp và kịp thời từ phía các nhà quản
lý để thu hút lực lượng lao động quay trở lại với đầu tàu kinh tế phía Nam nhằm duy trì và phát triển sản xuất.Bài viết làm rõ thêm những vấn đề lý luận về các chính sách, nguyên nhân, ưu điểm và nhược điểm của các chính sách ấy Bên cạnh
đó tiểu luận cũng nêu lên những tồn tại, khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện việc thực hiện các chính sách của Nhà Nước Tiểu luận đã phân tích bao quát những vấn đề trên, đây là cơ sở quan trọng để đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các chính sách cdo đại dịch Covid-19 mà Nhà Nước đã đưa ra
Để chính sách hỗ trợ việc làm người lao động thật sự phát huy được vai trò đảm bảo việc làm bền vững, hạn chế thất nghiệp cũng như giúp người thất nghiệp sớm tìm được việc làm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội Tác giả đã đề xuất một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về các chính sách hỗ trợ người lao động thất nghiệp như: tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách phù hợp, nhất là về tài chính, tiền tệ, an sinh xã hội để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, người lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua khó khăn của đại dịch Covid -19, nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; Bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với xu thế mới, Như vậy, việc hoàn thiện các chính sách hỗ trợ và giải quyết việc làm sau đại dịch Covid-19 tại thành phố Hồ Chí Minh là rất cần thiết, việc hoàn thiện các chính sách ấy có vai trò rất lớn không chỉ đối với cá nhân người lao động và doanh nghiệp, mà còn đóng vai trò thăng bằng nền kinh tế, là liều thuốc làm “hạ nhiệt” sự căng thẳng xã hội do sự xuất hiện của dịch Covid-19 gây ra, là một trong những công cụ hỗ trợ triệt để giải quyết được tình trạng thất nghiệp càng gia tăng ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 51 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình phát triển và hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh luôn là một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước, là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước Khi đại dịch Covid-19 tác động mạnh đến thị trường lao động, tỷ lệ lao động ngừng việc, mất việc có xu hướng tăng, người lao động thiếu việc làm, bị cắt giảm giờ làm, buộc thôi việc dẫn đến giảm, mất thu nhập Với sự dịch chuyển lao động từ thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh thành trước tác động của dịch bệnh và người lao động chưa hoàn toàn trở lại Thành phố làm việc đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuyển dụng nhân sự Tuy nhiên, những lao động này phần lớn là lao động phổ thông, lao động phi chính thức, việc làm ngắn hạn, do vậy để thay thế cho lực lượng này, doanh nghiệp đã tuyển dụng nguồn lao động bán thời gian, lao động mùa
vụ phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh Dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, thành phố Hồ Chí Minh vẫn luôn giữ vai trò là đầu tàu kinh tế của cả nước, là địa phương thu hút nguồn nhân lực dồi dào, nhất là nguồn nhân lực trẻ Để thích ứng trong giai đoạn “bình thường mới”, doanh nghiệp và người lao động cần linh hoạt trong quá trình tham gia thị trường lao động Thế nên, nhà nước và doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch, chính sách giải quyết tuyển dụng nhân sự phù hợp,
có phương án đảm bảo về phòng chống dịch trong quá trình sản xuất, kinh doanh cũng như các chế độ đãi ngộ xứng đáng dành cho người lao động Đồng thời, lao động, cần chủ động nắm bắt cơ hội, nâng cao khả năng thích ứng, đảm bảo đáp ứng với yêu cầu công việc, đặc biệt là tác phong, đạo đức nghề nghiệp để có được việc làm ổn định và thu nhập phù hợp Với những lý do và ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài:
