1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận hàng hóa của kinh tế chính trị mác lê nin và vận dụng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh gạo ở việt nam

20 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 36,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế chính trị là một bộ môn khoa học kinh tế có mục đích nghiên cứu tìm ra các qui luật chi phối sự vận động của các hiện tượng và quá trình hoạt động kinh tế của con người tương ứng với những trình độ phát triển nhất định của xã hội . Từ đó, giúp cho các chủ thể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy nhằm tạo động lực cho con người không ngừng sáng tạo, thúc đẩy văn minh và sự phát triển toàn diện của xã hội. Kinh tế chính trị Mác Lênin cung cấp cho chúng ta hệ thống tri thức mở về những quy luật chi phối sự phát triển của sản xuất và trao đổi gắn với phương thức sản xuất, lịch sử phát triển các quan hệ sản xuất và trao đổi của nhân loại , nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trang 1

MỤC LỤC

g

Chương I LÝ LUẬN HÀNG HÓA CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊ NIN 3

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị một đơn vị hàng hóa 5

3.1 Khái niệm lượng giá trị hàng hóa 5

Chương II VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN SẢN XUẤT KINH DOANH LÚA GẠO Ở VIỆT NAM 9

1 Thực trạng sản xuất kinh doanh lúa gạo ở Việt Nam 9

2 Kiến nghị giải pháp tăng cường phát triển sản xuất kinh doanh lúa gạo 15

Trang 2

MỞ ĐẦU

Kinh tế chính trị là một bộ môn khoa học kinh tế có mục đích nghiên cứu tìm ra các qui luật chi phối sự vận động của các hiện tượng và quá trình hoạt động kinh tế của con người tương ứng với những trình độ phát triển nhất định của xã hội Từ đó, giúp cho các chủ thể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy nhằm tạo động lực cho con người không ngừng sáng tạo, thúc đẩy văn minh và sự phát triển toàn diện của xã hội Kinh tế chính trị Mác Lênin cung cấp cho chúng ta hệ thống tri thức mở về những quy luật chi phối sự phát triển của sản xuất và trao đổi gắn với phương thức sản xuất, lịch sử phát triển các quan hệ sản xuất và trao đổi của nhân loại , nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Đối với bất kỳ quốc gia nào, kinh tế thị trường cũng đóng vai trò chủ đạo, ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động của nền kinh tế quốc dân Sau hơn 10 năm hoàn toàn đổi mới, đứng trước những thử thách khó khăn, tình hình vô cùng khó khăn, phức tạp, nhưng Đảng và nhân dân Việt Nam không những đứng yên, mà còn vùng dậy lập nhiều thắng lợi Nguyên nhân cơ bản của thắng lợi này là do Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết chuyển từ nền kinh

tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự chỉ đạo của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là bước ngoặt quan trọng thể hiện quyết định sáng suốt của Đảng và nhà nước ta, làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội của đất nước

Nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, mà xây dựng chủ nghĩa

xã hội xét về mặt kinh tế cũng phải xây dựng nền sản xuất lớn của xã hội chủ nghĩa Mà xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì không thể không phát triển nền kinh tế hàng hóa Tại đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã có quyết định quan trọng trong đổi mới nền kinh tế, thay thế nền kinh tế tập trung

Trang 3

quan liêu bao cấp bằng nền kinh tế hàng hóa Và từ đó, nền kinh tế hàng hóa

đã trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước, giúp nền kinh tế của nước ta từng bước hội nhập với sự đi lên không ngừng của khu vực và thế giới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng Bên cạnh đó, nước ta không ngừng nỗ lực trong quá trình cải cách, đổi mới nhằm hoàn thiện con đường phát triển kinh tế nói chung và hàng hóa nói riêng Trong thời gian qua, nhiều văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa đã được ban hành Đảng và Nhà nước đã sớm xác định vai trò then chốt vô cùng quan trọng của sản xuất hàng hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà Xuất phát từ việc nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế hàng hóa ở

Việt Nam đã khiến tôi chọn chủ đề: “Lý luận hàng hóa của kinh tế chính trị Mác - Lê nin và vận dụng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh gạo ở Việt Nam.”

