1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận ngôn ngữ báo chí

17 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Anh (chị) hiểu như thế nào về chuẩn mực ngôn ngữ báo chí
Tác giả Nguyễn Mai Phương
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Vân Anh
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Báo chí
Thể loại Bài tập môn ngôn ngữ báo chí
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viện Báo chí và Tuyên truyền KHOA PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH BÀI TẬP Môn ngôn ngữ báo chí ĐỀ BÀI Anh (chị) hiểu như thế nào về chuẩn mực ngôn ngữ báo chí Hãy nêu những lỗi ngôn từ thường gặp trên báo.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH

BÀI TẬP MÔN: NGÔN NGỮ BÁO CHÍ

ĐỀ BÀI:

Anh (chị) hiểu như thế nào về chuẩn mực ngôn ngữ báo chí Hãy nêu những lỗi ngôn từ thường gặp trên báo chí hiện nay.

Cho ví dụ minh họa.

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Mai Phương

Lớp: K

Chuyên ngành: Báo chí

Mã sinh viên: xxxxx

Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Thị Vân Anh.

Hà Nội, năm 2022

Trang 2

Trong lĩnh vực truyền thông nói chung và báo chí nói riêng thì ngôn ngữ

là một trong những yếu tố quyết định tới hiệu quả của việc chuyển tải thông tin tới công chúng Vì vậy không thể cẩu thả trong việc sử dụng ngôn ngữ ở các ngành truyền thông được Trình độ văn phạm của báo chí chí ít ra cũng phải cao bằng trình độ của những độc giả hoặc khán thính giả có học thức, nếu không báo chí sẽ đánh mất đi sự kính trọng của công chúng và uy tín của mình Sự chuẩn xác của ngôn ngữ sẽ làm sắc bén thêm cho ý nghĩa của sự kiện Chính vì vậy sự kiện và sự chuẩn xác ngôn ngữ nói về sự kiện phải luôn đi đôi với nhau

Khi chuyển tải một thông tin tới công chúng mà công chúng lại là những người, nhóm người có trình độ học vấn, nhu cầu, nguyện vọng, sở thích khác nhau thì để thỏa mãn những yêu cầu đa dạng đó của công chúng thì ngoài việc hình thành cái gọi là hệ thống báo chí chuyên ngành ra còn phải làm sao để cô đọng nội dung chuyển tải trên một diện tích mặt báo nhất định

mà vẫn phải đáp ứng chính xác và đầy đủ thông tin Để làm được vấn đề đó chúng ta gần như chỉ có một phương tiện duy nhất đó chính là ngôn ngữ Vấn

đề sử dụng ngôn ngữ báo chí có tác động trực tiếp và quyết định nhất tới hiệu quả của thông tin báo chí, do vậy ngôn ngữ báo chí trước hết phải là một thứ ngôn ngữ chuẩn mực

I NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ BÁO CHÍ

1 Ngôn ngữ

Khi nói đến ngôn ngữ, ai cũng hiểu rằng đó là công cụ giao tiếp, là phương tiện truyền tải thông tin Ngôn ngữ cũng được coi là tài sản quý giá nhất của loài người trên thế giới nói chung và mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc truyền tải các thông tin từ người này sang người khác trong toàn bộ hoạt động của con người và là công cụ của tư duy, có ảnh hưởng quan trọng tới toàn bộ hoạt động nhận thức của con người

Dựa vào những đặc trưng quan trọng của ngôn ngữ có thể hiểu khái niệm ngôn ngữ như sau:

Ngôn ngữ là hệ thống các tín hiệu (tín hiệu từ ngữ và phi ngôn ngữ) dùng làm công cụ giao tiếp, phương tiện tư duy Trong đó phi từ ngữ bao gồm: Âm

Trang 3

2 Ngôn ngữ báo chí

a Khái niệm

Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh dư luận và ý kiến của nhân dân, đồng thời thể hiện chính kiến của tờ báo, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Ngôn ngữ báo chí là toàn bộ những tín hiệu và quy tắc kết hợp chúng mà nhà báo dùng để chuyển tải thông tin trong tác phẩm báo chí