“Phân tích chính sách về giải quyết việc làm và hỗ trợ tạo việc làm sau dịch bệnh Covid – 19 ở thành phố Hồ Chí Minh.” làm tiểu luận kết thúc học phần lần này
2.1 Sơ lược lực lượng lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021
Có thể thấy, sau 4 tháng thực hiện giãn cách, với những quy định kịp thời từ nghị quyết 128/NQ-CP, các hoạt động của nền kinh tế đang từng bước trở lại Tuy vậy, về khía cạnh lao động và việc làm, những tác động và nguy cơ từ đại dịch là
Trang 6không nhỏ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đại dịch đã ảnh hưởng tiêu cực đến 59% dân số từ 15 tuổi trở lên ở khu vực Đông Nam Bộ và 45% ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh đó, đại dịch có thể tạo ra vòng lặp khủng hoảng với công thức: Covid-19, giảm tổng cầu/giảm năng lực sản xuất, đứt gãy chuỗi cung ứng, mất việc làm, thu nhập, giảm tổng cầu, đình trệ sản xuất, mất việc làm, thu nhập, giảm tổng cầu …Trong bối cảnh này, nguồn lao động là vấn đề rất quan trọng Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối mặt với sự thiếu hụt lao động khi 1,3 triệu người đã trở về quê và 2,5 triệu lao động phải ngừng làm việc Thực trạng này đòi hỏi những quyết sách phù hợp và kịp thời từ phía các nhà quản lý để thu hút lực lượng lao động quay trở lại với đầu tàu kinh tế phía Nam nhằm duy trì và phát triển sản xuất Từ góc nhìn kinh tế, vấn đề nêu trên cần được xem xét dựa trên cung và cầu Cung và cầu lao động do mỗi cá nhân và đơn vị sử dụng lao động quyết định Trong trạng thái bình thường thì thị trường sẽ tự cân bằng cung cầu lao động Trong tình trạng đứt gãy luồng di chuyển lao động, nhu cầu lao động từ khối sản xuất không ổn định, và chính sách quản kinh tế xã hội không nhất quán do phụ thuộc vào thời gian, địa điểm Covid-19 bùng phát dịch, nhà nước cần can thiệp giúp đạt cân bằng thị trường lao động một cách tương đối
Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp đang đối mặt với chi phí sản xuất tăng cao trong đó chi phí liên quan tới lao động là một nguồn quan trọng Nguồn tăng của chi phí sản xuất đến từ sự tăng lên của giá nhập khẩu và chi phí vận chuyển, chi phí sử dụng lao động (phúc lợi xã hội, lao động nghỉ việc có lương, áp dụng phương án làm việc “3 tại chỗ”, …) và chi phí
an toàn vệ sinh lao động ( khử khuẩn, phương tiện phòng dịch, giãn cách, xét nghiệm, …) Bên cạnh vấn đề chi phí, doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong đổi mới công nghệ; đảm bảo thị trường xuất khẩu, ký kết hợp đồng mới và hoàn thành hợp đồng đã ký; đảm bảo cạnh tranh và duy trì sản xuất kinh doanh Về mặt lao động, khó khăn tuyển dụng và giữ chân lao động cũng được nhiều doanh nghiệp đề cập, đặc biệt là nhóm ngành dịch vụ Một số biện pháp an toàn đã được các doanh nghiệp thực hiện ở nơi làm việc tuy vậy tỷ lệ thực hiện nhìn chung còn thấp Các nhóm biện pháp gồm: nhóm biện pháp theo khuyến cáo của Bộ Y tế (54% doanh nghiệp hực hiện); các biện pháp an toàn tăng cường tại doanh nghiệp (xấp xỉ 45%
Trang 7doanh nghiệp thực hiện); triển khai phương thức làm việc mới (dưới 50% doanh nghiệp thực hiện) và hỗ trợ nhân viên xét nghiệm và tiêm phòng (28% doanh nghiệp thực hiện)
Về phía người lao động, trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2021, các đợt dịch thứ III và thứ IV đã liên tục kéo tổng lực lượng lao động sụt giảm từ mức 50.9 về 47.2 triệu người Trong số 1.3 triệu lao động ước tính đã rời Thành phố Hồ Chí Minh, dự báo 377 ngàn người sẽ quay lại trong năm 2021; 520 ngàn người quay lại sau tết, 140 ngàn người sẽ không quay lại và 230 ngàn người chưa có kế hoạch
