Đất nước phồn vinh, đời sống của mọi thành viên trong xã hội ngày càng cải thiện. Đòi hỏi phải có một nền công nghiệp, nông nghiệp phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển. Vì thế, không phải ai khác không phải một tổ chức, một quốc gia nào khác có thể giúp chúng ta mà tự ta phải tìm ra con đường phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện của nước ta của nước ta hiện nay. Những yếu tố chính quyết định, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường. Đó chính là lợi nhuận.Vậy thế nào là lợi nhuận ? lợi nhuận thương nghiệp là gì? và lợi nhuận thương nghiệp đóng vai trò như thế nào trong hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nền kinh tế thị trường mà ta lại có thể xem nó là yếu tố chính yếu?Đây là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn. Quá trình nghiên cứu nó phải xuất phát từ các quan điểm của các nhà học thuyết trước C.Mac kết hợp với quan điểm của C.Mac và thực tiễn hiện nay. Quá trình nghiên cứu sẽ giúp giải đáp được các câu hỏi luôn đặt ra trong lý luận cũng như trong thực tiễn về sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp, những biến đổi xã hội..để thấy được quá trình phát triển của Việt Nam. Em nhận thấy đây là một vấn đề hết sức quan trọng và mang tính thời sự .Do đó, bài tiểu luận này em đề cập đến vấn đề “Lý luận về lợi nhuận, lợi nhuận thương nghiệp của KTCT Mác Lênin và ý nghĩa thực tiễn trong phát triển thương mại ở Việt Nam”.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN VÀ LỢI NHUẬN THƯƠNG NGHIỆP CỦA KTCT MÁC - LÊNIN 3
I LỢI NHUẬN 3
1.1 Chi phí sản xuất 3
1.2 Bản chất lợi nhuận 3
1.3 Tỷ suất lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng 5
1.4 Lợi nhuận bình quân 6
II LỢI NHUẬN THƯƠNG NGHIỆP 7
2.1 Nguồn gốc lợi nhuận của tư bản thương nghiệp 7
2.2 Bản chất lợi nhuận của thương nghiệp 9
2.2.1 Lợi nhuận thương nghiệp 9
2.2.2 Sự hình thành lợi nhuận của tư bản thương nghiệp 10
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 12
I THỰC TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI 12
II QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 14
2.1 Chủ trương chính sách của đảng về đổi mới 14
2.2 Thành tựu bước đầu của quá trình đổi mới doanh nghiệp thương mại ở nước ta 16
2.3 Đổi mới hoạt động thương mại, thúc đẩy phát triển sản xuất 19
KẾT LUẬN 24
Tài liệu tham khảo 25
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước phồn vinh, đời sống của mọi thành viên trong xã hội ngàycàng cải thiện Đòi hỏi phải có một nền công nghiệp, nông nghiệp phát triển,khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển
Vì thế, không phải ai khác không phải một tổ chức, một quốc gia nàokhác có thể giúp chúng ta mà tự ta phải tìm ra con đường phát triển kinh tếphù hợp với điều kiện của nước ta của nước ta hiện nay Những yếu tố chínhquyết định, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường Đó chính là lợinhuận.Vậy thế nào là lợi nhuận ? lợi nhuận thương nghiệp là gì? và lợi nhuậnthương nghiệp đóng vai trò như thế nào trong hoạt động của các doanh nghiệpthương mại nền kinh tế thị trường mà ta lại có thể xem nó là yếu tố chính yếu?
Đây là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn Quá trình nghiên cứu nóphải xuất phát từ các quan điểm của các nhà học thuyết trước C.Mac kết hợpvới quan điểm của C.Mac và thực tiễn hiện nay Quá trình nghiên cứu sẽ giúpgiải đáp được các câu hỏi luôn đặt ra trong lý luận cũng như trong thực tiễn về
sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp, những biến đổi xã hội để thấy đượcquá trình phát triển của Việt Nam Em nhận thấy đây là một vấn đề hết sứcquan trọng và mang tính thời sự
Do đó, bài tiểu luận này em đề cập đến vấn đề “Lý luận về lợi nhuận, lợi nhuận thương nghiệp của KTCT Mác - Lênin và ý nghĩa thực tiễn trong phát triển thương mại ở Việt Nam”.
