mục tiêu nghiên cứu Các hoạt động logistics cơ bản trong chuỗi cung ứng nông sản Vai trò của logistics trong việc nâng cao giá trị nông sản Thực trạng chi phí của chuỗi cung sản củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BỘ MÔN LOGISTICS VÀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG
-o0o -
Tiểu luận môn: Quản lý Logistics
QUẢN LÝ LOGISTICS (Học kỳ III nhóm 2 năm học 2021 – 2022)
Đề tài: Thực trạng và giải pháp tiết kiệm chi phí logistics của chuỗi
cung ứng nông sản Việt Nam Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thanh Thủy
Sinh viên thực hiện: + Đào Tùng Kiên – MSV: A40658 + Nguyễn Nhật Dũng – MSV: A39474
Số điện thoại: + 0911302602 (Đào Tùng Kiên) + 0916063186 (Nguyễn Nhật Dũng) Email: + tungkien1902@gmail.com
+ pham23817@gmail.com
HÀ NỘI – 2022
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, hàng nông sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ đạo, có vai trò rấtlớn trong tăng trưởng kinh tế của đất nước
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, trong điều kiện thế giới đang “bất định”, bất
ổn và tự do hóa thương mại thúc đẩy các khu vực liên kết “mở”, các chuỗi cung ứngđang là một giải pháp hiệu quả để các doanh nghiệp (DN) cộng sinh và tồn tại thì việc
để nhận thức được những lợi ích và khó khăn mà các sản phẩm nông nghiệp đang thực
sự đối mặt, từ đó tìm ra những hướng đi cho bài toán thương hiệu hàng nông sản ViệtNam trong tương lai
Việt Nam đã và đang nỗ lực rất lớn trong việc mở rộng sản xuất các sản phẩm nôngnghiệp Các hoạt động có thể kể tới như cải thiện giống, xây dựng các công trình tướitiêu, chi trả tiền hỗ trợ cây màu và gần đây là áp dụng quy trình VietGAP nhằm nângcao độ an toàn cho sản phẩm nông nghiệp Kết quả là, gạo, cà phê và hạt tiêu đã trởthành những mặt hàng xuất khẩu có năng lực cạnh tranh cao, đứng vị trí thứ nhất hoặcthứ hai thế giới Về thủy sản, các mặt hàng như tôm, cá da trơn cũng được xuất khẩu
ra thế giới Các món ăn tiêu biểu của các quốc gia như cá và khoai tây chiên của Anh,burger cá của Mỹ, cũng sử dụng thủy sản của Việt Nam Ngoài ra, tháng 11 năm nay,xoài của Việt Nam đã bắt đầu được xuất sang Nhật Bản, khởi đầu cho sự xuất khẩu đadạng hoa quả sang các nước Cá nhân tôi cho rằng, sau đổi mới, ngành sản xuất trongnước có phản ứng nhanh nhạy với cơ chế thị trường nhất và thành công nhất chính làlĩnh vực nông nghiệp với mục tiêu thị trường xuất khẩu
Mặc dù vậy, vẫn còn rất nhiều vấn đề và thử thách Trước tiên là độ an toàn Với tưcách là một người sống tại Hà Nội, nguyện vọng của tôi chính là có thể an tâm ăn rau.Tiếp theo là mức độ chế biến thấp, với trên 90% sản phẩm được tiêu thụ chưa qua chếbiến và chưa tạo được giá trị gia tăng cao Thu nhập của người dân tăng cao, cuộcsống hàng ngày càng bận rộn thì nhu cầu về sản phẩm chế biến ngày càng cao
Trang 3Hiện nay, chiếm lĩnh thị trường lâu dài đang là chiến lược phát triển bền vững của cácdoanh nghiệp thì thương hiệu ngày càng chi phối các phân khúc giá trị của sản phẩm.Theo số liệu thống kê từ InterBrand, chỉ riêng giá trị 100 thương hiệu hàng đầu toàncầu đã lên tới 1.000 tỷ USD Đồng thời ước tính tổng giá trị thương hiệu hiện nay đãchiếm gần một phần ba giá trị nền kinh tế toàn cầu Chính vì vậy, một nền kinh tế pháttriển bền vững, một quốc gia lớn mạnh cần phải có những thương hiệu có sức cạnhtranh cao cả ở trong thị trường nội địa và quốc tế
mục tiêu nghiên cứu
Các hoạt động logistics cơ bản trong chuỗi cung ứng nông sản
Vai trò của logistics trong việc nâng cao giá trị nông sản
Thực trạng chi phí của chuỗi cung sản của nông sản Việt Nam
Những mặt tích cực, những khó khăn cùng đề xuất và khuyến nghị để cải thiệnthêm về chi phí cho chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 1
I LOGISTICS VÀ QUẢN LÝ LOGISTICS TRONG CHUÖI CUNG ỨNG 1
1.Một số khái niệm 1
a, Khái niệm về Logistics 1