Ngôn ngữ báo chí là hệ thống những tín hiệu (tín hiệu từ ngữ và phi từ ngữ) mà nhà báo dùng để chuyển tải thông tin trong tác phẩm báo chí.

b Vai trò, chức năng của ngôn ngữ báo chí

- Ngôn ngữ báo chí có chức năng là truyền tải thông tin, nó cung cấp tin tức thời sự, phản ánh dư luận và ý kiến của quần chúng Đồng thời nêu nên quan điểm, chính kiến của tờ báo nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội

- Ngôn ngữ báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thông tin, nó có vai trò mã hóa và giải mã thông tin

c Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí

* Ngôn ngữu báo chí là ngôn ngữ sự kiện

Phản ánh nguyên dạng, trung thực những thực tế đang xảy ra Ngôn ngữ

sự kiện là tấm gương phản chiếu những gì đang xảy ra

Do đó yêu cầu nhà báo phải phản ánh những điều mắt thấy, tai nghe trong ngôn ngữ của mình, không xuyên tạc, bịa đặt sự thật, không được phản ánh những gì mà không có bằng chứng, chứng cớ

Và để phản ánh đúng sự kiện thì ngôn ngữ phải phản ánh đúng lát cắt của

sự kiện ấy Trong đó ngôn ngữ phản ánh đúng lát cắt của sự kiện được gọi là ngôn ngữ sự kiện trung tâm, còn ngôn ngữ lý giải sự kiện trung tâm được gọi là ngôn ngữ sự kiện vệ tinh Ngôn ngữ sự kiện là ngôn ngữ bám sát sự vận động của sự kiện để phản ánh

* Ngôn ngữ báo chí là siêu ngôn ngữ

Nghĩa là ngôn ngữ không phản ánh thẳng vào sự kiện mà bằng một cách

Trang 4

gián tiếp nào đó nhà báo vẫn nói được điều mình cần nói

* Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của độ không xác định

- Thể hiện ở tính hấp dẫn, cô đọng, hàm súc

- Cách diễn đạt gợi sự liên tưởng, hạn chế khả năng đoán trước của người đọc, với cấu trúc mở

- Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ định hướng: Là sự phái sinh, cụ thể hóa của ngôn ngữ sự kiện

d Các tính chất của ngôn ngữ báo chí

+ Tính chính xác, khách quan

+ Tính đại chúng

+ Tính hấp dẫn

+ Tính định hướng

II CHUẨN MỰC NGÔN NGỮ VÀ CHUẨN MỰC NGÔN NGỮ BÁO CHÍ

1 Chuẩn mực ngôn ngữ

Theo từ điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý có viết: Trong lĩnh vực ngôn ngữ, chuẩn mực được hiểu là cái được công nhận là cái đúng và phổ biến nhất trong việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ Theo Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Quang Hào trong cuốn ngôn ngữ báo chí, chuẩn mực của ngôn ngữ (chuẩn ngôn ngữ) cần được xét trên hai phương diện: chuẩn phải mang tính chất quy ước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận và sử dụng Mặt khác, chuẩn phải phù hợp phát triển nội tại của ngôn ngữ Từ đó, khi xác định chuẩn ngôn ngữ, đặc biệt là chuẩn ngôn ngữ báo chí cần phải:

- Dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ để nắm được quy luật phát triển và biến đổi của ngôn ngữ trên tất cả các cấp độ của nó là ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách

- Xét đến những lý do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hưởng đến sự phát triển của Tiếng Việt Những lý do đó là: những biến đổi lớn lao ngoài xã hội, công cuộc đổi mới đất nước… Những yếu tố xã hội đó dù muốn hay không cũng có

Trang 5

ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc nội tại của Tiếng Việt, ở từng thời đại lịch sử,

nó được thể hiện tức thời, sâu sắc và với một tần số cao trên báo chí

Như chúng ta đã biết, cho đến nay khái niệm chuẩn ngôn ngữ còn khá nhiều ý kiến chưa thống nhất không chỉ ở các nhà văn học nước ngoài mà còn ở

cả Việt Nam Theo như một nhóm nhà khoa học Nga Xô viết nhấn mạnh đến tính chất xã hội của ngôn ngữ, họ xem chuẩn là một hiện tượng xã hội và phát triển có tính lịch sử Quan niệm này đúng nhưng có phần phiến diện vì nó không tính đến bản thân ngôn ngữ, bỏ qua quy luật phát triển bên trong của cấu trúc ngôn ngữ