Do nguồn kiến thức của em còn nhiều hạn chế và trong phạm vi đề tàicho phép em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạnsinh viên để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN VÀ LỢI NHUẬN THƯƠNG
NGHIỆP CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
1.2 Bản chất lợi nhuận
Trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí sảnxuất có một khoảng chênh lệch Cho nên sau khi bán hàng hóa (bán ngang
Trang 4giá), nhà tư bản không những bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra mà còn thu được
số chênh lệch bằng giá trị thặng dư Số chênh lệch này C.Mác gọi là lợi nhuận
Ký hiệu lợi nhuận là p
Khi đó giá trị hàng hóa được viết là: G = k+p Từ đó p = G - k
Từ cách tính toán trên thực tế như vậy, người ta chỉ quan tâm tới khoảnchênh lệch giữa giá trị hàng hóa bán được với chi phí phải bỏ ra mà khôngquan tâm đến nguồn gốc sâu xa của khoản chênh lệch đó chính là giá trị thặng
dư chuyển hóa thành Thậm chí, với nhà tư bản, lợi nhuận còn được quanniệm là do tư bản ứng trước sinh ra
C.Mác khái quát: giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ
tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận Điều đó có nghĩa,lợi nhuận chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặtnền kinh tế thị trường
Nhà tư bản cá biệt chỉ cần bán hàng hóa với giá cả cao hơn chi phí sảnxuất là đã có lợi nhuận Trong trường hợp bán đúng bằng chi phí sản xuất làkhông có lợi nhuận Bán hàng hóa thấp hơn giá trị và cao hơn chi phí sản xuấtcũng có thể đã có lợn nhuận trong trường hợp này, lợi nhuận nhỏ hơn giá trịthặng dư
Lợi nhuận là giá trị thặng dư quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bảnứng trước (chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất)
Giá bán hàng hóa lên xuống xoay xung quanh giá trị dẫn đến lợi nhuậnlên xuống xoay xung quanh giá trị thặng dư
Khi giá cả hàng hoá = giá trị hàng hóa, thì P = M
Khi giá cả hàng hoá > giá trị hàng hóa, thì P > M
Trang 5Khi giá cả hàng hoá < giá trị hàng hoá, thì P < M
Lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặt nềnkinh tế thị trường Lợi nhuận chính là mục tiêu, động cơ, động lực của hoạtđộng sản xuất, kinh doanh trong nền nền kinh tế thị trường
1.3 Tỷ suất lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của
tư bản chủ nghĩa, vì sự hiện diện của nó thể hiện hiệu quả kinh tế, tuy nhiên sovới lợi nhuận thì tỷ suất lợi nhuận phản ánh đầy đủ hơn mức độ hiệu quả kinhdoanh Chính vì vậy, tỷ suất lợi nhuận với tư cách là số đo tương đối của lợinhuận, đã trở thành động cơ quan trọng nhất của hoạt động cạnh tranh tư bảnchủ nghĩa
Như vậy, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận là những phạm trù thể hiện lợiích kinh tế của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, từ đócác nhà tư bản muốn làm giàu và làm giàu nhanh cần phải tìm ra cách thức để
có được tỷ suất lợi nhuận cao nhất
* Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận
Quan sát từ công thức tính tỷ suất lợi nhuận có thể thấy, những nhân tốnào ảnh hưởng tới giá trị của tử số hoặc mẫu số, hoặc cả tử số cả mẫu số của
Trang 6phân thức cũng sẽ ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận C.Mác nêu ra các nhân tốsau:
Thứ nhất, tỷ suất giá trị thặng dư Sự gia tăng của tỷ suất giá trị thặng
dư sẽ có tác động trực tiếp làm tăng tỷ suất lợi nhuận
Thứ hai, cấu tạo hữu cơ tư bản Cấu tạo hữu cơ c/v tác động tới chi phísản xuất, do đó tác động tới lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Thứ ba, tốc độ chu chuyển của tư bản Nếu tốc độ chu chuyển của tưbản càng lớn thì tỷ lệ giá trị thặng du hàng năm tăng lên, do đó, tỷ suất lợinhuận tăng
Thứ tư, tiết kiệm tư bản bất biến.Trong điều kiện tư bản khả biến khôngđổi, nếu giá trị thặng dư giữ nguyên, tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suấtlợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận hàng năm là thước đo cụ thể, phản ánh đầy đủ hơnmức độ hiệu quả kinh doanh, vì vậy đã trở thành động cơ quan trọng nhất củahoạt động cạnh tranh tư bản chủ nghĩa
1.4 Lợi nhuận bình quân
Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa sự phát triển của cạnhtranh tất yếu dẫn tới hình thành lợi nhuận bình quân là mức lợi nhuận có tácđộng điều tiết đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản
Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận thu được theo tỷ suất lợi nhuận bìnhquân
Trang 7chuyển Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận bình quân đãtrở thành căn cứ cho các doanh nghiệp lựa chọn ngành nghề, phương án kinhdoanh sao cho có hiệu quả nhất.
II LỢI NHUẬN THƯƠNG NGHIỆP
2.1 Nguồn gốc lợi nhuận của tư bản thương nghiệp
Với cách tiếp cận thứ nhất, lợi nhuận của tư bản thương nghiệp hìnhthành thông qua quá trình chuyển hóa giá trị mà trong đó, tư bản thươngnghiệp đóng vai trò cầu nối để thực hiện nhiệm vụ phân phối và lưu thônghàng hóa của tư bản công nghiệp tới thị trường và tới người tiêu dùng nóichung trong toàn xã hội Với cách tiếp cận này, lợi nhuận của tư bản thươngnghiệp đóng vai trò khách quan trong quá trình tạo ra lợi nhuận tư bản vì nóchỉ đơn thuần là một cầu nối có chức năng chuyển hóa giá trị theo công thứclưu thông hàng hóa T - H - T' Nói cách khác, lợi nhuận của tư bản thươngnghiệp tồn tại với tư cách khách quan trong mối quan hệ giữa các chủ thể baogồm: tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp và thị trường tiêu thụ sảnphẩm Bởi lẽ theo cách tiếp cận này, hai chủ thể chính của quá trình nêu trên
là tư bản công nghiệp và thị trường người tiêu dùng, còn lợi nhuận của tư bảnthương nghiệp chỉ đơn thuần có được từ việc thực hiện chức năng trung gian
Với cách tiếp cận thứ hai, là khi chúng ta nhìn nhận dịch vụ thươngnghiệp đồng thời là một loại hàng hóa Lúc này tự bản thân tư bản thươngnghiệp đã trở thành một chủ thể độc lập và tự nó tạo ra giá trị cũng như giá trịsử dụng của riêng mình Do đó trong tình huống này, lợi nhuận của tư bảnthương nghiệp lại có được chính từ quá trình lưu thông hàng hóa dịch vụthương nghiệp xét trong nội tại hình thái vận động của riêng nó Với cách tiếpcận này, tư bản thương nghiệp đã tham gia một cách trực tiếp vào quá trìnhtạo ra giá trị từ sản phẩm hàng hóa ban đầu của tư bản công nghiệp Nói một