b, Khái niệm về chuỗi cung ứng 1
c, Khái niệm quản lý logistics 1
2.Các hoạt động logistics cơ bản trong chuỗi cung ứng nông sản 2
a, Khái niệm nông sản 2
b, Khái niệm chuỗi cung ứng nông sản 2
c, Các hoạt động logistics cơ bản trong chuỗi cung ứng nông sản 3
d, Vai trò của logistics trong việc nâng cao giá trị nông sản 4
3 Chi phí logistics trong chuỗi cung ứng nông sản 5
II THỰC TRẠNG CHI PHÍ LOGISTICS CỦA CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG 5
SẢN VIỆT NAM 5
1 Giới thiệu chuỗi cung ứng nông sản 5
2 Các thành viên trong chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam 7
3.Thực trạng chi phí chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam 9
3.1 Thực trạng : 9
3.2 Ưu điểm và hạn chế 22
III GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN KHÍCH NHẰM TIẾT KIỆM CHI PHÍ LOGISTICS CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 25
1.Giải pháp 25
2.Khuyến khích 26
IV KẾT LUẬN 28
PHỤ LỤC 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 5I LOGISTICS VÀ QUẢN LÝ LOGISTICS TRONG CHUÖI CUNG ỨNG
NÔNG SẢN
1.Một số khái niệm
a, Khái niệm về Logistics
+ Thuật ngữ logistics bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và
La Mã ( Thế kỷ 8 đến thế kỷ 6 TCN ) và chức danh đầu tiên này được gọi là “Logistikas ” Đây là một công việc có ý nghĩa sống còn đối với cục diện của chiếntranh và đó chính là tiền thân của quản lý logistics
+ Logistics nói đến việc lập kế hoạch, các kế hoạch đơn lẻ của dòng chảy sản phẩm,thông tin liên quan tới nguyên nhiên liệu vật tư (đầu vào)… từ điểm xuất phát tới điểmtiêu thụ, nơi sử dụng cuối cùng, mục tiêu của Logistics là đáp ứng các yêu cầu củakhách hàng một cách kịp thời, hiệu quả về chi phí Ban đầu hậu cần đóng vai trò quantrọng trong việc di chuyển quân nhân, thiết bị và hàng hoá Mặc dù hậu cần vẫn đóngvai trò quan trọng hơn bao giờ hết trong quân đội nhưng thuật ngữ “Logistics” ngàynay được sử dụng phổ biến hơn trong bối cảnh di chuyển hàng hoá thương mại trongchuỗi cung ứng
b, Khái niệm về chuỗi cung ứng
+ Chuỗi cung ứng là một hệ thống tổ chức, con người, các nguồn lực, thông tin, cáchoạt động, Liên quan tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp haynhà sản xuất đến tay người dùng
+ Các yếu tố trong chuỗi: nhà cung cấp, nhà sản xuất/ nhà vận hành/ kho vận/ nhàphân phối/ khách hàng… là một hệ thống liên quan, kết nối có liên hệ chặt chẽ vớinhau
c, Khái niệm quản lý logistics
“Quản lý logistics là một phần của quản lý chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định,thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hoá”
( Do hội đồng chuyên gia chuỗi cung ứng định nghĩa )
Trang 6+ Nhiệm vụ của quản lý logistics: là một kế hoạch kinh doanh thay thế cho các kếhoạch
rời rạc, riêng biệt thông thường của mua sắm, sản xuất, marketing, phân phối trongdoanh nghiệp Đây là quan điểm khá mới mẻ của quản lý logistics Và như vậy, việcquản lý logistics bao gồm cả quản lý mua sắm, phân phối, marketing… thay thế choviệc quản lý riêng biệt từng hạng mục trước đây
2.Các hoạt động logistics cơ bản trong chuỗi cung ứng nông sản
a, Khái niệm nông sản
Nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hànghóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng Sản phẩm nông nghiệpbao gồm nhiều nhóm hàng thực phẩm, tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dượcphẩm và ma túy bất hợp pháp (thuốc lá, cần sa), các sản phẩm độc đáo đặc thù.Ngày nay, nông sản còn hàm nghĩa những sản phẩm từ hoạt động làm vườn vàthực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ
tư liệu sản xuất là đất
chỉ các loại nông sản mà người nông dân sản xuất ra với mục đích bán ra thịtrường Ngược với nông sản hàng hóa là nông sản phục vụ cho mục đích tựsản, tự tiêu
từ hoạt động nông nghiệp như:
sống (trừ cá và các sản phẩm từ cá), cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,
….)
sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô, DDSG
và nhiều sản phẩm khác
Một số loại nông sản nổi tiếng : lúa gạo, vải, cà phê,
b, Khái niệm chuỗi cung ứng nông sản
Chuỗi cung ứng nông sản bao gồm tập hợp các tác nhân và hoạt động đưa mộtsản phẩm nông sản từ sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, theo đó, giá trịcủa sản phẩm được gia tăng trong mỗi khâu trung gian Một chuỗi cung ứng có
Trang 7thể là một liên kết dọc hay một mạng lưới các tác nhân độc lập với nhau vàocác khâu chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển, và phân phối.
Mô tả chuỗi những hoạt động để đưa 1 sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng cuốicùng Các hoạt động trong chuỗi cung ứng nông sản bao gồm sản xuất, thugom, chế biến, bán buôn, bán lẻ cũng như các chức năng hỗ trợ như cung ứngvật tư đầu vào, dịch vụ tài chính, dịch vụ hậu cần, đóng gói, và marketing
Tuy nhiên, chuỗi cung ứng nông sản thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hayđặc tính của sản phẩm nông sản Sản phẩm nông sản có các đặc tính đặc thùnhư tính mùa vụ, mau hỏng, chất lượng không đồng nhất, vấn đề vệ sinh antoàn thực phẩm của sản phẩm Những đặc tính những vấn đề trong tổ chức,hoạt động, và hiệu suất của chuỗi, từ đó ảnh hưởng tới đặc điểm của chuỗi
Bảng 1 Các khâu trong trong chuỗi cung ứng nông sản và doanh nghiệp tham gia
c, Các hoạt động logistics cơ bản trong chuỗi cung ứng nông sản
Dịch vụ logistics cho nông nghiệp là một phân ngành dịch vụ lớn trong chuỗidịch vụ cung ứng logistics Việc đầu tư logistics cho nông nghiệp sẽ làm tăng
Trang 8cao giá trị cho sản phẩm nông sản của Việt Nam, đồng thời góp phần tăng thunhập người nông dân.
Những dịch vụ cơ bản của logistics đối với nông sản có thể kể đến như là: Lưutrữ hàng hóa, bao bì, đóng gói, kho bãi, làm thủ tục hải quan, luân chuyển hànghóa…, nhằm mục đích chuyển sản phẩm nông nghiệp từ nhà nông, người cungcấp đến người tiêu dùng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Hàng năm, Việt Nam xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn nông sản ra thế giới, đónggóp lớn cho nền kinh tế Năm 2020, xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm sản đạt20,3 tỷ USD, chiếm 7,2% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong đó, một số mặthàng nông sản có tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như: Gạotăng 9,3%; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 2,4%; cao su tăng 3,5%; gỗ và sảnphẩm từ gỗ tăng 15,7%
Bảng 2 Các khâu trong chuỗi cung ứng nông sản
d, Vai trò của logistics trong việc nâng cao giá trị nông sản
Việc đầu tư phát triển hệ thống logistics trong nông nghiệp có vai trò hết sứcquan trọng nhằm nâng cao giá trị nông sản và là đòn bẩy xuất khẩu sang thịtrường lớn
