1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn luật thương mại quốc tế

7 10 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập lớn luật thương mại quốc tế
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật thương mại quốc tế
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 25,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân biện pháp tự vệ thương mại ít được sử dụng trên thực tế so với biện pháp chống bán phá giá; biện pháp đối kháng...4 KẾT LUẬN...6 Bài tập số 4: Trình bày các căn cứ và nguyên

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

1 Khái quát về biện pháp tự vệ thương mại 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Căn cứ và nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại theo quy định của WTO 2

1.2.1 Căn cứ áp dụng biện pháp tự vệ thương mại 2

1.2.2 Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại 3

2 Nguyên nhân biện pháp tự vệ thương mại ít được sử dụng trên thực tế so với biện pháp chống bán phá giá; biện pháp đối kháng 4

KẾT LUẬN 6

Bài tập số 4: Trình bày các căn cứ và nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại theo quy định của WTO Theo anh, chị, tại sao biện pháp tự vệ thương mại lại ít được các thành viên của WTO sử dụng hơn trên thực tế so với các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng?

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Với mục tiêu thúc đẩy tự do hàng hóa thương mại với thế giới, ngày 11/1/2007 tại Geneva sau 11 năm tiến hành hàng loạt các cuộc đàm phán song phương, đa phương và tham vấn kể từ khi đệ đơn gia nhập vào năm 1995, Việt Nam chính thức được Tổ chức Thương mại thế giới WTO tiến hành nghi lễ trao thẻ thành viên chính thức (thành viên thứ 150) Cùng với việc được gia nhập vào

tổ chức thành viên của WTO thì Việt Nam cũng chính thức phải thực hiện những cam kết do chính WTO đưa ra, đó là xóa bỏ những rào cản phi thuế quan (hạn ngạch, cấp phép xuất nhập khẩu,…), mở cửa thị trường kinh doanh với các nước, tạo một sân chơi bình đẳng cho hầu hết các doanh nghiệp trong và ngoài nước Tuy nhiên, bên cạnh việc xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, Việt Nam và các nước thành viên WTO vẫn được quyền áp dụng biện pháp tự vệ thương mại như

là một chiếc van an toàn ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránh khỏi những đỗ vỡ trong một số trường hợp đặc biệt khó khăn Việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại phải bảo đảm tuân theo quy định của WTO (về điều kiện, thủ tục, cách thức) để tránh lạm dụng

NỘI DUNG

1 Khái quát về biện pháp tự vệ thương mại

1.1 Khái niệm

Biện pháp tự vệ thương mại là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với 1 hoặc 1 số loại hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hóa, không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ

1.2 Căn cứ và nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại theo quy định của WTO

1.2.1 Căn cứ áp dụng biện pháp tự vệ thương mại

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều XIX Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT); Điều 2 Hiệp định về các biện pháp tự vệ (SA), một nước nhập khẩu

Trang 3

chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau:

- Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng

- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá

đó bị thiệt hại hoặc đe doạ bị thiệt hại nghiêm trọng

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nói trên

1.2.2 Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại

Căn cứ Điều 3; 5; 7 SA, nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại là:

- Một thành viên có thể áp dụng biện pháp tự vệ chỉ sau khi cơ quan có thẩm quyền của thành viên đó tiến hành điều tra theo thủ tục được xây dựng và công bố phù hợp với Điều 10 của GATT1, trừ trường hợp áp dụng các biện pháp

tự vệ tạm thời

- Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng trong phạm vi cần thiết để ngăn ngừa, khắc phục thiệt hại nghiêm trọng và tạo điều kiện cho ngành sản xuất trong nước điều chỉnh cơ cấu Khi các hạn chế định lượng (hạn ngạch) được áp dụng thì không được kéo lượng hàng nhập khẩu xuống dưới mức trung bình của 3 năm tiêu biểu gần nhất (và cũng là ba năm có đầy đủ số liệu thống kê), trừ khi nước nhập khẩu chứng minh được rõ ràng rằng điều đó là cần thiết để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng.2

- Biện pháp tự vệ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử và không phụ thuộc vào xuất xứ hàng hoá Tuy nhiên, các nước cẩn chỉ rõ phương thức phân chia hạn ngạch giữa các nước xuất khẩu, kể cả trong trường hợp đặc biệt, khi hàng hóa nhập khẩu từ một số nước tăng với tốc độ quá nhanh