Trang 8cách khác, từ hàng hóa ban đầu mà tư bản thương nghiệp ứng tiên ra mua về,
họ đã vô tình sản xuất ra một loại hàng hóa vô hình khác từ chính quá trìnhnày, là hàng hóa dịch vụ thương nghiệp
Theo cách hình dung này, việc phân phối và lưu thông hàng hóa đượchiểu theo một nghĩa khác, chính là sự chuyển giao lần thứ hai từ loại hàng hóaban đầu giờ đây đã trở thành một loại “hàng hóa kép” trước khi đến với thịtrường và người tiêu dùng
Hình 2.1 Sơ đồ mô tả quá trình chuyển giao “hàng hóa kép"Với những lập luận và phương hướng phát triển nội dung như đã trìnhbày, tổng hợp lại chúng ta có được khái quát về nguồn gốc lợi nhuận của tư
bản thương nghiệp theo cách hiểu như sau: Lợi nhuận của tư bản thương
nghiệp được hình thành thông qua quá trình tư bản thương nghiệp thực hiện chức năng phân phối và lưu thông hàng hóa Dù tư bản thương nghiệp chỉ đơn thuần thực hiện vai trò cầu nổi trung gian (tương ứng khách quan), hay
tự bản thân nó tạo ra một loại hàng hóa đặc biệt (tương ứng chủ quan) để mang trao đổi trong quá trình mua và bán thì cuối cùng, tư bản thương nghiệp cũng đã trực tiếp tạo ra giá trị hàng hóa từ quá trình này
Bên cạnh đó, qua quá trình phân tích nêu trên, một lần nữa khẳng định
sự phù hợp và bảo vệ cũng như củng cố cho những lý luận trong các họcthuyết về giá trị của Mác Lúc này tư bản thương nghiệp và loại hình dịch vụthương nghiệp khi thực hiện chức năng phân phối trung gian và được xem xétdưới góc độ của một hình thái sản phẩm, đã đáp ứng đúng theo các thuộc tính
cơ bản cũng như thể hiện mối quan hệ vừa thống nhất vừa mẫu thuẫn giữa hai
THỊ TRƯỜNGTIÊU DÙNG
HÀNG HOÁ
SẢN PHẨM
HÀNG HOÁ SẢNPHẨM + HÀNG HOÁ
DỊCH VỤ
Trang 9thuộc tính cơ bản của hàng hóa Đây là thương nghiệp thực hiện chức năngphân phối và lưu thông hàng hóa Dù tư bản thương nghiệp chỉ đơn thuần thựchiện vai trò cầu nối trung gian (tương ứng khách quan), hay tự bản thân nó tạo
ra một loại hàng hóa đặc biệt (tương ứng chủ quan) để mang trao đổi trongquá trình mua và bán thì cuối cùng, tư bản thương nghiệp cũng đã trực tiếp tạo
ra giá trị hàng hóa từ quá trình này
Đây là tiền đề tạo điều kiện cho việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu và kháiquát hóa hơn nữa về bản chất lợi nhuận của tư bản thương nghiệp Bởi lẽchúng ta chỉ có thể có được sự nhìn nhận thực chất về bản chất lợi nhuận của
tư bản thương nghiệp, khi đã có sự liên kết chặt chẽ và vận dụng hợp lý cácnền tảng lý luận cơ sở trong việc xác định đúng nguyên nhân cũng như đặcđiểm, hình thái tồn tại của loại hình này
2.2 Bản chất lợi nhuận của thương nghiệp
2.2.1 Lợi nhuận thương nghiệp
Khái niệm: lợi nhuận của tư bản thương nghiệp là một phần giá trịthặng dư, mà nhà tư bản công nghiệp phải “nhượng lại” cho tư bản thươngnghiệp do tư bản thương nghiệp bán hàng hóa cho tư bản công nghiệp