Do đặc điểm của hàng hoá nông sản cần đảm bảo tươi sống và chỉ có giá trịtrong một thời hạn ngắn, nên dịch vụ logistics đòi hỏi phải có tính chuyênnghiệp khác biệt hơn và việc đầu tư hạ tầng kho bãi cũng tốn kém hơn so vớinhiều loại hàng hoá khác Chính vì vậy, vẫn còn có nhiều doanh nghiệplogistics vẫn chưa mấy mặn mà với lĩnh vực nông sản Mặt khác, phần đôngnhân lực logistics phục vụ nông nghiệp còn rất thiếu kinh nghiệm, thiếu sự hiểubiết về đặc tính của hàng hoá nông sản, nên nhiều doanh nghiệp coi chuỗi kholạnh là chi phí đầu tư tốn kém, không hiệu quả và giá trị gia tăng thấp… dẫnđến tình trạng các chuỗi cung ứng nông sản bị gián đoạn, phân tán làm chonông sản nước ta bị giảm giá trị, tăng giá thành khi tiêu thụ nội địa và giảm
Trang 9năng lực cạnh tranh đối với thương trường quốc tế Tất cả những yếu tố trên đã
và đang kìm hãm sự phát triển xuất khẩu hàng hóa nông sản của Việt Nam
Có thể thấy, những hạn chế và khó khăn của hệ thống logistics trong nôngnghiệp đã tạo nên điểm nghẽn cho đầu ra nông sản Chính vì vậy, việc chútrọng đầu tư logistics cho nông nghiệp, tăng cường xây dựng các trung tâmdịch vụ logistic cho hàng hóa nông sản phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu
sẽ giúp gia tăng giá trị cho các sản phẩm nông sản của nước ta, đồng thời gópphần tăng thu nhập đối với người nông dân
3 Chi phí logistics trong chuỗi cung ứng nông sản
Đã có những bài báo với tiêu đề: “Nông sản Việt Nam lép vế vì chi phílogistics đắt đỏ”, điều đó là sự thật vì chi phí vận chuyển tại Việt Nam phảichịu rất nhiều loại thuế phí, có thể nói như phí cầu đường, phí xăng dầu, phítiền lương cho người lái xe, vv… nên chi phí logistics của Việt Nam là khá cao
so với thế giới
Theo tính toán, hiện chi phí logistics của nông sản Việt Nam chiếm từ 30% trong giá thành Cao hơn mức 12,5% của Thái Lan và thế giới là 14%.Theo Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây tại Bến Tre, chỉ riêng thị trườngMỹ, cước vận chuyển trái cây tươi hiện ở mức 6,2 USD/kg, tăng gấp đôi so vớitrước đó
25%-II THỰC TRẠNG CHI PHÍ LOGISTICS CỦA CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
1 Giới thiệu chuỗi cung ứng nông sản
Logistics trong nông nghiệp được hiểu là một chuỗi các hoạt động: Lưu trữhàng hóa, bao bì, đóng gói, kho bãi, làm thủ tục hải quan, luân chuyển hànghóa…, nhằm mục đích chuyển sản phẩm nông nghiệp từ nhà nông, người cungcấp đến người tiêu dùng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Trang 10 Chuỗi cung ứng nông sản là hệ thống gồm tất cả các hoạt , tổ chức, tác nhân,công nghệ thông, tài nguyên và dịch vụ liên quan đến sản xuất nông sản thựcphẩm cho thị trường tiêu dùng Chuỗi cung ứng nông sản bao gồm các lĩnh vựcnông nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn từ việc cung cấp các đầu vào doanhnghiệp như hạt giống, phân bón, thức ăn gia súc, thuốc hoặc thiết bị đến sảnxuất, xử lý sau thu hoạch, chế biến, vận chuyển, tiếp thị, phân phối và bán lẻ.Chuỗi cung ứng cũng bao gồm các dịch vụ như dịch vụ khuyến nông, nghiêncứu và phát triển, thông tin thị trường Do đó chuỗi có rất nhiều loại hình doanhnghiệp đến các doanh nghiệp đa quốc gia, từ các hộ nhỏ, tổ chức nông dân, hợptác xã và công ty khởi nghiệp đến các doanh nghiệp đa quốc gia hoạt độngthông qua các công ty mẹ hoặc các công ty con tại địa phương, các doanhnghiệp và quỹ nhà nước, các tổ chức tài chính và quỹ tư nhân.
