1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn quản lý chuỗi cung ứng

37 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận môn quản lý chuỗi cung ứng
Tác giả Lê Đăng Dũng
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Vân Nga
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Quản lý Chuỗi Cung Ứng
Thể loại Tiểu luận môn học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 798,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Một số khái niệm (6)
    • 1.1.1. Quản lý chuỗi cung ứng (6)
    • 1.1.2. Sơ đồ mạng lưới cung ứng của doanh nghiệp (10)
    • 1.1.3. Phân loại các góc phần tư thị trường và các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất chuỗi cung ứng tương ứng các góc phần tư đó (11)
  • PHẦN 2. GIỚI THIỆU VỀ CHUỖI CUNG ỨNG CÔNG TY (15)
    • 2.1. Giới thiệu về công ty Vinacafe Biên Hòa (15)
    • 2.2. Sơ đồ chuỗi cung ứng công ty, sản phẩm cung ứng của doanh nghiệp (18)
    • 2.3. Phân loại phần tư thị trường của chuỗi cung ứng đó (22)
    • 2.4. Phân tích các chỉ tiêu hiệu suất đối với việc quản lý chuỗi cung ứng… (26)
      • 2.4.1. Dịch vụ khách hàng (27)
      • 2.4.2. Hiệu quả nội bộ (29)
  • PHẦN 3. CÁC KIẾN NGHỊ (32)
    • 3.1. Kiến nghị đối với doanh nghiệp (32)
    • 3.2. Kiến nghị với Cơ quan Nhà nước (33)
    • 3.3. Kiến nghị đối với chính quyền địa phương (33)
  • KẾT LUẬN (36)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (37)

Nội dung

Bài tiểu luận với mục đích sẽ cung cấp khái quát về hoạt động Quản trị chuỗi cung ứngtrong doanh nghiệp, phân tích những chỉ tiêu đánh giá hiệu suất chuỗi cung ứng để từ đó đề xuất các k

Một số khái niệm

Quản lý chuỗi cung ứng

1.1.1.1 Khái niệm quản lý chuỗi cung ứng

Quản lý chuỗi cung ứng có nhiều định nghĩa, nhưng trước hết ta cần làm rõ khái niệm cơ bản: chuỗi cung ứng là một hệ thống gồm con người, nguồn lực, thông tin và các hoạt động được kết nối và phụ thuộc lẫn nhau, nhằm điều phối việc di chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà cung cấp hoặc nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng Hầu hết sản phẩm và dịch vụ ngày nay đều có chuỗi cung ứng riêng, và mức độ phức tạp hay đơn giản của chuỗi ấy phụ thuộc vào tính chất và quy mô sản xuất.

Chỉ có khách hàng cuối cùng là nguồn lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi; khi các thành phần trong chuỗi đưa ra quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác, giá bán cho khách hàng cuối cùng sẽ tăng, chất lượng phục vụ giảm và nhu cầu tiêu dùng bị ảnh hưởng Để chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả và bám sát mục tiêu tối ưu chi phí và giá trị cho khách hàng, cần có sự tham gia của quản lý chuỗi cung ứng Quản lý chuỗi cung ứng là khuôn khổ kế hoạch hóa dòng sản phẩm và quản trị thông tin trong chuỗi nhằm đạt được sự liên kết và phối hợp giữa các hoạt động của các thành viên Nói một cách đơn giản, quản lý chuỗi cung ứng là việc điều chỉnh từ thượng nguồn (nhà cung cấp) tới hạ lưu (khách hàng) để mang đến giá trị tốt nhất với chi phí thấp nhất cho khách hàng Vì vậy, trọng tâm của quản lý chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ giữa các bên trong chuỗi để đạt được lợi ích tối ưu cho toàn chuỗi.

Quản trị chuỗi cung ứng (CSCMP) được định nghĩa là một chức năng tích hợp, có vai trò kết nối các chức năng kinh doanh và các quy trình kinh doanh cốt lõi trong công ty hoặc với các công ty khác, nhằm hình thành một mô hình kinh doanh vừa hiệu quả vừa đồng bộ Nó bao gồm toàn bộ hoạt động quản trị logistics và cả hoạt động sản xuất, đồng thời thúc đẩy sự phối hợp về quy trình và hoạt động của các bộ phận Marketing, Kinh doanh, Thiết kế sản phẩm, Tài chính và CNTT để tối ưu hóa hiệu suất và sự liên kết trong toàn chuỗi cung ứng.

1.1.1.2 Các thành phần của chuỗi cung ứng

Ở hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng gồm công ty, các nhà cung cấp và khách hàng của công ty đó; đây là tập hợp các đối tượng tham gia cơ bản để hình thành chuỗi cung ứng Trong bối cảnh chuỗi cung ứng mở rộng, có ba loại đối tượng tham gia truyền thống: nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng.

 Loại thứ nhất là nhà cung cấp của các nhà cung cấp hay nhà cung cấp cuối cùng ở vị trí bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng.

 Loại thứ hai là khách hàng của các khách hàng hay khách hàng cuối cùng ở vị trí kết thúc của chuỗi cung ứng.

Loại thứ ba trong chuỗi cung ứng là tập hợp các công ty cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp khác, đóng vai trò là người hỗ trợ và tối ưu hóa các hoạt động của chuỗi cung ứng Những công ty này cung cấp dịch vụ hậu cần, dịch vụ tài chính, dịch vụ tiếp thị và dịch vụ công nghệ thông tin, nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, tối ưu chi phí và tăng trưởng cho các đối tác trong hệ sinh thái chuỗi cung ứng.

Trong chuỗi cung ứng, các vai trò được phân bổ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng—là cá nhân hoặc tổ chức Các công ty ở cấp độ thứ cấp này liên kết với nhiều nhà cung cấp để cung cấp một loạt dịch vụ thiết yếu cho việc luân chuyển và tạo giá trị Sự phối hợp giữa các thành phần giúp chuỗi cung ứng hoạt động thông suốt và hiệu quả hơn cho mọi bên tham gia.

Nhà sản xuất là các tổ chức chịu trách nhiệm sản xuất ra sản phẩm để cung cấp cho thị trường Có hai nhóm nhà sản xuất chính: nhà sản xuất nguyên vật liệu và nhà sản xuất thành phẩm Các nhà sản xuất nguyên vật liệu bao gồm hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác dầu khí, cùng với các tổ chức trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt thủy hải sản Trong khi đó, các nhà sản xuất thành phẩm sử dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất từ các công ty khác để chế tạo sản phẩm cuối cùng.

Nhà phân phối là các công ty lưu trữ hàng hóa ở quy mô lớn từ nhà sản xuất và phân phối tới khách hàng, đồng thời được xem như nhà bán sỉ vì bán số lượng lớn cho các nhà kinh doanh khác so với khách hàng mua lẻ Do biến động nhu cầu, họ giữ tồn kho, thực hiện bán hàng và chăm sóc khách hàng Một nhà phân phối điển hình là tổ chức sở hữu hàng tồn kho mua từ nhà sản xuất và bán lại cho người tiêu dùng Ngoài chức năng khuyến mãi và bán hàng, nhà phân phối còn thực hiện quản lý tồn kho, vận hành cửa hàng, vận chuyển hàng hóa và chăm sóc khách hàng Cũng có loại nhà phân phối là đại lý đại diện cho nhà sản xuất và khách hàng mà không sở hữu hàng hóa; loại này tập trung vào khuyến mãi và bán sản phẩm Dù ở hình thức nào, nhà phân phối luôn nắm bắt nhu cầu của khách hàng để thúc đẩy mua hàng từ công ty sản xuất.