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN HÀNG HÓA CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÁC – LÊ NIN

1 Khái niệm hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người Hàng hóa có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất

Hàng hóa có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể Hàng hóa có thể được phân thành nhiều loại như: hàng hóa đặc biệt, hàng hóa thông thường, hàng hóa thứ cấp, hữu hình, vô hình, công cộng, tư nhân,…

2 Thuộc tính của hàng hóa

Hàng hóa có 2 thuộc tính cơ bản:

 Giá trị sử dụng

Là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người (vật chất hoặc tinh thần, tiêu dùng cá nhân, tiêu dùng cho sản xuất)

Đặc điểm phạm trù giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, luôn tồn tại cùng với xã hội loài người Vì đơn giản giá trị sử dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Giá trị hàng hóa chỉ thể hiện trong lĩnh vực tiêu dùng, chỉ khi nào con người sử dụng hàng hóa cho tiêu dùng thì giá trị đó mới phát huy tác dụng Giá trị hàng hóa mang trên mình một giá trị trao đổi Như vậy một vật muốn thành hàng hoá thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết phải có một giá trị sử dụng nào đó, tuy nhiên không phải vật nào mang giá trị sử dụng cũng là hàng hóa Ví dụ: không khí,

Do thuộc tính tự nhiên của yếu tố tham gia cấu thành nên hàng hóa quy định Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng tiên tiến, càng

Trang 5

giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú các giá trị sử dụng của

hàng hóa khác nhau Đáp ứng nhu cầu của người mua Nên, người sản xuất

cần chú ý chăm lo giá trị sử dụng của hàng hóa do mình sản xuất ra sao cho ngày càng đáp ứng nhu cầu khắt khe và tinh tế hơn của người mua

Giá trị sử dụng của hàng hoá là phạm trù vĩnh viễn, nó không thay đổi khi hàng hóa đó ở trong hay ngoài quan hệ mua-bán, trao đổi

 Giá trị hàng hóa

Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh bên trong hàng hóa Giá trị là nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc hai hàng hóa có thể trao đổi được với nhau

Đặc điểm của giá trị hàng hóa là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại ở kinh tế hàng hóa Được thể hiện trong lĩnh vực lưu thông trao đổi, mua bán Giá trị là nội dung, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị

Như vậy, giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, giá trị hàng hóa là phạm trù mang tính lịch sử Thuộc tính tự nhiên của hàng hoá là giá trị sử dụng, thuộc tính xã hội của hàng hoá là hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm và là giá trị hàng hóa Thiếu 1 trong 2 thuộc tính trên thì sản phẩm không thể trở thành hàng hoá

Cơ sở tạo nên giá trị hàng hóa là từ lao động của nhà sản xuất kết tinh trong hàng hóa

Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi Khi trao đổi người ta ngầm so sánh lao động đã hao phí ẩn giấu trong hàng hóa với nhau Trong thực hiện sản xuất hàng hóa, để thu được hao phí lao động đã kết tinh người sản xuất phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng để

Trang 6

được thị trường chấp nhận hàng hóa phải được bán đi.

 Mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng

Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lần nhau Trong đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau Thực chất của quan hệ trao đối là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của minh chứa đựng trong các hàng hoá Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá Giá trị

là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hoá Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá Như vậy, hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hoá, họ tao ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải là giá trị

sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là dế đạt được mục dích giá trị mà thôi Ngược lại, dối với người mua, cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng dễ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình Nhưng, muốn có giá trị sử dụng thi phải trả giá trị cho người sân xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện dược giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị một đơn vị hàng hóa

3.1 Khái niệm lượng giá trị hàng hóa

Lượng giá trị hàng hóa là lượng hao phí lao động xã hội để sản xuất ra hàng hóa đó và được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hóa trong các điều kiện trung bình của xã hội Gồm có: Mức độ thành thạo của người lao động là trung bình, trình độ kỹ thuật công nghệ, thiết bị là trung bình, mọi

Trang 7

điều kiện khác là trung bình, không thuận lợi, không bất lợi.