Đối với các sản phẩm và khu vực địa lý khác nhau, thì cấu trúc của các chuỗicung ứng và các doanh nghiệp tham gia ở mỗi giai đoạn sẽ khác nhau đáng kể
Vì thế việc lập bản đồ các doanh nghiệp hoạt động theo chuỗi cung ứng nôngsản cần được thực hiện theo từng trường hợp, nhằm hiểu rõ hơn các mối quan
hệ và thông tin cũng như dòng tài chính giữa các doanh nghiệp này và để thiết
kế tốt hơn các hoạt động kiểm toán
Các doanh nghiệp liên quan với nhau dựa trên các mối quan hệ và hình thứcthỏa thuận đa dạng Các doanh nghiệp hạ nguồn có thể quan hệ theo nhiều hìnhthức khác nhau với doanh nghiệp nông trại để đảm bảo việc tiếp cận nông sản.Các doanh nghiệp này có thể áp đặt các tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật đảmbảo với người sản xuất mà không có sự tham gia nào ngoài hợp đồng mua bán.Nhưng họ cũng có thể tham gia tích cực hơn, đặc biệt là thông qua hợp đồngcanh tác theo hợp đồng, để điều phối việc sản xuất và đảm bảo chất lượng antoàn Các doanh nghiệp tài chính có thể tham gia gián tiếp hơn bằng cách cấpvốn cho các doanh nghiệp nông trại và hạ nguồn, thông qua các khoản đầu tưmới hoặc lại và sáp nhập Nhưng trong thực tế thì rất khó để phân định cácnhóm doanh nghiệp này Ví dụ, các hợp tác xã thường sở hữu hoặc quản lýthiết bị nông nghiệp này Ví dụ, các hợp tác xã thường sở hữu hoặc quản lý cácthiết bị nông nghiệp như các tài sản hạ nguồn, vì thế họ không chỉ là các doanhnghiệp nông trại mà còn là các doanh nghiệp hạ nguồn
Với lợi thế là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, chắc chắnrằng Bình Dương đã và đang nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để phát
Trang 11triển kinh tế-xã hội và trở thành thành phố loại I trực thuộc Trung Ương năm
2020 bằng những hành động quyết liệt, xác định nguyên nhân tồn tại hạn chế,
đề ra giải pháp khắc phục và mạnh dạn tiếp tục đổi mới
Nhìn bức tranh hẹp hơn với nông sản, chúng ta thấy lãnh đạo tỉnh đã đưa rahàng loạt chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tổ chức nhiều hộithảo để lắng nghe ý kiến đóng góp từ doanh nghiệp, từ nhà khoa học, nghiêncứu để vận hành chính sách vào thực tiễn tốt hơn Tuy nhiên, với nông sản, tìnhtrạng nơi thừa vẫn thừa, nơi thiếu vẫn thiếu vẫn xảy ra và luôn là bài toán khógiải đi cùng sự trăn trở của nhiều cấp lãnh đạo từ Trung Ương đến địa phương
2 Các thành viên trong chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam
Bài tiểu luận sẽ giới thiệu về thành viên trong chuỗi cung ứng nông sản camsạch tại tỉnh Vĩnh Long
Trang 12Bảng 3: Mô hình sự liên kết và các thành viên tham gia vào chuỗi cung ứng cam sạch
tại tỉnh Vĩnh Long
Chủ thể tham gia chuỗi cung ứng cam của Vĩnh Long: Trong mô hình chuỗicung ứng nông sản đề xuất cho Vĩnh Long, vai trò và nhiệm vụ của các chủ thểcụ thể như sau:
- Nhà cung ứng đầu vào là chủ thể cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho chuỗicung ứng, bao gồm giống, phân bón, các thiết bị nông nghiệp, tưới tiêu,… Nhàcung ứng đầu vào trong chuỗi cung ứng nông sản được HTX và nông dân lựachọn cũng như hợp tác nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn ngay từ bước đầu tiên củachuỗi
- Người nông dân/ Hợp tác xã trong mô hình đề xuất cũng giữ vai trò vô cùngquan trọng Đây là chủ thể quyết định đến phẩm chất ban đầu của nông sảntrước khi được đưa đến doanh nghiệp trung tâm để phân phối đến người tiêudùng Khi triển khai chuỗi cung ứng mặt hàng cam sạch, người nông dân cần
Trang 13được đào tạo nâng cao trình độ để đảm bảo rằng họ có thể tham gia hiệu quảvào chuỗi cung ứng nông sản cùng với các chủ thể khác.