Nhà bán lẻ hoạt động bằng cách tồn trữ và bán sản phẩm cho khách hàng với số lượng nhỏ, đồng thời nắm bắt ý kiến và nhu cầu của người tiêu dùng một cách chi tiết Nỗ lực chính của nhà bán lẻ là thu hút khách hàng đối với các sản phẩm mình kinh doanh, nên họ thường tập trung quảng cáo và áp dụng các kỹ thuật kết hợp về giá cả, sự lựa chọn và sự tiện dụng để tối ưu hóa trải nghiệm mua sắm.

Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm Họ có thể là một cá nhân mua để dùng cho mục đích cá nhân hoặc là một tổ chức mua sản phẩm để kết hợp với sản phẩm khác rồi bán lại cho khách hàng khác, là người sử dụng cuối cùng của sản phẩm.

Nhà cung cấp dịch vụ là các tổ chức chuyên thực hiện các hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và người tiêu dùng, nhờ vào chuyên môn và kỹ năng đặc thù nên họ làm các dịch vụ này hiệu quả hơn với mức giá tối ưu Trong bất cứ chuỗi cung ứng nào, hai dịch vụ phổ biến nhất là vận tải và kho bãi, được thực hiện bởi các công ty vận tải và công ty kho hàng, thường được gọi là nhà cung cấp hậu cần Dịch vụ tài chính do ngân hàng, công ty định giá tín dụng và công ty thu nợ đáo hạn cung cấp để hỗ trợ tài chính cho chuỗi cung ứng Một số nhà cung cấp còn tham gia nghiên cứu thị trường, quảng cáo, thiết kế sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, pháp lý và tư vấn quản lý Tất cả họ đều liên kết ở mức độ nhất định với các hoạt động của nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và người tiêu dùng trong chuỗi cung ứng, góp phần nâng cao hiệu quả và luồng lưu info hàng hóa.

Chuỗi cung ứng là tập hợp nhiều đối tượng tham gia được phân loại thành một hoặc nhiều loại, mỗi loại đảm nhận vai trò cụ thể để vận hành mạng lưới cung ứng Sự ổn định theo thời gian là yếu tố cốt lõi giúp chuỗi cung ứng giảm thiểu rủi ro và duy trì luồng hàng hóa, thông tin và tiền tệ diễn ra thông suốt Duy chỉ có một yếu tố có thể thay đổi: cơ cấu các thành viên và vai trò của các đối tượng tham gia trong chuỗi cung ứng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất vận hành và phân bổ nguồn lực.

1.1.1.3 Các hoạt động của chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng thực hiện công việc của mình bằng các hoạt động thường xuyên và liên tục, đó là những hoạt động cốt lõi của mọi chuỗi cung ứng Để hiểu rõ hơn về những hoạt động này và cách chúng liên quan đến nhau, chúng ta sử dụng phiên bản đơn giản của mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng (SCOR) do APICS (American Production and Inventory Control Society) phát triển, thường được gọi là APICS SCOR Mô hình này giúp xác định một cách cô đọng bốn khâu hoạt động chính của chuỗi cung ứng.

1 Lập kế hoạch 2 Tìm nguồn cung (Thu mua) 3 Sản xuất (chế tạo) 4 Phân phối

Lập kế hoạch là quá trình tập hợp và tổ chức tất cả các hoạt động cần thiết để xây dựng kế hoạch và điều phối các hoạt động trong ba quy trình còn lại Trong khuôn khổ này, chúng ta sẽ xem xét chi tiết ba hoạt động thuộc loại này: dự báo cầu, định giá sản phẩm và quản lý hàng lưu kho, nhằm tối ưu hóa nguồn lực, tăng hiệu quả vận hành và đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường.

Tìm nguồn cung (thu mua) là tập hợp các hoạt động cần thiết để có đầu vào cho sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, trong đó chú trọng xác định và tiếp cận nguồn vật liệu và dịch vụ phù hợp với yêu cầu về chất lượng, chi phí và thời gian giao hàng Hai khía cạnh chính của khâu này là: thứ nhất là thu mua, tức là quá trình lựa chọn, ký kết và quản lý các hợp đồng với nhà cung cấp nhằm đảm bảo nguồn vật liệu và dịch vụ được cung cấp đúng lúc; thứ hai là quản lý nguồn cung và tồn kho, bao gồm đánh giá nhà cung cấp, tối ưu hóa chi phí đầu vào và duy trì chuỗi cung ứng ổn định.

Sơ đồ mạng lưới cung ứng của doanh nghiệp

Chuỗi cung ứng cơ bản gồm ba thành viên chính: nhà cung cấp nguyên vật liệu, nhà sản xuất và mạng lưới phân phối sản phẩm đến khách hàng Quá trình này bắt đầu từ việc biến nguyên vật liệu thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường và kết thúc bằng sản phẩm hoàn chỉnh được phân phối tới người tiêu dùng Ba dòng di chuyển trong chuỗi gồm dòng vật chất di chuyển từ thượng nguồn xuống hạ nguồn, dòng thông tin đi từ nhà cung cấp đến công ty và đến khách hàng, và dòng tiền di chuyển ngược lại từ hạ nguồn lên thượng nguồn.

Hình 1.1 Sơ đồ mạng lưới chuỗi cung ứng

Phân loại các góc phần tư thị trường và các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất chuỗi cung ứng tương ứng các góc phần tư đó

cung ứng tương ứng các góc phần tư đó

Chuỗi cung ứng tồn tại để đáp ứng thị trường mà nó phục vụ; để xác định kết quả của chuỗi cung ứng, công ty áp dụng một mô hình đơn giản giúp phân loại thị trường, nhận diện những yêu cầu và cơ hội từ từng loại và mở ra hướng điều tra thị trường Mô hình này dựa trên hai yếu tố cơ bản là cung và cầu và xác định bốn loại thị trường cơ bản: thị trường đang phát triển có cả cung lẫn cầu đều thấp và khó dự báo; thị trường tăng trưởng có cung thấp và cầu cao; thị trường ổn định (dễ dự báo) có cả cung và cầu ở mức cao; thị trường trưởng thành có cung cao hơn cầu Trong thị trường đang phát triển, hai yếu tố cung và cầu ở mức thấp, dễ thay đổi và thường là thị trường mới xuất hiện trong tương lai do các xu hướng kinh tế – xã hội hoặc công nghệ tiên tiến tạo ra nhu cầu từ một nhóm khách hàng và phát triển lớn dần; các thành phần tham gia chuỗi cung ứng phối hợp để thu thập thông tin xác định nhu cầu, dù chi phí bán hàng tại thị trường này thường cao và lượng tồn kho ở mức thấp.