Phần lớn ý kiến đều cho rằng chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử dụng Tuy nhiên sự đánh giá lựa chọn đó không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn và do vậy tính chất bắt buộc cũng như tính chất ổn định của chuẩn chỉ là tương đối Mặt khác, chuẩn không phải là quy định mà là quy ước, không phải luật mà là chỉ dẫn Tuy nhiên, sự lựa chọn nói trên không những không loại trừ mà còn cho phép, thậm chí đòi hỏi một sự lựa chọn của cá nhân trong một phạm vi giao tiếp nhất định Khi trình độ của cá nhân đạt đến trình độ sáng tạo nghệ thuật và được cộng đồng đón nhận, thì cũng có nghĩa là một chệch chuẩn đã ra đời

Như vậy ngôn ngữ phải đảm bảo tính đúng và thích hợp Theo như Viện sĩ

V Vi-nô-gra-đốp “Tất cả những cái gì mới, đang phát triển, được các quy luật nội tại của quá trình phát triển ngôn ngữ thừa nhận, phù hợp với cấu trúc của nó, dựa vào những xu thế sáng tạo của nhân dân, dựa vào các quá trình mang tính tích cực trong lĩnh vực ngữ pháp, ngữ nghĩa, sử dụng từ v.v… đều không thể bị cho là không đúng, không thể bị phủ nhận căn cứ vào thị hiếu và thói quen của

cá nhân” Do đó cái đúng được cộng đồng ngôn ngữ hiểu và chấp nhận và là một trong những điều kiện để thừa nhận tính chuẩn mực của ngôn ngữ Còn cái sai là cái mà người tiếp nhận không hiểu hoặc không chấp nhận vì nó không phù hợp với với chuẩn mực chung mà cộng đồng đã lựa chọn, đã thừa nhận Một cách tổng quát, một hiện tượng ngôn ngữ được coi là đúng phải thỏa mãn được những

Trang 6

đòi hỏi của cấu trúc nội tại của ngôn ngữ và phải phù hợp với truyền thống của ngôn ngữ, được mọi thành viên trong cùng một cộng đồng hiểu đúng như nhau Cái đúng là yêu cầu bắt buộc trong việc sử dụng ngôn ngữ ở tất cả các cấp độ và

ở mỗi cấp độ ấy lại có những yêu cầu, những tiêu chuẩn riêng Do đó, trong chuẩn ngôn ngữ thì cái đúng là nhân tố quan trọng bậc nhất bảo đảm cho quá trình giao tiếp

Tuy nhiên cái đúng mới chỉ là một mặt của chuẩn mực Chuẩn mực còn cần phải thích hợp, bởi vì thông tin đúng mà không thích hợp thì hiệu quả thông tin sẽ kém Như trong thời đại ngày nay khoa học, công nghệ ngày càng phát triển thì khi báo chí nói về các chủ đề mang tính khoa học và công nghệ thì kéo theo đó là sự xuất hiện của các thuật ngữ khoa học với tần số cao Từ việc trình

độ của công chúng báo chí chưa cao và không đồng đều cùng với tần số xuất hiện của thuật ngữ lớn và việc thiếu nhất quán của thuật ngữ đã vượt quá tầm hiểu biết của đại bộ phận công chúng Như vậy việc xuất hiện của các thuật ngữ

là đúng nhưng không thích hợp Bên cạnh đó cái thích hợp còn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị thẩm mỹ của ngôn từ

Tóm lại, chuẩn ngôn ngữ có hai điểm quan trọng:

Một là, chuẩn ngôn ngữ mang tính quy ước xã hội và được xã hội đó cùng

chấp nhận sử dụng

Hai là, chuẩn ngôn ngữ không mang tính ổn định Nó biến đổi phù hợp

với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử Vì rất

có thể “ lỗi của ngày hôm qua trở thành chuẩn hôm nay, lỗi hôm nay sẽ là chuẩn ngày mai”