- Người thu mua (thương lái) là người trung gian trong chuỗi cung ứng mặthàng nông sản Để mô hình liên kết có hiệu quả, thương lái sẽ được ban quảntrị và hợp tác xã cung cấp thông tin thị trường, giá cả, chủng loại, phẩm chất vàthời gian giao hàng Ban quản trị sẽ giám sát chặt chẽ hoạt động của thương lái,đảm bảo thương lái cung cấp nguồn hàng đầy đủ cả về số lượng và chất lượng
- Doanh nghiệp chế biến/ xuất khẩu: Doanh nghiệp chế biến trong chuỗi cungứng cam đóng vai trò là doanh nghiệp trung tâm, điều phối, quản lý và liên kếtvới từng chủ thế trong chuỗi Doanh nghiệp chế biến có thể đồng thời là nhàxuất khẩu, nhưng cũng có thể là 2 khâu riêng biệt phụ thuộc vào tiềm lực củadoanh nghiệp chế biến/xuất khẩu đó Sản phẩm sau khi được chế biến sẽ đượcchuyển sang khâu xuất khẩu đến thị trường nước ngoài
- Đại lý phân phối/bán lẻ: Đây là trung gian không thể thiếu để gắn kết doanhnghiệp với người tiêu dùng cuối cùng Đại lý phân phối/bán lẻ có nhiệm vụnhập hàng từ doanh nghiệp chế biến, dự trữ và phân phối đến tay người tiêudùng Các nhà bán lẻ theo dõi nhu cầu của khách hàng, quảng cáo tới kháchhàng và kết hợp sản phẩm với nhiều lựa chọn về giá cả và dịch vụ để thu hútkhách hàng
- Người tiêu dùng trong nước/ nước ngoài: Người tiêu dùng đại diện cho nhucầu thị trường, tạo nên lợi nhuận cho toàn chuỗi cung ứng nông sản Vai trò củangười tiêu dùng hiện nay trong chuỗi cung ứng cam của Vĩnh Long chưa đượcđánh giá cao, tuy nhiên khi thực hiện chuỗi cung ứng nông sản, người tiêudùng là những người quyết định sự hoàn thiện của cả chuỗi Trong tương lai, đểchuỗi cung ứng cam Vĩnh Long thành công, người tiêu dùng cũng cần đượcxác định rõ vị trí và vai trò của mình, từ đó chủ động tuân theo những quychuẩn chung trong toàn bộ chuỗi
- Ban Quản trị chuỗi cung ứng: Sự thành công của chuỗi cung ứng cam Vĩnhlong phụ thuộc vào Ban quản trị chuỗi cung ứng Để hình thành một chuỗicung ứng hàng nông sản và duy trì liên kết trong chuỗi cung ứng này đòi hỏiphải xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ban quản trị trong chuỗi cungứng Nhìn chung, ban quản trị có nhiệm vụ phối hợp, liên kết với ngành Nôngnghiệp, các viện khoa học, trường đại học và các hợp tác xã/ người nông dânvới các thương lái, doanh nghiệp chế biến/xuất khẩu, từ đó hình thành vùngnguyên liệu tập trung Quản trị viên chuỗi cung ứng là những thành viên tiêubiểu đại diện cho mỗi một mắt xích trong chuỗi cung ứng
Trang 143.Thực trạng chi phí chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam
3.1 Thực trạng :
Hàng năm, Việt Nam xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn nông sản ra thế giới, đónggóp lớn cho nền kinh tế Năm 2020, xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm sản đạt20,3 tỷ USD, chiếm 7,2% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong đó, một số mặthàng nông sản có tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như: Gạotăng 9,3%; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 2,4%; cao su tăng 3,5%; gỗ và sảnphẩm từ gỗ tăng 15,7% Xuất khẩu thủy sản đạt 8,4 tỷ USD Trong đó, xuấtkhẩu tôm đã trở thành điểm sáng của ngành thủy sản năm 2020
Có rất nhiều các hình thức thực hiện chuỗi cung ứng nông sản chẳng hạn nhưchuỗi nông sản lạnh hoặc là chuỗi nông sản ngắn, Bài tiểu luận này, chúng
em sẽ tìm hiểu và phân tích rõ thực trạng cũng như chi phí của chuỗi cung ứngnông sản lạnh
Bảng 4 Các chi phí cơ bản của chuỗi cung ứng nông sản
3.1.1 Bảo quản hàng nông sản
Đặc thù của nông sản là tính thời vụ, thời gian lưu trữ, sử dụng ngắn ngày, đòihỏi khâu bảo quản phải thực hiện tốt, khâu lưu thông đến người tiêu dùng phảinhanh để bảo toàn giá trị nông sản
Trang 15 Nông sản sau khi thu hoạch sẽ chịu nhiều tác động từ môi trường Các yếu tốnhư nhiệt độ, độ ẩm, không khí sẽ làm hư nông sản Vì lý do đó mà sau khi thuhoạch, nông sản cần được bảo quản để đảm bảo chất lượng.