Trong thị trường tăng trưởng, cầu cao hơn cung khiến sự biến động cung cầu dễ xảy ra; khi có sự thay đổi đột ngột thì nhu cầu tăng mạnh và cung không đáp ứng kịp Do đó, doanh nghiệp chú trọng nâng cao mức phục vụ khách hàng bằng tỷ lệ hoàn thành đơn hàng và giao hàng đúng hạn; khách hàng sẵn sàng trả thêm cho nguồn cung đáng tin cậy, trong khi chi phí bán hàng có thể ở mức thấp và tồn kho có thể ở mức cao Ở thị trường ổn định, cung cầu cân bằng và dự đoán được, tạo nền tảng để tối ưu hóa tồn kho và chi phí bán hàng đồng thời duy trì mức phục vụ khách hàng cao Trong thị trường trưởng thành, cung vượt cầu, dư thừa sản phẩm và nhu cầu có thể ổn định hoặc giảm chậm, do cạnh tranh gay gắt; doanh nghiệp phải tăng khả năng đáp ứng nhanh với biến động nhu cầu và duy trì mức phục vụ khách hàng cao, trong khi khách hàng chuộng sự tiện lợi của cửa hàng đa dạng sản phẩm với giá thấp Tồn kho ở mức tối thiểu và chi phí bán hàng có thể cao hơn chi phí thu hút khách hàng so với một thị trường cạnh tranh.

Mỗi khu vực thị trường mang đến những cơ hội kết hợp riêng cho chuỗi cung ứng Mỗi loại thị trường đòi hỏi một tập hợp đặc tính hiệu suất khác nhau mà các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng phải đáp ứng Để phát triển mạnh, các công ty cần có sự hợp tác để khai thác tối đa các cơ hội mà thị trường của họ cung cấp Lợi nhuận cao nhất thuộc về những công ty có thể đáp ứng hiệu quả các cơ hội thị trường, còn các doanh nghiệp không làm được sẽ bị tụt lại phía sau.

Chúng ta đã giới thiệu hai đặc điểm mô tả hiệu suất và hiệu quả của chuỗi cung ứng và bây giờ cần xác định chúng bằng các thuật ngữ đo lường chuẩn, có thể đánh giá một cách khách quan Vì vậy, bài viết tập trung vào bốn tiêu chí đo lường chính: Dịch vụ khách hàng (mức độ đáp ứng, sự hài lòng và thời gian giao hàng); Hiệu quả nội bộ (chi phí, chu trình vận hành và tối ưu hóa quy trình); Nhu cầu linh hoạt (khả năng thích ứng nguồn lực và điều chỉnh trước biến động thị trường); và Phát triển sản phẩm (thời gian ra mắt sản phẩm mới, mức độ đổi mới và cải tiến liên tục của chuỗi cung ứng).

Ở các thị trường ở góc phần tư thứ nhất đang phát triển, chuỗi cung ứng cần vượt trội ở hai yếu tố: phát triển sản phẩm và dịch vụ khách hàng Thị trường tăng trưởng đòi hỏi mức độ dịch vụ khách hàng rất cao, được đo bằng tỷ lệ lấp đầy đơn hàng và giao hàng đúng hạn Thị trường ổn định đòi hỏi hiệu quả nội bộ và phạm vi dịch vụ khách hàng rộng hơn Thị trường trưởng thành đòi hỏi đồng thời tối ưu hiệu quả nội bộ và duy trì dịch vụ khách hàng ổn định.

Để đạt lợi nhuận cao nhất, các công ty và chuỗi cung ứng cần duy trì mức độ linh hoạt tối đa để đáp ứng hiệu quả các yêu cầu của thị trường mà họ phục vụ Các tổ chức thành công nhất là những đơn vị có khả năng đáp ứng nhanh chóng và chính xác các đòi hỏi của thị trường, từ đó tăng lợi nhuận Sự đáp ứng hiệu quả với thị trường là lợi thế cạnh tranh then chốt Do đó, các công ty nên thu thập và theo dõi các biện pháp hiệu suất của bốn lĩnh vực này; điều này sẽ cung cấp thông tin có giá trị về mức độ đáp ứng của họ với thị trường và hỗ trợ cải thiện hiệu suất kinh doanh.

Hình 1.2 Các góc phần tư của thị trường

Hệ thống đo lường kết quả có thể áp dụng cho từng công ty và cả toàn bộ chuỗi cung ứng, giúp đánh giá hiệu quả hoạt động và tối ưu hóa chuỗi cung ứng Việc đo lường trên toàn chuỗi gặp thách thức khi các công ty ngại chia sẻ dữ liệu, vì dữ liệu này có thể bị rò rỉ cho đối thủ, khách hàng hoặc nhà cung cấp và bị lợi dụng để chống lại chính họ Trước khi triển khai đo lường toàn chuỗi, cần xây dựng lòng tin và động lực tham gia của các bên liên quan Khi được thực hiện, hệ thống đo lường sẽ hướng dẫn cách thức vận hành của toàn bộ chuỗi cung ứng và mang lại lợi ích cho tất cả các đối tượng tham gia.

Bảng dưới đây sẽ cho biết các tiêu chí trên được xác định thông qua những chỉ tiêu nào:

Hình 1.3 Các chỉ tiêu cho từng tiêu chí đo lường hiệu suất

GIỚI THIỆU VỀ CHUỖI CUNG ỨNG CÔNG TY

Giới thiệu về công ty Vinacafe Biên Hòa

Vinacafé Biên Hòa là thương hiệu cà phê hòa tan hàng đầu tại Việt Nam, thuộc hệ thống phân phối đồ uống của Masan Hệ thống phân phối của Vinacafé Biên Hòa gồm hơn 160.000 điểm bán lẻ đồ uống, 3.000 nhân viên bán hàng và 8 trung tâm phân phối trải dài trên 63 tỉnh thành trên toàn quốc, giúp thương hiệu tiếp cận người tiêu dùng ở khắp nơi Vinacafé Biên Hòa còn đăng ký thương hiệu tại 70 quốc gia và xuất khẩu thường xuyên sang khoảng 20 thị trường trên thế giới, bao gồm Mỹ, Nhật và các khu vực châu Âu, đáp ứng cả những thị trường khó tính nhất Năm 2020, Vinacafé Biên Hòa lọt Top 10 Công ty đồ uống uy tín theo Vietnam Report (nhóm ngành đồ uống không cồn).

Năm 1968, ông Marcel Coronel, người Pháp, cùng vợ là bà Trần Thị Khánh khởi công xây dựng Nhà máy Cà phê CORONEL tại Khu Kỹ nghệ Biên Hòa (nay là Khu Công nghiệp Biên Hòa 1, tỉnh Đồng Nai) với mục đích giảm chi phí vận chuyển cà phê về Pháp Nhà máy Cà phê CORONEL có công suất thiết kế 80 tấn cà phê hòa tan mỗi năm, với toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị được nhập khẩu từ Đức Đây là nhà máy chế biến cà phê hòa tan đầu tiên trong khu vực các nước Đông Dương.

Năm 1975 - Nhà máy Cà phê Biên Hòa

Vào thời điểm Việt Nam thống nhất, gia đình Coronel trở về Pháp và bàn giao Nhà máy Cà phê Coronel cho Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam Nhà máy này được đổi tên thành Nhà máy Cà phê Biên Hòa và giao cho Tổng cục Công nghệ Thực phẩm quản lý Tuy nhiên, khi bàn giao, nhà máy vẫn chưa chạy thử thành công; Marcel Coronel, một kỹ sư nông nghiệp, dù nhiệt huyết với công việc, vẫn chưa tìm được cách khống chế được hệ thống dây chuyền phức tạp cùng với nhiều máy móc và thiết bị chế biến cà phê hòa tan.