Theo học thuyết của Mác, giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất,không hề được tạo ra trong lưu thông Khi một sản phẩm được hình thành, bêntrong sản phẩm ngoài kết tinh từ giá trị của tư liệu sản xuất di chuyển vào, còn
có phần giá trị trừu tượng của người công nhân tạo ra trong quá trình lao động.Phần giá trị này lớn hơn sức lao động và bằng giá trị sức lao động cộng với giátrị thặng dư Như vậy, giá trị thặng dư đã được hình thành ngay từ trong sảnxuất và nằm trong giá trị sản phẩm khi tư bản công nghiệp hoàn tất một chutrình tạo ra sản phẩm Tư bản công nghiệp đúng ra sẽ là chủ thể được hưởngtrọn vẹn toàn bộ lượng giá trị thặng dư này, trong điều kiện các nhà tư bản
Trang 10công nghiệp sẽ đồng thời chịu trách nhiệm cung ứng cũng như phân phối sảnphẩm ra thị trường Điều này sẽ gây ra một khó khăn cho các nhà tư bản côngnghiệp nếu phải thực hiện đồng thời một chức năng hoàn toàn không với lĩnhvực chính đó là sản xuất sản phẩm Công việc phân phối và cung liên quanứng sản phẩm ra thị trường đòi hỏi sự tập trung chuyên môn riêng, sự đầu tưnguồn vốn cũng như nhân lực thích hợp vì nhiệm vụ chính của công việc nàytập trung xoay quanh vẫn để chuyển hóa giá trị hàng hóa sang tư bản Trongkhi đó, chức năng chính của tư bản công nghiệp lại chủ yếu tập trung xoayquanh vẫn đề chuyên hóa giá trị tư bản thành giá trị sử dụng kết tinh vào trongsản phẩm
Chính từ yêu cầu thực tế nêu trên, trong điều kiện nền sản xuất tư bảnchuyển đổi mạnh mẽ sang một giai đoạn phát triển cao với trình độ tổ chứcsản xuất và chuyên môn hóa sâu rộng, tư bản thương nghiệp đã khẳng địnhchắc chắn vị trí của mình khi đảm nhiệm vai trò trung gian phân phối trongkhâu cung ứng và lưu thông hàng hóa Sự ra đời và phát triển của tư bảnthương nghiệp đã giúp cho lưu thông hàng hóa thuận lợi, thị trường mở rộng,tốc độ chu chuyển của tư bản tăng lên và do đó thúc đẩy sự phát triển của nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa
2.2.2 Sự hình thành lợi nhuận của tư bản thương nghiệp
Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp trong lưu thông, về cơ bản, lợinhuận thương nghiệp có được từ quá trình thực hiện nhiệm vụ tạo giá trị vàgiá trị thặng dư của tư bản thương nghiệp Trên thực tế, lợi nhuận này là chênhlệch giữa giá mua và giá bán Nhà tư bản thương nghiệp được ưu đãi muahàng hóa từ nhà tư bản công nghiệp với giá bán thấp hơn giá trị, vì vậy khi họbán lại hàng hóa đúng với giá trị thực sẽ thu được một phần lợi nhuận chênhlệch so với số vốn bỏ ra ban đầu
Trang 11Nếu xét lợi nhuận của tư bản thương nghiệp dưới góc độ bản chất kháchquan của chủ thể khi tham gia vào quá trình chuyển hóa và tạo ra giá trị, thìphần lợi nhuận này cũng chính là phần giá trị thặng dư kết tinh trong sảnphẩm, có được từ khâu sản xuất ra sản phẩm thông qua việc chiếm đoạt giá trịdôi ra ngoài giá trị sức lao động do người công nhân tạo ra trong quá trình sảnxuất.