Hai nội dung tính đúng và phù hợp của chuẩn ngôn ngữ có mối quan hệ biện chứng với nhau Giải quyết tốt mối quan hệ đó sẽ mang đến sự thành công của nhà báo trong việc sử dụng ngôn ngữ báo chí

* Đối với chuẩn ngôn ngữ và biến thể:

Chuẩn ngôn ngữ có những quy luật và cách sử dụng tồn tại khách quan trong một giai đoạn, trong một cộng đồng người và mang tính chất bắt buộc

Trang 7

tương đối đối với các thành viên cộng đồng Do ngôn ngữ luôn luôn vận động nên cái chuẩn chung không những không lọa trừ mà còn cho phép biến thể khác nhau được sử dụng với chuẩn Tình hình đó diễn ra theo ba chiều hướng:

Hoặc là giữa các biến thể tương ứng với nhau xảy ra tình trạng cân bằng, tức là song song

Hoặc là biến thể cũ lấn át biến thể mới

Hoặc là biến thể mới thay thế biến thể cũ

Trong số các biến thể nói trên thì có cái được coi là chệch chuẩn Mặc dù

đi ra khỏi chuẩn ngôn ngữ nhưng chệch chuẩn không phải là cái sai mà là một

sự sáng tạo nghệ thuật được công chúng chấp nhận và đón nhận một cách hấp dẫn Chệch chuẩn mặc dù là sự sáng tạo nghệ thuật của ngôn từ và có sức hấp dẫn đối với công chúng Tuy nhiên, nó lại có những đặc tính, chế định khả năng phong cách của người cầm bút và không phải ở thể loại báo chí nào những đặc tính ấy cũng mang tính tích cực

Do đó, chệch chuẩn là một hiện tượng có tính lâm thời, nó chỉ xuất hiện trong những thời đoạn nhất định và mang những sắc thái biểu cảm nhất định Tuy nhiên, có những chệch chuẩn lại mang sắc thái biểu cảm lâu dài, trở thành một khuôn mẫu độc đáo được nhiều người áp dụng

Bên cạnh đó, chệch chuẩn thường mang sắc thái khoa trương, ly kỳ hóa hình tượng nghệ thuật ngôn ngữ Do vậy nó có tính hai mặt: Có khả năng hấp dẫn níu mắt người đọc, mặt khác là đưa ngòi bút của người viết đến miền đất sáo hoặc phạm lỗi thậm xưng

Ngoài ra chệch chuẩn chỉ phù hợp đối với những thể loại báo nhất định chứ không phải toàn bộ các thể loại báo, hoặc thích hợp với đề tài này mà không thích hợp với đề tài khác Cũng chính vì chệch chuẩn có đặc trưng này mà thường xuất hiện chủ yếu ở các loại văn bản thơ ca, văn xuôi nghệ thuật

Sự tồn tại của chệch chuẩn vừa mâu thuẫn vừa độc đáo Mâu thuẫn ở chỗ

nó là hiện tượng lâm thời nhưng lại tồn tại trong loại hình ngôn ngữ chuẩn Độc đáo ở chỗ nó là sự sáng tạo của cá nhân nhưng lại được cả cộng đồng chấp nhận

Trang 8

vì nó thích hợp và có sự hấp dẫn, lôi cuốn Chệch chuẩn vừa là cái cho phép người ta nhận ra phong cách tác giả, vừa là cái chế định chính bản thân phong cách đó

Như vậy: Chuẩn mực ngôn ngữ là toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ và

quy tắc sử dụng ngôn ngữ được mọi người thừa nhận và được coi là đúng, là khuôn mẫu, quy ước trong một xã hội nhất định và trong một thời điểm nhất định.