Năm 1977 – Việt Nam sản xuất thành công cà phê hòa tan

Nhân dịp kỷ niệm 2 năm ngày Việt Nam thống nhất, mẻ cà phê hòa tan đầu tiên đã ra lò trong niềm vui hân hoan của toàn thể cán bộ, công nhân viên Nhà máy Cà phê Biên Hòa Trong hai năm trước đó, đội ngũ kỹ sư và công nhân đã ngày đêm nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi để vận hành thành công nhà máy Năm 1977 đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng cho Nhà máy Cà phê Biên Hòa và ngành cà phê Việt Nam: lần đầu tiên Việt Nam sản xuất được cà phê hòa tan.

Năm 1978 – Cà phê Việt Nam xuất ngoại

Việt Nam ký kết các nghị định thư với các nước trong hệ thống XHCN về cơ chế hàng đổi hàng, và từ năm 1978 Nhà máy Cà phê Biên Hòa bắt đầu xuất khẩu cà phê hòa tan sang các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quan trọng cho ngành cà phê Việt Nam khi mở rộng thị trường sang khu vực Đông Âu thông qua thỏa thuận barter Qua đó, sản phẩm cà phê hòa tan Việt Nam đã tiếp cận các thị trường mới, tăng trưởng kim ngạch và củng cố quan hệ thương mại với các nước xã hội chủ nghĩa thời kỳ đó.

Năm 1983 – Thương hiệu Vinacafé ra đời

Trong suốt thập niên 1980, Nhà máy Cà phê Biên Hòa vừa nghiên cứu cải tiến kỹ thuật để xây dựng quy trình sản xuất chuẩn, vừa sản xuất cà phê hòa tan xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nhà nước Với mỗi bao bì ghi địa chỉ sản xuất, tên Vinacafé dần xuất hiện trên thị trường Đông Âu từ năm 1983, đánh dấu sự ra đời của thương hiệu Vinacafé.

Năm 1990 – Vinacafé chính thức trở lại Việt Nam

Vào cuối những năm 1980, đơn đặt hàng cà phê hòa tan Vinacafé ở thị trường Việt Nam có dấu hiệu giảm sút, phản ánh những diễn biến bất lợi của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu Đến năm 1990, Vinacafé chính thức quay trở lại thị trường Việt Nam dù trước đó một số sản phẩm của Nhà máy Cà phê Biên Hòa đã được tiêu thụ tại nước ta.

Năm 1993 – Ra đời cà phê hòa tan 3 trong 1

Những bước đầu của Vinacafé mở ra cho người Việt lần đầu tiếp xúc với cà phê hòa tan Cà phê hòa tan 3 trong 1 Vinacafé ra đời và nhanh chóng được thị trường đón nhận nhờ giải pháp hòa trộn đường và bột kem vào cà phê được đóng gói sẵn thành từng gói nhỏ, giúp người Việt thưởng thức cà phê với sữa mà không cần chờ cà phê nhỏ giọt qua phin Thành công của cà phê hòa tan 3 trong 1 đã đưa thương hiệu Vinacafé đến mức Nhà máy Cà phê Biên Hòa đăng ký sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới.

Năm 1998 – Nhà máy thứ hai

Năm 1998 đánh dấu một bước ngoặt tăng trưởng khi khởi công xây dựng nhà máy chế biến cà phê hòa tan thứ hai, được đặt ngay trên khuôn viên của nhà máy cũ Với công suất thiết kế 800 tấn cà phê hòa tan mỗi năm, nhà máy mới vượt mặt nhà máy cũ gấp 10 lần về quy mô Chỉ sau hai năm thi công, nhà máy mới chính thức được vận hành nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường nội địa và xuất khẩu.

Năm 2004 – Công ty CP Vinacafé Biên Hòa

Ngày 29 tháng 12 năm 2004, Nhà máy cà phê Biên Hòa chuyển đổi loại hình doanh nghiệp - từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần Các cổ đông sáng lập (hầu hết là người của Nhà máy Cà phê Biên Hòa) đã đặt tên mới cho công ty là: Công ty Cổ phần VINACAFÉ BIÊN HÒA (Vinacafé BH) Đây cũng là thời điểm mở ra một chương mới cho lịch sử Công ty khi mà nó hoạch định lại chiến lược phát triển, viết lại sứ mệnh, tầm nhìn mới và xác định những giá trị cốt lõi của mình, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế

Năm 2010: Xây nhà máy thứ ba ở Khu Công nghiệp Long Thành

Ngày 15/12/2010, Công ty Cổ phần Vinacafé Biên Hòa khởi công xây dựng nhà máy chế biến cà phê hòa tan trên khu đất gần 5 ha tại KCN Long Thành, Đồng Nai Đây là nhà máy thứ ba của tập đoàn với công suất 3.200 tấn cà phê hòa tan mỗi năm Khi đi vào hoạt động, nhà máy dự kiến sẽ cung cấp ra thị trường hàng vạn tấn cà phê hòa tan mỗi năm.

Với công nghệ hiện đại của Châu Âu, các sản phẩm 2 trong 1 và 3 trong 1 mang lại sự tiện dụng và hiệu quả cho người dùng Trong năm này, vào tháng 11/2010, công ty đã triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, khẳng định cam kết nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng.

Năm 2012: Hợp nhất hệ thống phân phối của Vinacafé Biên Hòa và Masan Consumer

Trong quý I/2012, Vinacafé Biên Hòa và Masan Consumer đã hợp nhất hai hệ thống phân phối thành một hệ thống phân phối chung, tạo nền tảng cho sự phát triển lớn mạnh, rộng khắp và hoạt động hiệu quả; sang quý II/2012, phòng Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm (R&D) được thành lập trên cơ sở từ bộ phận Nghiên cứu sản phẩm mới của phòng KCS để đáp ứng hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; đồng thời ở năm 2012, quý III/2012, công ty đã triển khai hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP) và bắt đầu áp dụng ERP trong toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Năm 2013: Bán lại cổ phần

Ngày 20/12/2013, Tổng Công ty Cà phê Việt Nam, cổ đông nhà nước lớn nhất của Vinacafe, đã bán lại phần lớn cổ phiếu tại Vinacafe Hiện nay, 90% cổ phần của Vinacafe Biên Hòa được nắm giữ bởi ba tổ chức: Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Masan (Masan Consumer) với 53,2%, Gaoling Fund với 23,3%, và Tổng Công ty Cà phê Việt Nam còn 12,8%.

Sơ đồ chuỗi cung ứng công ty, sản phẩm cung ứng của doanh nghiệp

Sơ đồ chuỗi cung ứng của Vinacafe:

Hình 2.4, Sơ đồ chuỗi cung ứng Vinacafe

 Nhà cung cấp các cấp:

Nhà cung cấp là mắt xích đầu tiên và rất quan trọng trong chuỗi cung ứng của mỗi doanh nghiệp, chịu trách nhiệm cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất Thông qua nguồn vật liệu này, chất lượng sản phẩm và chi phí sản phẩm đầu ra bị ảnh hưởng trực tiếp, từ giá thành đến sự ổn định của nguồn cung và thời gian giao hàng Vì vậy, quản trị chuỗi cung ứng tập trung vào lựa chọn nhà cung cấp tin cậy, đánh giá chất lượng, tối ưu chi phí và duy trì mối quan hệ lâu dài để nâng cao hiệu quả sản xuất Việc tối ưu hóa mối quan hệ với nhà cung cấp không chỉ cải thiện chất lượng và giá cả mà còn tăng khả năng đáp ứng thị trường và cạnh tranh kinh doanh.