- Một biện pháp tự vệ không được áp dụng quá bốn năm, thời hạn này có thể kéo dài tới tám năm, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định rằng biện pháp này vẫn cần thiết và họ có bằng chứng cho thấy ngành sản xuất trong nước đang tiến hành điều chỉnh cơ cấu

1 Khoản 1 Điều 3 Hiệp định tự vệ

2 Giáo trình Luật thương mại quốc tế

Trang 4

2 Nguyên nhân biện pháp tự vệ thương mại ít được sử dụng trên thực

tế so với biện pháp chống bán phá giá; biện pháp đối kháng

Thứ nhất, chống bán phá giá và chống trợ cấp là những biện pháp được áp

dụng để xử lý những thực tiễn bị coi là không công bằng trong thương mại quốc

tế, trong khi đó, tự về thương mại được áp dụng như một chiếc van trong một tình thế cấp thiết để ứng phó với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường Ở trường hợp chống bán phá giá và chống trợ cấp, sản phẩm nhập khẩu có thể gây ra thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu là bởi vì, chúng được hậu thuẫn bởi việc bán phá giá hoặc được trợ cấp từ ngân sách nhà nước Những hậu thuẫn này đem lại lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm nhập khẩu một cách không bình đẳng trước sản phẩm nội địa của nước nhập khẩu Chính vì vậy, việc bán phá giá và trợ cấp bị lên án trong thương mại quốc tế Trong khi đó, ở trường hợp tự

vệ thương mại, sản phẩm nhập khẩu có thể có giá thấp và lợi thế cạnh tranh hơn

so với sản phẩm nội địa song ở đây không có dấu hiệu bán phá giá hay trợ cấp của nhà nước Nói cách khác, sản phẩm nhập khẩu vẫn đang cạnh tranh một cách công bằng với sản phẩm nội địa Thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất nội địa xuất phát không phải từ nguyên nhân sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh không lành mạnh

mà do sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa quá thấp Trong trường hợp này không

có lý do gì để áp dụng biện pháp chế tài nào cả Biện pháp tự vệ thương mại được xem như một giải pháp tạm thời của nước nhập khẩu trong một tình thế cấp thiết

để cứu ngành sản xuất nội địa của mình, nó còn được ví như biện pháp giải thoát

áp lực trong mở cửa thị trường Vì vậy, khi áp dụng biện pháp này, nước nhập khẩu phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà biện pháp tự vệ gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm có liên quan còn 2 biện pháp còn lại là biện pháp chế tài nên nước nhập khẩu không có trách nhiệm này

Thứ hai, trong bối cảnh tự do thương mại đang ngày càng được đề cao như

hiện nay, khả năng các nước có thể lựa chọn áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự về thương mại là khác nhau Biện pháp tự về thương mại

có sự nhạy cảm về chính trị rất cao, bởi vì, trong trường hợp này không có vi

Trang 5

phạm nào xảy ra từ phía sản phẩm nhập khẩu cả Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ chẳng qua là vì lợi ích riêng của ngành sản xuất nội địa và căn cứ vào chủ quyền của mình mà thôi Khi một nước áp dụng biện pháp tự vệ thường vấp phải sự phản đối gay gắt từ phía các nước có doanh nghiệp xuất khẩu liên quan Trong trường hợp bồi thường cho các doanh nghiệp xuất khẩu liên quan không thỏa đáng thì biện pháp tự vệ rất dễ dẫn tới biện pháp trả đũa từ phía các nước xuất khẩu Vì những lý do này nên biện pháp tự vệ là biện pháp phòng vệ thương mại ít được áp dụng nhất Biện pháp chống trợ cấp có lý do chính đáng hơn so với