Trong công thức vận động của tư bản thương nghiệp: T-H-T’
Theo công thức này, ban đầu tư bản thương nghiệp phải ứng ra một sốvốn tư bản là T để mua về hàng hóa H Với cách hiểu về lợi nhuận thươngnghiệp như đã nêu ở trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong số vốn tư bản
mà tư bản thương nghiệp ứng ra cho tư bản công nghiệp để mua trước hànghóa H đã bao gồm một phân giá trị thặng dư mà nhà tư bản công nghiệp mongmuốn nhận được Phân giá trị thặng dư còn lại nằm trong sản phẩm hàng hóa,
tư bản thương nghiệp sẽ thu về phần giá trị thặng dư này cùng với số vốn tưbản đầu tư ban đầu bằng việc bán lại hàng hóa với đúng giá trị khi lưu thôngtrên thị trường
Goi giá trị chưa bao gồm giá trị thặng dư của sản nhẩm là T1
Gọi giá trị thặng dư mà tư bản công nghiệp mong muốn thu về là T2 Gọi giá trị thặng dư mà tư bản thương nghiệp được hưởng chênh lệchthông qua giá mua hàng hóa là T3
Lúc này, giá trị thực của sản phẩm là : T' = T1 + T2 +T3
Trang 12CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
I THỰC TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng địnhkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sởhữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo Chính vì vậy, kinh tế Nhà nước nói chung và doanh nghiệp thươngmại nói riêng “giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, đi đầu ứng dụngtiến bộ khoa học kĩ thuật, nêu gương về năng suất, chất lượng hiệu quảkinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật” Tuy vậy, với nhiều loại hìnhdoanh nghiệp, nhiều hình thức sở hữu đan xen thì doanh nghiệp thươngmại phải làm gì và làm như thế nào để giữ vị trí then chốt trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề cực kìquan trọng và phức tạp
Từ năm 1955, sau khi dành được độc lập ở miền Bắc, Đảng và nhànước ta đã lãnh đạo nhân nhân xây dựng kinh tế quốc doanh, kinh tế tậpthể trên một nửa đất nước đã bị chiến tranh tàn phá Các xí nghiệp củathực dân Pháp để lại ở hai khu vực kinh tế lớn nhất miền Bắc là thủ đô
Hà nội và thành phố Hải phòng không có quá 10 xí nghiệp, trong đómáy móc, thiết bị đã bị chuyển phần lớn, chỉ có mấy nhà máy phục vụ
Trang 13cho nhu cầu dân sinh như: Nhà máy điện Yên Phụ Hà Nội, Nhà máyđiện Sông Cấm - Hải Phòng, nhà máy nước Yên Phụ - Hà nội; nhà máynước An Dương - Hải phòng
Với sự nỗ lực của Đảng và nhân dân ta cùng sự giúp đỡ của cácnước xã hội chủ nghĩa anh em, chúng ta đã xây dựng hàng loạt các xínghiệp quốc doanh lơn nhỏ, cùng với cải cách dân chủ, chúng ta đã hợpdoanh với các nhà tư sản dân tộc để xây dựng các xí nghiệp công tư hợpdoanh Điều đó đã tạo cho doanh nghiệp thương mại có khả năng pháttriển kinh tế nói chung trong thời kì một nửa đất nước bị chiến tranh vàmột nửa đất nước đang ở trong thời kì khôi phục sau chiến tranh Tuynhiên, trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ đã tàn phánhiều nhà máy lớn của ta như: nhà máy xi măng Hải phòng, nhà máygang thép Thái nguyên, nhà máy cơ khí Cẩm phả, …, đến năm1975, đấtnước được giải phóng hoàn toàn, chúng ta tiếp quản được khu côngnghiệp Biên hoà và các xí nghiệp khác của miền Nam
Như vậy, các doanh nghiệp thương mại đầu tiên được hình thành
từ việc quốc hữu hoá các xí nghiệp tư bản tư nhân hoặc tiếp quản cácdoanh nghiệp của chính quyền cũ để lại Sau hơn 10 năm kể từ ngàythông nhất đất nước 1975, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì theo cơ chếquản lý cũ - cơ chế tập chung quan liêu bao cấp, doanh nghiệp thươngmại là cơ quan chủ yếu trong việc sản xuất và phân phối hàng hoá dưới
sự bảo trợ của nhà nước, vì lực lượng kinh tế quốc doanh là xương sốngcủa nền kinh tế
Như vậy, doanh nghiệp thương mại thời kì trước đổi mới có vị tríquan trọng trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp Nó được coi là
“xương sống” của nền kinh tế Tuy nhiên, việc duy trì cơ chế kế hoạch