Vinacafé BH sử dụng các nguyên vật liệu để sản xuất các loại cà phê hòa tan, cà phê sữa 3 trong 1 và cà phê sâm 4 trong 1, đồng thời bột ngũ cốc dinh dưỡng được cấu thành từ cà phê hạt, đường RE, bột kem, ngũ cốc và nhân sâm Tình hình nguồn cung của một số nguyên vật liệu chính cho Vinacafé BH được trình bày như sau.

Cà phê hạt là nguyên liệu chính để sản xuất cà phê hòa tan, với nguồn cung tại Việt Nam dồi dào và hai loại chính là Robusta và Arabica; Vinacafé Biên Hòa thu mua Robusta từ các nông trường thuộc Tổng Công ty Cà phê Việt Nam và Arabica từ các tỉnh như Đắk Lắk, Lạng Sơn, Sơn La, Lâm Đồng, đảm bảo nguồn nguyên liệu chất lượng cho sản phẩm Vinacafé Biên Hòa có nhiều thuận lợi trong thu mua cà phê nguyên liệu với hai hình thức: thu mua qua các doanh nghiệp tư nhân, thương lái và thu mua trực tiếp từ nông dân; tuy nhiên hình thức thứ nhất gặp nhiều khó khăn khi nhiều đại lý vỡ nợ, ảnh hưởng đến nguồn cung và chất lượng, nên Vinacafe Biên Hòa hạn chế sử dụng nhà cung cấp này Thay vào đó, công ty đã đầu tư và quản lý trực tiếp các nông trại cà phê của người nông dân, biến các nông trại thành một bộ phận trong doanh nghiệp để chủ động nguồn nguyên liệu chiến lược và tăng cường mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nông dân trồng cà phê.

Đường RE được Vinacafé BH mua chủ yếu từ các công ty trong nước, đảm bảo nguồn cung ổn định và hỗ trợ thị trường nội địa Tuy nhiên, Vinacafé BH có thể nhập khẩu khi giá đường trong nước cao hơn giá đường nhập khẩu để tối ưu chi phí và duy trì mức giá cạnh tranh cho khách hàng.

Hiện nay trong nước có nhiều đơn vị sản xuất bột kem nhưng chưa có đơn vị nào đạt chất lượng để phục vụ cho sản xuất cà phê sữa hòa tan, vì vậy Vinacafé BH vẫn phải nhập khẩu bột kem từ nước ngoài, chủ yếu từ các nước Châu Âu và khu vực như Malaysia, Indonesia Bột kem nhập khẩu được nhà cung cấp sản xuất theo công thức và tiêu chuẩn đặt hàng của Vinacafé BH nên chất lượng được đảm bảo, phù hợp với yêu cầu sản xuất cà phê sữa mang hương vị đặc trưng của Vinacafé BH.

Hình 2.5, Danh sách một số nhà cung cấp nguyên liệu chính của Vinacafe

Trong quá trình sản xuất và đóng gói, Vinacafé BH tận dụng nhiều nguồn nguyên vật liệu thiết yếu như điện, nước, nhiên liệu dầu DO và dầu FO, bao bì PE, thùng carton, túi giấy nhôm và túi OPP; các nguồn này chủ yếu được mua từ các công ty trong nước, nhằm đảm bảo chuỗi cung ứng ổn định và tối ưu chi phí cho hoạt động sản xuất Hiện nay, danh sách một số nhà cung cấp nguyên liệu chính cho công ty được cập nhật để tăng cường kiểm soát chất lượng và nâng cao cạnh tranh trên thị trường.

Hình 2.6 Danh sách các nhà cung cấp nguyên vật liệu Vinacafe

Vinacafe Biên Hòa nổi bật với sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại nhất và bí quyết huyền bí phương Đông, tạo nên nét độc đáo chỉ có ở thương hiệu này Vinacafe Biên Hòa được các tập đoàn hàng đầu thế giới chuyển giao công nghệ và cam kết hoạt động thân thiện với môi trường trong mọi quy trình sản xuất Từ một cơ sở rang xay cà phê nhỏ, công ty đã phát triển thành một tập đoàn với hệ thống cơ sở hạ tầng vững chắc, đảm bảo chuỗi cung ứng và tăng trưởng bền vững cho thị trường cà phê.

➢ Trụ sở chính của Công ty được đặt tại: Khu Công nghiệp Biên Hòa I, Phường An Bình,Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai.

➢ Các nhà máy sản xuất được đặt tại:

 Trụ sở chính Công ty: Khu Công nghiệp Biên Hòa I, Phường An Bình, thành phố Biên Hòa,tỉnh Đồng Nai.

 Chi nhánh Nhà máy cà phê Biên Hòa II: Lô C I,III - 3+5+7, Khu Công nghiệp Long Thành,xã Tam An, huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai.

 Chi nhánh MSI - Công ty Cổ phần Vinacafé Biên Hòa: Lô 6, Khu công nghiệp Tân ĐôngHiệp A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Nhà máy thứ 3 của Vinacafé Biên Hòa được đặt tại Long Thành, có công suất 3.200 tấn cà phê hòa tan nguyên chất mỗi năm, gấp 4 lần nhà máy thứ hai và gấp 40 lần nhà máy thứ nhất.

Với mặt hàng chính là cà phê hòa tan, Vinacafe Biên Hòa tận dụng đồng thời hệ thống phân phối truyền thống và hiện đại để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Trong kênh phân phối truyền thống, cà phê hòa tan được đưa từ nhà máy đến nhà phân phối, sau đó tới các siêu thị bán lẻ như BigC, FiviMart, Co.op Mart, đến các cửa hàng tạp hóa nhỏ và cả các khu phố hẻm trước khi được phân phối đến người tiêu dùng Bên cạnh đó, Vinacafe Biên Hòa đã xây dựng một hệ thống phân phối rộng khắp, giúp sản phẩm luôn sẵn có cho khách hàng và hiện diện tại 63 tỉnh thành.

Ngay từ năm 2012, khi Vinacafe Biên Hòa trở thành công ty con của Tập đoàn Masan, hệ thống phân phối của Vinacafe Biên Hòa đã được tích hợp vào mạng lưới phân phối thực phẩm và đồ uống rộng lớn của Masan Tính đến thời điểm báo cáo, Masan vận hành một trong những mạng lưới phân phối lớn nhất Việt Nam với hơn 160.000 điểm bán lẻ đồ uống, 3.000 nhân viên bán hàng phủ thị trường và 8 trung tâm phân phối đảm bảo phân phối hàng hóa trên 63 tỉnh thành toàn quốc Do hiểu sâu đặc thù phân phối đồ uống khác với thực phẩm, Masan nhanh chóng xây dựng và phát triển một đội ngũ bán hàng chuyên trách cho ngành hàng đồ uống, phục vụ cả thị trường nội địa và xuất khẩu Mạng lưới phân phối rộng và tăng trưởng rất nhanh của Masan đã giúp các sản phẩm của Vinacafe Biên Hòa được phủ sóng và tiếp cận thị trường ở quy mô lớn, đặc biệt khi triển khai sản phẩm mới và chương trình khuyến mãi.