tự vệ thương mại bởi trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu là nguyên nhân của tình trạng cạnh tranh không lành mạnh đã gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu Tuy vậy, biện pháp chống trợ cấp lại gián tiếp lên án chính phủ nước xuất khẩu đã cung cấp các nguồn trợ cấp cho doanh nghiệp của họ Chính phủ nước xuất khẩu thường sẵn sàng phản đối các biện pháp chống trợ cấp của các nước nhập khẩu Điều này làm cho biện pháp chống trợ cấp cũng mang tính nhạy cảm chính trị cao và không được áp dụng nhiều dù tần số áp dụng vẫn cao hơn biện pháp tự vệ Trong cả ba biện pháp phòng vệ thương mại thì chống bán phá giá là biện pháp dễ được áp dụng nhất Đối tượng bị áp dụng trực tiếp của biện pháp chống bán phá giá là các doanh nghiệp xuất khẩu đã tiến hành hoạt động cạnh tranh không lành mạnh Chính phủ nước xuất khẩu ít khi xuất hiện trong các vụ kiện chống bán phá giá Chính vì vậy, chống bán phá giá là biện pháp phòng vệ thương mại được sử dụng phổ biến nhất trong thương mại quốc tế hiện nay

Thứ ba, cả chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại đều được

áp dụng trên cơ sở có thiệt hại vật chất gây ra đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu Tuy nhiên, điều kiện này được áp dụng một cách ngặt nghèo hơn đối với việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại so với hai biện pháp còn lại Trong các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp, cơ quan có thẩm quyền chỉ cần xác định được thiệt hại xảy ra là đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể là

đã có thể áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay chống trợ cấp tương ứng Trong khi đó, để áp dụng biện pháp tự vệ, cơ quan có thẩm quyền phải chứng

Trang 6

minh được đã có thiệt hại nghiêm trọng xả ra đối với ngành sản xuất nội địa, tức là mức độ thiệt hại vật chất cao hơn nhiều so với mức độ thiệt hại để áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay chống trợ cấp Sở dĩ có sự khác biệt này là do biện pháp tự vệ chỉ là một biện pháp tình thế tạm thời, không phải là một biện pháp chế tài Nếu điều kiện áp dụng cũng dễ như hai biện pháp kia thì sẽ dễ dẫn tới lạm dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

Thứ tư, căn cứ khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH ngày

25/5/2002 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế:

“Không áp dụng Đối xử tối huệ quốc … trong trường hợp cần thiết để bảo đảm

… ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại”; khoản 2 Điều 2 Hiệp định tự vệ:

“Các biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng đối với một sản phẩm nhập khẩu bất kể từ nguồn nào” Biện pháp đối kháng và biện pháp chống bán phá giá là biện pháp để

ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại nên không áp dụng đối xử tối huệ quốc Còn biện pháp tự vệ thương mại vẫn áp dụng đối xử tối huệ quốc do không nằm trong những ngoại lệ của áp dụng đối xử tối huệ quốc Việc áp dụng đối xử tối huệ quốc ở biện pháp tự vệ đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại rất lớn đối với chính phủ nước nhập khẩu, nếu bồi thường không thỏa đáng rất dễ dẫn tới biện pháp trả đũa từ phía các nước xuất khẩu Việc sử dụng rất dễ dẫn đến hậu quả thiệt hại về kinh tế, chính trị là một trong những nguyên nhân dẫn đến biện pháp

tự vệ ít được các nước thành viên WTO sử dụng hơn so với hai biện pháp còn lại

KẾT LUẬN

Với điều kiện kinh tế và vị thế của Việt Nam hiện nay đối với các nước trên thế giới, Chính phủ và các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lưỡng và cân nhắc khi sử dụng 3 biện pháp phòng vệ thương mại trên để giảm thiểu những rủi ro khi áp dụng

Trang 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giáo trình Luật thương mại quốc tế

Giáo trình Luật thương mại quốc tế song ngữ

Hiệp định chung về thương mại và thuế quan GATT

Hiệp định về các biện pháp tự vệ

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B2ng_v%E1%BB%87_th

%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i

Tóm tắt quá trình Việt Nam gia nhập WTO – Bộ Tài chính

Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH ngày 25/5/2002 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

https://voer.edu.vn/m/bien-phap-tu-ve-thuong-mai/7e458c5e

http://chongbanphagia.vn/chong-ban-pha-gia-trong-thuong-mai-quoc-te-

n474.html?fbclid=IwAR26T6l5qdOmsu_3z5V-II8WVCO705AJhwXYz10gCRPfW3lMo7O7eVWND4I

Hiệp định về Chống bán phá giá (Điều VI của GATT 1994)

Các biện pháp phòng vệ trong thương mại quốc tế

Ngày đăng: 05/12/2022, 15:17

w