Mỗi loại nông sản khác nhau sẽ có đặc điểm sinh học khác nhau Vì vậy màcách bảo quản cũng có thể khác biệt đối với mỗi loại nông sản Mỗi vùng vàđịa phương cũng sẽ có khí hậu khác biệt Ví dụ miền Bắc hay xuất hiện mùanồm, còn các tỉnh phía Nam thì có nhiệt độ trung bình cao Tùy theo điều kiệncủa môi trường mà doanh nghiệp cần có sự điều chỉnh cho phù hợp Các mặthàng nông sản như lúa, gạo, rau, củ, quả…đặc thù thường khó bảo quản, vậnchuyển phải đảm bảo tính khô ráo, sạch sẽ chống ẩm mốc Do đó, trong quátrình vận chuyển đòi hỏi xe tải chuyển phải thùng kín, hoặc thùng mui bạt,thùng đông lạnh để phù hợp, thời gian vận chuyển phải linh hoạt và chuẩn xác
3.1.2 Chuỗi cung ứng nông sản ngắn
Khái niệm: Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm ngắn được hiểu là việc giảmtối đa các tác nhân trung gian để mang lại ích cho cả người tiêu dùng, ngườisản xuất và xã hội trên các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội Cho đếnnay chuỗi cung ứng ngắn đã rất phổ biến ở các nước phát triển nhưng vẫn còn
là khái niệm mới mẻ và chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam Bài báo nàygiới thiệu về chuỗi cung ứng ngắn, tập trung vào phân tích bối cảnh mới vànhững tác động của nó tới hệ thống cung ứng nông sản thực phẩm nói chung vàhiện trạng phát triển của chuỗi cung ứng nói riêng Đưa ra đề xuất một số giảipháp khuyến nghị nhằm phát triển chuỗi cung ứng ngắn tới năm 2030
Cho đến nay, chuỗi cung ứng ngắn thực phẩm (Short Food Supply ChainsSFSC) chưa được đề cập ở Việt Nam, nhưng đã khá phổ biến ở các nước pháttriển và Liên minh châu Âu (EU) từ những năm đầu thế kỷ XXI Khái niệmSFSC được Marsden đưa ra năm 2000, sau đó được Renting bổ sung hoàn thiệnnăm 2003 Chuỗi cung ứng ngắn thực phẩm là thuật ngữ mô tả một phươngthức cung ứng nông sản thực phẩm gồm nhiều hoạt động bao gồm quá trình sảnxuất, phân phối và tiêu thụ thực phẩm như chợ nông trang (Farmer’ market),cửa hàng trang trại (farm shops), cửa hàng hợp tác xã nông dân (collectivefarmers' shops), nông nghiệp hỗ trợ cộng đồng (community - supported
Trang 16agriculture) Theo Quy định số 1305/2013 của EU “chuỗi cung ứng ngắn thựcphẩm là chuỗi cung ứng có số lượng tác nhân kinh tế tối thiểu, cam kết hợp tác,phát triển kinh tế địa phương và có mối quan hệ gần gũi về xã hội và địa lýgiữa người sản xuất và người tiêu dùng”.