Khách hàng chủ yếu của Vinacafe Biên Hòa là các cá nhân, họ mua hàng tại các điểm bán lẻ hoặc thưởng thức cà phê tại chuỗi cửa hàng Vinacafe, cho thấy sự tập trung vào trải nghiệm cà phê tại quán và sự tiện lợi khi mua sắm ở những điểm tiếp cận gần người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, với những khách hàng tổ chức, mua sắm với số lượng lớn, sẽ nhận được những mức giá chiết khấu của công ty và những ưu đãi khác cho khách hàng lâu dài

Phân loại phần tư thị trường của chuỗi cung ứng đó

Như đã đề cập đến khái niệm ở phần Cơ sở lý luận, để phân loại được doanh nghiệp thuộc góc phần tư nào của thị trường, ta cần xem xét đến 2 yếu tố cơ bản là cung và cầu trong thị trường mà công ty đang phục vụ, mà cụ thể ở đây là thị trường

Ngành cà phê có thị trường rộng lớn cả trong nước lẫn trên toàn cầu, là một thức uống quen thuộc với đại đa số người tiêu dùng Các yếu tố phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí và tín ngưỡng không coi cà phê là đồ uống bị cấm ở hầu hết các quốc gia, giúp cà phê tiếp cận người tiêu dùng ở nhiều nền văn hóa khác nhau Thông thường, người tiêu dùng uống cà phê vào buổi sáng, tạo thói quen tiêu thụ ổn định và thúc đẩy nhu cầu thị trường Tuy nhiên, đặc tính của cà phê có sự khác biệt tùy thuộc vào từng quốc gia, phản ánh sự đa dạng văn hóa và khẩu vị địa phương.

Theo kết quả từ VHLSS, khoảng 90% khối lượng tiêu thụ cà phê ở Việt Nam đến từ người dùng trung thành, nên cà phê được xem như hàng hóa thiết yếu trên thị trường nội địa Mặc dù giá tăng, phần đông người yêu cà phê vẫn duy trì mức tiêu thụ, chỉ khoảng 10% người dùng có sự điều chỉnh cầu khi giá biến động, cho thấy cầu cà phê có độ co giãn theo giá khá thấp Thêm vào đó, giá cà phê ở mức vừa phải so với thu nhập của đa số dân cư và biên độ dao động giá không lớn, nên sự biến động của giá so với thu nhập là không đáng kể Từ các nhận định này, thị hiếu tiêu dùng vẫn thể hiện sự ưa thích mạnh mẽ đối với cà phê.

Tiêu thụ cà phê đầu người tăng dần từ nhóm có thu nhập thấp nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất và phổ biến ở thành thị, với mức tiêu thụ ở thành thị cao gần gấp 2 lần so với nông thôn Tuy nhiên, vào các dịp lễ Tết, số lượng người tiêu dùng cà phê cũng tăng lên đáng kể Trong tổng số loại thức uống được lựa chọn để uống trong một tuần ở Thành phố Hồ Chí Minh, cà phê chiếm tới 26%, một con số khá cao so với các loại thức uống khác trên thị trường hiện có, lần lượt 5,4% và 13,9% Cà phê tiêu thụ ở Việt Nam được phân chia rõ ràng: cà phê rang xay chiếm ⅔ tổng lượng cà phê tiêu thụ, còn lại là cà phê hòa tan.

Hình 2.7 Sản lượng và tiêu thụ cà phê Việt Nam qua các năm

Theo thống kê, khoảng 19,2% người Việt Nam tiêu thụ cà phê, trong đó 47% uống cà phê hòa tan và 53% uống cà phê bột, với mức tiêu thụ bình quân đầu người khoảng 1,15 kg mỗi người mỗi năm; người tiêu dùng cà phê Việt Nam thể hiện sự trung thành cao, khi 65% khách hàng uống cà phê và tần suất tiêu thụ lên tới 7 lần mỗi tuần; theo báo cáo ngành nông nghiệp Việt Nam của BMI Research, giai đoạn 2005-2015 lượng tiêu thụ cà phê trên đầu người tăng từ 0,43 kg lên 1,38 kg mỗi người mỗi năm, mức tăng trưởng cao nhất trong các nước xuất khẩu cà phê; lượng tiêu thụ cà phê rang xay tại Việt Nam trong niên vụ 2016-2017 đạt 2,5 triệu bao và tăng lên 2,55 triệu bao ở niên vụ 2017-2018 nhờ sự phát triển nhanh của các cửa hàng cà phê; đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, nhu cầu tiêu thụ cà phê tại Việt Nam không giảm mà còn tăng lên, thể hiện xu hướng tiêu dùng nội địa ngày càng mạnh mẽ.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích cà phê Việt Nam từ 2015 đến 2020 biến động nhưng nhìn chung tăng lên, cho thấy quy mô trồng cà phê lớn đáp ứng nhu cầu thị trường và không bị thiếu hụt Tuy nhiên, năm 2020 diện tích gieo trồng giảm do một phần diện tích cà phê vối tái canh chua cho thu hoạch và chuyển sang các cây trồng hiệu quả hơn như rau, hoa, cùng với một số yếu tố khách quan khác.

Hình 2.8 Diện tích gieo trồng cà phê giai đoạn 2015 - 2020

Sản lượng cà phê cho thấy sự tăng trưởng đáng kể từng năm trong vòng 4 năm kể từ năm 2015, được thể hiện rõ qua bảng số liệu đính kèm Xu hướng tăng trưởng liên tục này phản ánh sự phục hồi và mở rộng của ngành cà phê, đồng thời gợi ý tiềm năng phát triển và cơ hội thị trường trong thời gian tới.

Trong giai đoạn 2015–2020, năng suất cà phê Việt Nam tăng liên tục, cho thấy nguồn cung cà phê nước ta không bị khan hiếm Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng về sản lượng và diện tích, từ đó nâng cao vị thế trên thị trường cà phê toàn cầu và đứng thứ hai thế giới về lượng tiêu thụ cà phê, chỉ sau Brazil.

Toàn quốc có 97 cơ sở chế biến cà phê nhân, 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay, 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan và 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn, cho thấy nguồn lực sản xuất cà phê Việt Nam dồi dào và có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa cũng như xuất khẩu Cụ thể, 97 cơ sở chế biến cà phê nhân có tổng công suất thiết kế 1,503 triệu tấn và tổng công suất thực tế đạt 83,6%; 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay có tổng công suất thiết kế 51,7 nghìn tấn sản phẩm/năm; 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan có tổng công suất thiết kế 36,5 nghìn tấn sản phẩm/năm và tổng công suất thực tế đạt 97,9%; 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn có tổng công suất thiết kế 139,9 nghìn tấn sản phẩm/năm và tổng công suất thực tế đạt 81,6%.

Ngành công nghiệp cà phê hiện nay có tác động lớn đến đời sống kinh tế – xã hội và môi trường Vì vậy, việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong quá trình sản xuất là cần thiết để nông dân và các nhà sản xuất trên toàn cầu vượt qua khó khăn trong việc kiểm soát giá cả và mùa vụ chịu ảnh hưởng nhiều bởi biến đổi khí hậu Nhờ ứng dụng khoa học – công nghệ, người nông dân hiểu rõ hơn về nhu cầu dinh dưỡng, nước tưới và chăm sóc cây cà phê, từ đó điều chỉnh tập quán canh tác theo hướng sản xuất cà phê hiệu quả hơn với chi phí thấp nhờ quản lý vườn cây hợp lý Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ kỹ thuật, sản lượng cà phê tăng và nguồn cung cà phê trên thị trường được đảm bảo.

Như đã trình bày dựa trên số lượng và phân tích hai yếu tố cung và cầu, thị trường cà phê Việt Nam cho thấy cả cung lẫn cầu đều ở mức cao Chính đặc điểm này cho thấy quy mô thị trường nội địa lớn và sự cạnh tranh giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng, đồng thời tạo tiền đề cho biến động giá phụ thuộc vào các yếu tố cung cầu và các chính sách liên quan.