cụ thể Theo số liệu khảo sát nhóm lao động đã rời Thành phố Hồ Chí Minh hoặc khu vực Đông Nam Bộ, các yếu tố có vai trò quyết định trong việc lao động quay lại nơi làm việc bao gồm: điều kiện làm việc và thu nhập, điều kiện y tế, điều kiện sống và sinh hoạt, điều kiện học tập của con cái và thói quen cộng đồng Người lao động được khảo sát cũng lo lắng về nhiều khó khăn khi quay lại Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến quy định về giãn cách không ổn định; việc đi lại và đáp ứng quy định phòng dịch; nhà ở và sinh hoạt; vấn đề xin việc làm và việc đi học của con cái Đối với nhóm lao động còn ở lại Thành phố Hồ Chí Minh hoặc khu vực Đông Nam
Bộ, một tỷ lệ đáng kể lao động đã nghỉ việc hoặc chuyển sang làm việc không liên tục Tỷ lệ nghỉ việc hoàn toàn là 21.6% ở nhóm có công việc toàn thời gian; 43.5%
ở nhóm có công việc bán thời gian, 70.3% ở nhóm làm thuê mướn và 45.7% ở nhóm kinh doanh tự do Trong khi đó, một tỷ lệ không nhỏ đã chuyển sang làm việc không liên tục, với giá trị lần lượt là 21.6%, 30.4%, 16.2% và 25.7% tương ứng với bốn nhóm kể trên Về thái độ và quan điểm đối với việc người lao động quay lại thành phố, trong khi tỷ lệ ủng hộ quan điểm “ở lại địa phương và cố gắng tìm việc phù hợp” và “trở lại thành phố vì công việc và mưu sinh” trong nhóm lao động không rời Thành phố Hồ Chí Minh không khác nhau nhiều (45.5% và 40.6%), 56.6% người được khảo sát trong nhóm này sẽ đưa ra lời khuyên cho người thân theo hướng ở lại địa phương Đối với nhóm đã về quê, trong khi bản thân họ ủng hộ phương án trở lại thành phố (63.8%), tỷ lệ người được khuyên người thân ở lại địa phương cao hơn không nhiều so với tỷ lệ khuyên người thân nên đến các thành phố lớn (39.6% so với 34.5%)
Cũng theo Ông Lê Minh Tấn, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cho biết toàn thành phố có hơn 470.000 doanh nghiệp
Trang 8đăng ký hoạt động, trong đó trên 15.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với trên 3,2 triệu công nhân Tuy nhiên, tác động của dịch Covid-19 trong 5 tháng gần đây đã làm ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp, việc làm, hoạt động kinh tế, dịch vụ và cả các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ… khiến chỉ còn 700 doanh nghiệp hoạt động theo phương án "3 tại chỗ," “1 cung đường, 2 điểm đến” với 600.000 lao động Số doanh nghiệp còn lại cùng với hơn 1,7 triệu lao động phải tạm nghỉ việc, giãn việc không hưởng lương và hơn 660.000 lao động tự do cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi đại dịch Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 98%, nên lượng lao động bị ảnh hưởng rất lớn, nhất là ngành may mặc, giày
da, dịch vụ thương mại, giao thông… trong đó, nhiều doanh đang chật vật để trụ lại nhưng nhiều doanh nghiệp đã chấp nhận phá sản, rút tên khỏi thị trường "Về cung ứng lao động, 5 tháng qua, tỷ lệ lao động nghỉ làm hưởng bảo hiểm thất nghiệp khoảng trên 100.000 người và 500.000 lao động nghỉ làm Để đáp ứng nhu cầu lao động, ngành lao động, thương binh và xã hội, Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực, Trung tâm Dịch vụ việc làm đang triển khai các giải pháp kết nối cung cầu lao động
để đảm bảo việc làm cho người lao động," ông Tấn nhấn mạnh
2.2 Các chính sách giải quyết và hỗ trợ tạo việc làm sau dịch Covit -19 ở thành phố Hồ Chí Minh
Theo quy định của Luật việc làm 2013, Nhà nước quy định và áp dụng thực hiện các chính sách việc làm như sau:
Thứ nhất: Chính sách phát triển kinh tế-xã hội nhằm tạo việc làm Theo đó, Nhà nước Có chính sách phát triển kinh tế – xã hội nhằm tạo việc làm cho người lao động, xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; bố trí nguồn lực để thực hiện chính sách về việc làm
Thứ hai: Khuyên khích phát triển thị trường lao động Nhà nước khuyến khích
tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việc làm có thu nhập từ mức lương tối thiểu trở lên nhằm góp phần phát triển kinh tế – xã hội, phát triển thị trường lao động