Khái niệm “ngắn” mô tả sự tương tác giữa người sản xuất và người tiêu dùng,chỉ ra bản chất cũng như sự khác biệt giữa SFSC với các chuỗi cung ứng, chuỗigiá trị truyền thống Theo lý thuyết hiện có ba loại hình SFSC chính, đó là:
1) Bán hàng trực tiếp bởi các cá nhân (Direct sale by individuals): Đây
là hình thức đơn giản nhất của chuỗi cung ứng ngắn liên quan đến cácgiao dịch trực tiếp giữa những người nông dân và người tiêu dùng Với
mô hình này, nông dân tự mở các cửa hàng để bán các sản phẩm trựctiếp của họ hoặc bán các sản phẩm của các trang trại khác;
2) Bán hàng trực tiếp qua các nhóm (Collective direct sale) : Các hộnông dân, trang trại, hợp tác xã, hợp tác với nhau để bán trực tiếp cácsản phẩm của mình, và
3) Đối tác người tiêu dùng nhà sản xuất (Consumer Producer partnership) được thực hiện thông qua các thỏa thuận ký kết bao tiêu sảnphẩm giữa người tiêu dùng với người sản xuất
-3.1.3 Chuỗi cung ứng nông sản lạnh
Chuỗi cung ứng lạnh (hay gọi là chuỗi lạnh) ngày càng phổ biến nhất là với xu thếphát triển công nghệ bảo quản lạnh hiện nay trên thế giới Chuỗi lạnh của Việt Nam cólịch sử hình thành non trẻ chỉ khoảng 20 năm gần đây, với những kho lạnh thương mạiđầu tiên được xây dựng khoảng từ giữa thập niên 90
Một nghiên cứu được công bố bởi CEL Consulting nhằm đo lường tổn thất thực phẩm
và sử dụng chuỗi lạnh tại Việt Nam với phạm vi nghiên cứu bao gồm sản xuất, xử lýsau thu hoạch, lưu trữ và vận chuyển đến điểm phân phối trái cây, rau, thịt và hải sản.Kết quả cho thấy trung bình, 25,4% sản phẩm nông sản được sản xuất bị hư hỏngtrước khi được đưa đến các nhà máy chế biến hoặc trung tâm phân phối Rác thải từthực phẩm trong chuỗi nông nghiệp của Việt Nam cao hơn 5,3% so với tiêu chuẩn của
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO) định ra đối với Nam vàĐông Nam Á
Nghiên cứu của CEL cũng tiết lộ rằng chỉ có 14% các nhà sản xuất Việt Nam đượcliên kết với các giải pháp chuỗi lạnh, trong đó ngành thủy sản chiếm 42,1% trong tổng
số các nhà sản xuất Ngoài ra, trong khi việc sử dụng chuỗi lạnh là 66,7% đối với nhà
Trang 17xuất khẩu, thì chuỗi lạnh chỉ được áp dụng bởi 8.2% các nhà sản xuất cung cấp cho thịtrường nội địa Sự khác biệt này phản ánh các tiêu chuẩn chất lượng cao và chuỗi lạnh
do các thị trường xuất khẩu mà các nhà xuất khẩu Việt Nam phải tuân thủ, nhưng lạicho thấy sự dễ tính của thị trường nội địa và mối nguy tiềm ẩn đối với sức khỏe củangười tiêu dùng Việt Nam
Vì không có yêu cầu cao đối với thị trường trong nước, các bên có xu hướng không sửdụng chuỗi lạnh để bảo quản thực phẩm một cách phổ biến vì nó tạo thêm chi phí trựctiếp Ở Việt Nam, việc giữ cho hàng tươi sống hầu hết được giải quyết theo tốc độ rathị trường Ví dụ, các sản phẩm tươi được mang từ các trang trại đến các điểm bánhàng trong một khoản thời gian rất ngắn, cho phép tổn thất được giữ ở mức tương đốichấp nhận được
Theo nhận định của Thời báo Kinh tế Việt Nam (2019), hiện nay các bên dường nhưvẫn coi chuỗi lạnh là chi phí chứ không phải tài sản Tuy nhiên trong tương lai chắcchắn phải thay đổi nhận thức không chỉ chú ý đến yếu tố chi phí vì chuỗi lạnh sẽ giúp
thực phẩm được bảo quản lâu hơn và chất lượng hơn.
3.1.3.1 Bảo quản hàng nông sản lạnh
a, Giải pháp cho chuỗi cung ứng lạnh cho nông sản
hệ thống vận tải hàng lạnh như: xe tải, container lạnh, cùng một số thiết bịchuyên dụng giao nhận và kiểm tra hàng lạnh tùy thuộc vào yêu cầu của từngloại sản phẩm
Các loại quả khó bảo quản, sử dụng ngắn ngày như vải, dâu,… sẽ được ưu tiên
để trong các kho lạnh và thường được vận chuyển bằng xe lạnh chuyên dụng,kết nối vận chuyển liên vùng qua đường bay để đảm bảo chất lượng quả tươingon đến tay người tiêu dùng
nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện tỷ lệ tổn thất trung bình đối với nông sảnViệt Nam rơi vào khoảng 25% – 30%, riêng trái cây, rau củ quả có thể lên đến45%
mặc dù làm tốt ở khâu canh tác, đảm bảo hoàn toàn các quy trình kiểm tra chất