2 kết quả này đã giúp ta xác định được chuỗi cung ứng của Vinacafe đang nằm trong góc phần tư của thị trường ( cả cung và cầu đều cao).

Phân tích các chỉ tiêu hiệu suất đối với việc quản lý chuỗi cung ứng…

Chúng tôi đã xác định Vinacafe nằm ở góc phần tư trên của thị trường, cho thấy đây là một thị trường ổn định Trong bối cảnh thị trường ổn định này, việc phân tích tập trung vào hai chỉ tiêu quan trọng của nhóm thị trường này là dịch vụ khách hàng và hiệu quả nội bộ, nhằm hiểu rõ cách Vinacafe tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng và cải thiện hiệu suất vận hành.

Trong thực tế, vẫn còn không ít người tiêu dùng quen với hương vị nhân tạo và pha trộn, trong khi nhiều khách hàng tìm kiếm sản phẩm có giá trị thực sự Vinacafé đang phát triển các sản phẩm nhắm tới phân khúc này, dành nhiều công sức trí tuệ và thời gian để mang đến hương vị thật, hương vị của thiên nhiên trong mỗi hạt cà phê Việt Nam, chỉ mang đến người tiêu dùng những gì tinh túy nhất từ thiên nhiên Sứ mạng này giúp hình dung mục tiêu cốt lõi của công ty: đem đến người thưởng thức cà phê những gì thật, tinh túy nhất của thiên nhiên, với khách hàng không phân biệt tuổi tác, công việc hay giới tính Công ty không phô trương bằng quảng cáo rầm rộ hay các hoạt động hình thức; thay vào đó, Vinacafé lặng lẽ chinh phục người tiêu dùng trong nước và nước ngoài bằng chất lượng tinh túy từ những hạt cà phê nhỏ bé nhưng chứa đựng nhiều hàm lượng khoa học và công nghệ cùng giá trị gia tăng từ thiên nhiên.

Vinacafe Biên Hòa đã xây dựng một hệ thống phân phối mạnh về quy mô lẫn chất lượng, với mạng lưới đối tác gồm nhà phân phối, đại lý và điểm bán lẻ trải rộng khắp 63 tỉnh thành Đầu quý 1 năm 2012, hệ thống phân phối của Vinacafe Biên Hòa được sáp nhập vào hệ thống phân phối của Masan Consumer (Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Masan), nhờ đó mạng lưới phân phối được mở rộng và thúc đẩy quá trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh chóng hơn Việc hợp nhất giúp Vinacafe Biên Hòa tiếp cận nhanh và sâu rộng hơn tới cả thị trường thành thị lẫn nông thôn thông qua kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp thuộc hệ thống của công ty.

Vinacafé triển khai kênh phân phối gián tiếp qua hệ thống các kênh trung gian gồm đại lý, nhà bán buôn và nhà bán lẻ Các kênh bán lẻ mà Vinacafé liên kết bao gồm siêu thị, cửa hàng tiện ích, tiệm tạp hóa và gian hàng tại các chợ lớn nhỏ trên khắp cả nước Theo báo cáo thường niên năm 2020, Vinacafé có hơn 8 trung tâm phân phối trên toàn quốc và hơn 160.000 điểm bán lẻ sản phẩm, cho thấy mạng lưới phân phối rộng khắp giúp tiếp cận người tiêu dùng ở mọi khu vực.

Vinacafé phát triển kênh phân phối trực tiếp thông qua hệ thống phân phối hàng tiêu dùng lớn của Masan, kết nối với hơn 2.600 siêu thị và cửa hàng Vinmart trên toàn quốc để tiếp cận khách hàng nhanh chóng và hiệu quả Theo thông tin từ website chính thức, Vinacafé có các quán cà phê mở chính thức của công ty để phục vụ nhu cầu uống cà phê tại quán của khách hàng Quán đầu tiên được mở tại Hà Nội năm 2011.

Với mạng lưới phân phối dày đặc, Vinacafe luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi lúc, mọi nơi Sự có mặt rộng khắp và khả năng cung ứng ổn định của sản phẩm giúp Vinacafe duy trì thị phần đứng đầu trong lĩnh vực cà phê hòa tan.

Vinacafé và Masan tạo nên sự kết hợp hoàn mỹ với hệ thống phân phối rộng khắp trên toàn quốc, mang lại hiệu quả và sự đồng bộ cho chuỗi cung ứng Tuy nhiên, Vinacafé vẫn chưa chú trọng phát triển bán hàng online trên các sàn thương mại điện tử, dù đây là xu hướng mua sắm phổ biến và mang lại lượng khách hàng tiềm năng lớn từ nền tảng online Việc chưa xây dựng kênh bán hàng chính thức trên các sàn thương mại điện tử khiến Vinacafé bỏ lỡ một kênh tiếp cận khách hàng quan trọng hiện nay và có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng doanh số trong thời đại số.

Hình 2.10 Bảng số chỉ tiêu tài chính Vinacafe

Giá trị hàng tồn kho (đồng) Số ngày tồn kho (Ngày)

Vòng quay tồn kho (Vòng)

Bảng 2.1 Chỉ số về tồn kho của Vinacafe từ 2017 – 2021

Giá trị hàng tồn kho và số ngày tồn kho có xu hướng giảm dần qua các năm từ năm

Trong giai đoạn 2017–2020, vòng quay tồn kho của Vinacafe tăng dần, cho thấy hàng tồn kho được lưu thông nhanh và không bị ứ đọng trong doanh nghiệp Giai đoạn này cho thấy Vinacafe quản lý tồn kho hiệu quả và nhu cầu tiêu dùng cà phê của người tiêu dùng tăng lên Tuy nhiên, đến năm 2021, tồn kho và số ngày tồn kho gia tăng, làm vòng quay tồn kho giảm xuống 22% so với năm 2020.

2020 do Vinacafe hạn chế sản xuất do tác động của Đại dịch Covid Ngoài ra, năm

2021 vẫn tiếp tục giãn cách do đại dịch Covid nên doanh nghiệp không bán được hàng, số hàng tồn trong kho tăng cao

ROS (%) Năm 2017 11,37 Năm 2018 18,54 Năm 2019 21,88 Năm 2020 24,85

Bảng 2.2 Chỉ số ROS của Vinacafe từ 2017 – 2021

Về chỉ số ROS của Vinacafé Biên Hòa từ 2017-2020 cho thấy xu hướng tăng dần, tuy nhiên năm 2021 ROS giảm còn 19,33% từ 24,85% năm 2020; Doanh thu thuần từ 2018-2020 giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và các biện pháp cách ly xã hội khiến nhu cầu mua café không được ưu tiên so với hàng thiết yếu; lợi nhuận sau thuế liên tục tăng nhờ nỗ lực bán hàng và tối ưu hóa chi phí sản xuất cũng như kiểm soát chi phí nguyên liệu đầu vào; theo lãnh đạo công ty, điều này nhờ nỗ lực bán hàng và cải tiến trong sản xuất, đồng thời quản lý chi phí nguyên liệu đầu vào hiệu quả; tuy vậy biến động giá nguyên liệu có thể tiếp tục ảnh hưởng đến biên lợi nhuận năm 2021; thị trường tiêu thụ bị co hẹp, thiếu nguyên, nhiên liệu phục vụ sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp cao và thời tiết bất lợi với hạn hán sớm ảnh hưởng năng suất và chất lượng cây; giá phân bón, xăng dầu tăng, diện tích cây trồng tái canh chưa có sản phẩm để thu hoạch chiếm tỷ lệ lớn khiến chi phí đầu vào tăng và đè lên ROS của công ty.