3.2 Các nhân tố ảnh hưởng

 Năng suất lao động

Năng suất lao động là phạm trù phản ánh khả năng, hiệu suất của quá trình lao động, thường đo bằng sản lượng trên đơn vị thời gian, hoặc thời gian sản xuất trên đơn vị sản phẩm

Khi năng suất lao động tăng thì số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian sẽ tăng hay số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm sẽ giảm Do đó, lượng giá trị của một hàng hóa giảm xuống, giá cả hàng hóa sẽ rẻ hơn

Khi năng suất lao động giảm thì số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian sẽ giảm hay số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất

ra một đơn vị sản phẩm sẽ tăng Do đó, lượng giá trị của một hàng hóa tăng, hàng hóa sẽ đắt hơn

Như vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa biến đổi ngược chiều với năng suất lao động

Muốn tăng năng suất lao động để giảm giá trị và giá cả, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa phải khai thác tốt các yếu tố như: trình độ khéo léo (thành thạo) của người lao động; mức độ phát triển của khoa học, công nghệ và sự ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất; trình độ tổ chức quản lý; quy mô

và hiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên

Tác dụng của năng suất lao động tỷ lệ nghịch với giá trị 01 đơn vị sản phẩm, không ảnh hưởng đến giá trị tổng sản phẩm

 Cường độ lao động

Cường độ lao động là mức độ khẩn trương lao động, mật độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian

Khi cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất ra tăng

Trang 8

lên, nhưng hao phí lao động trừu tượng cũng tăng lên Do đó, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm không giảm Tăng cường độ lao động có ý nghĩa đối với những công việc có tính chất mùa vụ, cần sự khẩn trương hoặc khi trình độ sản xuất chưa tăng lên nhưng cần tăng sản lượng trong thời gian ngắn

Tác dụng của cường độ lao động không ảnh hưởng đến giá trị 01 đơn vị sản phẩm, tỷ lệ thuận với giá trị tổng sản phẩm

 Mức độ phức tạp của lao động

Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động có sức khoẻ bình thường nào cũng thực hiện được mà không cần phải trải qua đào tạo, tích luỹ kinh nghiệm

Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được

Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Do vậy lao động phức tạp được coi là bội số của lao động giản đơn

Tác dụng của mức độ lao động phức tạp: cùng một thời gian làm việc, lao động phức tạp tạo nên lượng giá trị gấp bội lần lao động giản đơn

4 Ý nghĩa

Lý luận hành hóa kinh tế chính trị Mác – Lê nin là cơ sở khoa học để phê phán các học thuyết kinh tế trước Mác quan niệm sai lầm cho rằng lưu thông; đất đai; tính kham hiếm cũng tạo ra giá trị

Thấy được giá trị khoa học của học thuyết giá trị của Mác nhằm giải quyết các vấn đề sản xuất và trao đổi hàng hóa; xác định được mối quan hệ tất yếu của các yếu tố trong sản xuất ra hàng hoá, song trong đó chỉ có lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị; khẳng định lao động làm thuê trong quá trình sản xuất hàng hoá là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị và giá trị thặng dư

Trang 9

Phân biệt được bản chất tiền công là giá cả của sức lao động chứ không phải là giá cả của lao động Trên cơ sở đó phê phán các quan điểm sai trái về tiền công dưới CNTB…

Thấy được giá trị hàng hóa là cơ sở để Đảng ta xác định chính sách tiền tệ, giá cả hợp lý nhằm đẩy mạnh sản xuất và trao đổi hàng hoá, hình thành chính sách việc làm và thu nhập

Trong điều kiện đặc điểm nền kinh tế nước ta để phát triển sản xuất, tăng sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội thì vừa phải tăng cường độ, vừa phải tăng năng lao động, tăng qui mô Nhưng về cơ bản lâu dài phải tăng năng suất lao động

Về cơ bản lâu dài để giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh thì vấn đề cơ bản là phải tăng năng suất lao động, hợp lý hoá quá trình lao động của người lao động…

Trong hoạt động thực tiễn trên thị trường các chủ thể cạnh tranh rất gay gắt với nhau, lợi thế luôn thuộc về người sản xuất có năng suất lao động cao nhất tức chi phí sản xuất thấp nhất, ngược lại họ sẽ gặp bất lợi và có nguy cơ phá sản Vì thế cạnh tranh để tăng năng suất lao động, giảm chi phí lao động

có ý nghĩa sống còn của doanh nghiệp, do vậy các yếu tố tác động tới năng suất lao động được đặc biệt quan tâm ứng dụng