Thứ ba: Hỗ trợ việc làm Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp
Trang 9Thứ tư: Chính sách cấp chứng chỉ kỹ năng nghề Pháp luật quy định Nhà nước
có chính sách đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề
Thứ năm: Chính sách ưu đãi với ngành nghề sử sụng lao động chuyên môn cao Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với ngành, nghề sử dụng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao hoặc sử dụng nhiều lao động phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội
Thứ sáu: Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng lao động khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số Nhà nước thực hiện việc hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số
Cụ thể, các chính sách của Nhà nước về hỗ trợ việc làm tính đến thời điểm hiện nay bao gồm:
Một là: Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội quy định các điều khoản về việc làm và các đối tượng lao động, trong đó có các nhóm lao động đặc thù như lao động nữ và thanh niên
Hai là: Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định
vê chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm
Ba là: Quyết định số 2474/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Bốn là: Nghị quyết 116/NQ-CP, ngày 01/10/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Năm là: Nghị quyết số 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động
và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 Mục tiêu nhằm hỗ trợ cho người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, góp phần phục hồi sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch, ổn định sản xuất, kinh doanh, đảm bảo đời sống và an
Trang 10toàn cho người lao động.
Nghị quyết nêu rõ, nguyên tắc hỗ trợ phải bảo đảm hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, không để lợi dụng, trục lợi chính sách; bảo đảm tính khả thi, hiệu quả của các chính sách và nguồn lực để thực hiện Mỗi đối tượng chỉ được hưởng một lần trong một chính sách hỗ trợ Người lao động được hỗ trợ một lần bằng tiền (trừ các đối tượng hưởng chính sách bổ sung quy định tại điểm 7, điểm 8 Mục II Nghị quyết này) chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ; không hỗ trợ đối tượng tự nguyện không tham gia
Ngoài ra, một số chính sách mà Ban lãnh đạo địa phương đang thực hiện để có thể hỗ trợ giải quyết việc làm và tạo việc làm cho người lao động thất nghiệp sau đại dịch Covit-19
Chính sách Hỗ trợ chi phí để thu hút người lao động quay trở lại làm việc Đối với người lao động trên địa bàn cần các thông tin như Công việc hiện tại;
số lao động đang thất nghiệp, lý do, thời gian thất nghiệp, công việc và nơi làm việc gần nhất trước khi thất nghiệp; nhu cầu để có thể giúp học và đáp ứng công việc cho người lao động
Đối với người sử dụng lao động cần tổ chức nắm thông tin về tình hình tuyển dụng và nhu cầu sử dụng lao động, với các thông tin cơ bản về quy mô hoạt động và nhu cầu về lao động theo từng quy mô, thời gian, khả năng thiếu hụt lao động và các chính sách của doanh nghiệp cho người lao động Tập trung tổ chức nắm thông tin của những doanh nghiệp có quy mô lao động lớn từ 300 lao động trở lên
Các địa phương cũng cần phối hợp với nhau trong việc cung ứng và tuyển dụng lao động để tạo sự kết nối, liên thông trong chuỗi cung ứng lao động giữa các địa phương; tạo điều kiện để người lao động quay trở lại làm việc
Mặt khác, địa phương cần chủ động hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp để xây dựng mô hình sản xuất an toàn, phục hồi sản xuất kinh doanh: Hướng dẫn bảo đảm các tiêu chí an toàn, vệ sinh lao động, thực hiện các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội; hướng dẫn vay tiền để trả lương; hỗ trợ vay vốn tạo việc làm mới cho tuyển và sử