CÁC KIẾN NGHỊ

Kiến nghị đối với doanh nghiệp

Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam tự xây dựng vùng nguyên liệu nội địa để giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài, một xu hướng phù hợp với diễn biến thị trường cà phê hiện nay khi biến động và thiếu ổn định khó lường Để phát triển bền vững, các công ty cần mở rộng vùng nguyên liệu, đặc biệt là cà phê Arabica Tây Bắc được xem là khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cho loại cà phê này, vì vậy doanh nghiệp nên tăng cường hợp tác với các địa phương tại đây để nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh và có các chương trình đào tạo, khuyến khích nông dân khi cần thiết Sự tham gia của chính quyền giúp tăng niềm tin của người dân và xây dựng chuỗi cung ứng ổn định, chất lượng cao.

Ngoài đầu tư cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, doanh nghiệp cần khuyến khích và hỗ trợ nông dân ứng dụng máy móc trong khâu thu hoạch để đẩy nhanh tiến độ và giảm hao hụt Phát triển sơ chế và bảo quản tại chỗ giúp khắc phục tình trạng vận chuyển xa và khó bảo quản, từ đó bảo toàn chất lượng sản phẩm sau thu hoạch Doanh nghiệp nên áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cà phê nhân theo tiêu chuẩn mới, phù hợp với cách đánh giá chất lượng của ICO, và phổ biến các quy chuẩn đến nông dân Đây là cách tốt nhất để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; cần loại bỏ sản phẩm không đạt chuẩn, đưa các chỉ tiêu hiệu quả vào hợp đồng với nhà cung cấp, kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu từ trồng trọt đến thu mua và duy trì các mối quan hệ lâu dài với các công ty cung cấp uy tín Đối với cà phê thuê ngoài, doanh nghiệp cần đầu tư dây chuyền chế biến ướt tại các công ty thành viên để có thể xử lý nhanh chóng khối lượng lớn cà phê tươi, vì các phương thức sơ chế và bảo quản thiếu khoa học hoặc vận chuyển thiếu trách nhiệm sẽ làm giảm chất lượng cà phê nhân mua ở bên ngoài.

Để giảm rủi ro và giảm sự phụ thuộc vào biến động của thị trường cà phê thế giới, mở rộng thị trường tiêu dùng nội địa là một hướng đi quan trọng, vì sản phẩm cà phê được người tiêu dùng trong nước chấp nhận sẽ là nền tảng để chủ động xuất khẩu ra thị trường toàn cầu Trên thị trường hiện nay có nhiều đối thủ cạnh tranh mới đầy tiềm năng, vì vậy cần triển khai các biện pháp nhằm bảo toàn thị phần và tăng doanh thu: một là tăng cường nghiên cứu hành vi người tiêu dùng trong nước đối với cà phê, phân tích các yếu tố ảnh hưởng để làm căn cứ thiết kế chiến lược marketing và phát triển sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; hai là xây dựng chiến lược marketing dựa trên các quan điểm được người tiêu dùng thừa nhận (mang lại sự thư giãn, tỉnh táo và thưởng thức) và xu hướng tiêu dùng (vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khỏe).

Để thúc đẩy tiêu dùng cà phê một cách hiệu quả, cần tăng cường tuyên truyền và quảng bá nhằm nâng cao nhận thức về giá trị lợi ích mà cà phê mang lại, đồng thời gắn kết văn hóa cà phê với phong cách sống năng động và hiện đại Cùng với đó, phát triển ngành công nghiệp chế biến cà phê tiêu dùng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm như cà phê bột theo từng gu khác nhau, cà phê hòa tan và cà phê lon, và nâng cao chất lượng để phục vụ người tiêu dùng trong nước Bên cạnh đó, coi trọng việc giữ vững uy tín trong kinh doanh cà phê tiêu dùng.

Kiến nghị với Cơ quan Nhà nước

Ban hành các chủ trương, cơ chế và chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi giá trị cà phê từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ Đồng thời, ưu tiên nguồn vốn tín dụng ưu đãi dài hạn cho các thành phần kinh tế để phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, triển khai các đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng và đầu tư cho nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh và nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.

Kiến nghị đối với chính quyền địa phương

Để nâng cao nhận thức của người lao động sản xuất cà phê, đặc biệt là hộ gia đình, cần nắm vững các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các lĩnh vực trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất cà phê như bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước và đất đai, nhằm bảo đảm sản phẩm đạt chất lượng cao Mục tiêu là nâng cao nhận thức về môi trường và ý thức chấp hành pháp luật để người dân vùng sản xuất cà phê có thể tự bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Cần phổ biến, giáo dục pháp luật cho cộng đồng bằng nội dung liên quan và phổ biến kịp thời các văn bản pháp luật liên quan để nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành luật Các hình thức phổ biến phù hợp với từng đối tượng và địa phương, đảm bảo tính khả thi, có thể giới thiệu trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện như phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản sách, in tờ rơi, áp phích, xây dựng hệ thống tủ sách pháp luật và tổ chức thi tìm hiểu pháp luật trong cộng đồng vùng sản xuất cà phê.

Xây dựng mạng lưới tổ chức sản xuất theo một quy trình thống nhất, có sự hướng dẫn và kiểm tra chặt chẽ để các đơn vị, cá nhân tham gia trong chuỗi sản xuất cà phê luôn đồng nhất về tiêu chuẩn và chất lượng; nếu công việc này không được làm chặt chẽ sẽ dẫn tới tổn hại uy tín của thương hiệu và hiệu quả kinh doanh Thiết lập và tăng cường mối liên kết 4 nhà gồm Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông sản xuất và kinh doanh cà phê, trong đó Nhà nước giữ vai trò trung gian, là cầu nối xuyên suốt; hàng năm tỉnh, sở, ban ngành và các huyện tổ chức đối thoại để tháo gỡ vướng mắc với hộ nông dân, chủ trang trại, cơ sở cung ứng vật tư nông nghiệp và các đơn vị liên quan trong chuỗi sản xuất kinh doanh cà phê Trở thành trung gian để các hộ sản xuất kinh doanh cà phê liên hệ với hiệp hội doanh nghiệp, cung cấp thông tin và đa dạng hóa các sản phẩm cà phê cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước Các doanh nghiệp thu mua cà phê có kế hoạch triển khai chính sách giá theo nguyên tắc chất lượng cao được trả giá cao, chất lượng thấp được trả giá thấp, nhằm khuyến khích sản xuất cà phê chất lượng cao Các nhà khoa học nghiên cứu thay thế các giống cà phê cho hạt nhỏ, năng suất thấp bằng các giống mới cho hạt to và năng suất cao; xây dựng quy trình phòng trừ có hiệu quả trên các đối tượng sâu bệnh hại chính trên cây cà phê như Rệp sáp, mọt đũa quả, mọt đũa cành, bệnh gỉ sắt, bệnh khô cành; đồng thời nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thối rễ cây cà phê là yếu tố quyết định chấm dứt hội chứng vàng lá cà phê.

Ngày đăng: 14/12/2022, 21:24

w