Trang 10

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN SẢN XUẤT KINH

DOANH LÚA GẠO Ở VIỆT NAM

1 Thực trạng sản xuất kinh doanh lúa gạo

Sản xuất kinh doanh lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong nền phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các hộ nông dân nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông dân và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo

Trong một thời gian dài, lúa là một cây trồng đóng vài trò chiến lược trong an ninh lương thực của Việt Nam Trong nhiều thập kỷ qua, chính phủ

đã nỗ lực tăng sản lượng lúa gạo trước là cho thị trường nội địa và sau đó là thị trường xuất khẩu Từ năm 1993, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2015, sản lượng lúa của Việt Nam đạt 28 triệu tấn Tăng sản lượng và xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam trong những năm qua phần lớn dựa vào sản xuất lúa chất lượng thấp và xuất khẩu thông qua hình thức hợp đồng song phương giữa hai chính phủ ở thị trường châu Á, châu Phi,

và Trung Đông với giá bán thấp Cùng với giảm giá thành sản xuất, chính sách này đã đưa Việt Nam trở thành một trong năm nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới

Việt Nam là đất nước có những lợi thế đặc biệt trong sản xuất lúa gạo Hiện nay, lúa gạo đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam Theo thống kê của Viên Nghiên cứu Lúa Quốc Tế (IRRI), diện tích lúa chiếm 82% diên tích đất canh tác ở Việt Nam Có khoảng 52% sản lượng lúa Việt Nam được sản xuất ở đồng bằng sông Cửu Long và 18% ở đồng bằng sông Hồng

Sinh kế của hơn 15 triệu nông dân nhỏ lẻ dựa vào nguồn thu từ cây lúa

ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên con số này

Trang 11

đang giảm dần Ở An Giang, thu nhập bình quân hàngtháng của hộ nông dân

từ cây lúa là 100 đô-la (tương đương với 2,2 triệu đồng), chỉ bằng 1/5 thu nhập của hộ trồng cà phê ở Tây nguyên (theo Oxfam đăng trên Thời báo Kinh

Tế 2014)

Ở Việt Nam cũng như các nước khác ở tiểu vùng sông Mê-Kông, xu hướng thâm canh tăng vụ đi kèm với đẩy mạnh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Các hộ sản xuất lúa qui mô nhỏ thường thiếu những kỹ thuật canh tác phù hợp

để sản xuất lúa chất lượng cao Ngoài ra, lúa gạo Việt Nam thường được xem

là có chất lượng thấp hoặc trung bình so với những đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giới

Các hộ sản xuất qui mô nhỏ Thiếu sự tổ chức Quy mô trang trại nhỏ và

sự thiếu tổ chức của nông dân làm suy yếu vị thế của họ, khiến họ dễ bị ảnh hưởng xấu nhất trong chuỗi giá trị Sự thay đổi cơ cấu tổ chức hướng tới các

tổ chức nông dân kinh doanh sẽ giúp người nông dân tiếp cận với thị trường

dễ dàng hơn

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với người nông trồng lúa ngày càng tăng Năm 2016, ước tính khoảng 1,29 triệu tấn gạo đã bị mất do hạn hán nặng nhất trong vòng 90 năm trở lại đây, gây ảnh hưởng đến sinh kế của gần 2 triệu nông hô nhỏ và hộ nghèo

Hiện nay, việc sản xuất lúa gạo ở Việt Nam vẫn còn sử dụng nhiều phương pháp gây ảnh hưởng xấu cho con người và môi trường Lúa là một trong những tác nhân chính tạo ra một lượng lớn khí mê-tan, góp phần gây ra biến đổi khí hậu

Lúa gạo ở Việt Nam rất khó truy xuất nguồn gốc Các công ty gạo chủ yếu dựa vào hệ thống thu mua gạo thông qua thương lái nên rất khó truy xuất nguồn gốc của lúa gạo và làm suy yếu chất lượng của các sản phẩm gạo

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gạo trắng ở phân khúc thị trường cấp thấp

Ngày đăng: 21/12/2021, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w