2 Chuẩn mực ngôn ngữ báo chí

a Khái niệm

Ngôn ngữ báo chí trước hết và chủ yếu là lĩnh vực của ngôn ngữ, nên chuẩn mực ngôn ngữ báo chí là chuẩn mực ngôn ngữ được nhà báo sử dụng để chuyển tải thông tin trong các tác phẩm báo chí

b Yêu cầu của chuẩn mực ngôn ngữ báo chí

- Một là phải đúng

- Hai là phải phù hợp

- Ba là phải được công chúng thừa nhận

- Bốn là phải chuẩn tiếng việt, chuẩn phong cách

c Biểu hiện của chuẩn mực ngôn ngữ báo chí

Chuẩn mực của ngôn ngữ báo chí được biểu hiện trên ba phương diện là chuẩn trên phương diện chữ viết, chuẩn trên phương diện từ vựng và chuẩn trên phương diện ngữ pháp

- Chuẩn trên phương diện chữ viết (chuẩn chính tả)

Bao gồm các quy tắc phân biệt các phụ âm và nguyên âm, quy tắc viết hoa và quy tắc viết tên riêng tiếng nước ngoài

- Chuẩn trên phương diện từ vựng

+ Dùng từ phải đúng cấu thành, hình thức cấu tạo

+ Dùng từ phải đúng ý nghĩa: Chỉ đúng hiện thực khách quan (sự vật, hành động, tính chất) cần nói tới

+ Dùng từ phải hợp phong cách

+ Tránh dùng từ ngữ quá lời, từ ngữ sáo rỗng, thừa và lặp lại

Trang 9

- Chuẩn trên phương diện ngữ pháp:

+ Câu phải đúng về cấu tạo ngữ pháp

+ Câu phải phù hợp với logic của tư duy

+ Câu không được mơ hồ về nghĩa

+ Câu được đánh dấu câu chuẩn xác

III MỘT SỐ LỖI NGÔN TỪ THƯỜNG GẶP TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY

Trong sự phát triển của xã hội ngày nay, xuất phát từ việc các loại hình văn hóa nước ngoài du nhập vào nước ta đã làm cho con người có thói quen

sử dụng ngôn ngữ một cách nhanh hơn, thiếu cẩn thận hơn và điều này đã đang làm mất dần đi sự trong sáng của tiếng Việt Đồng thời hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau cả khách quan lẫn chủ quan mà không ít nhà báo mới chỉ chú trọng phần nội dung chứ chưa để ý nhiều tới hình thức diễn đạt thông tin Bởi vậy họ đã bỏ qua khá nhiều lỗi về ngôn từ ở mọi cấp độ như từ, câu, đoạn văn hay thậm chí ở cả bố cục toàn văn bản Hiện nay trên báo chí vẫn còn xuất hiện nhiều câu sai về hình thức và nội dung Sau đây em xin đề cập và đưa ra một số ví dụ về các lỗi ngôn từ thường gặp trên báo chí hiện nay:

1 Lỗi dùng từ sai

- Trên báo Thanh Niên online ngày 13/6/2020 có bài: Ngọc Trinh nói gì

về vụ không học hết cấp 3?

Bài viết có đoạn “Ngọc Trinh tâm sự cô thích chơi trò chơi nhân gian, đặc

biệt là bắn bi…”

Trang 10

Đáng lẽ ở đây phải dùng từ “dân gian” nhưng tác giả lại sử dụng từ

“nhân gian”

- Trên báo Lao Động ngày 28/10/2019 có bài: Nam bệnh nhân được

chuẩn đoán “kinh nguyệt nhiều” gây xôn xao

Lẽ ra ở đây nhà báo phải sử dụng từ “chẩn” thay vì từ “chuẩn”, vì chẩn đoán là từ ngữ chuyên ngành được sử dụng để đoán bệnh trong Y tế

2 Lỗi quy chụp tùy tiện, bịa đặt

Trong cuộc sống có thể ai đó do định kiến với một lĩnh vực, ngành nghề nào đó, có thể do nông cạn mà nói những điều mất khôn, nhưng trên báo chí thì đây là điều tối kỵ

Ví dụ: Trên báo NGƯỜI LAO ĐỘNG số ra ngày 01/4/2015 có bài:

“Thanh tra kho bạc đánh vợ vỡ tim vì mặc váy ngắn đi ăn cưới”

Ngày đăng: 10/12/2022, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w