1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật thương mại quốc tế

28 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 54,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo MVTO 1998, miễn thuế nhập khẩu cho các nhà sản xuất xe có nhập khẩu ô tô “từ bất cứ quốc gia nào được hưởng thuế quan MFN” nếu các nhà sản xuất xe này đáp ứng được ba điều kiện sau:

Trang 1

I MFN

1.CANADA - AUTOS

Câu hỏi pháp lý (Issues):

Canada đã áp dụng biện pháp miễn thuế nhập khẩu đối với một số ô tô đến từ một số nước cócông ty liên kết với một số nhà sản xuất đáp ứng các điều kiện nhất định Tuy nhiên, biện pháp này khi được áp dụng trên thực tế đã không dành cơ hội ưu đãi ngang nhau cho tất cả ô

tô nhập khẩu từ tất cả các Thành viên khác, biện pháp của Canada có vi phạm nghĩa vụ đối

xử tối huệ quốc tại Điều I.1 GATT 1994?

Quyết định (Holding):

Đúng Biện pháp miễn thuế nhập khẩu của Canada cho một số ô tô đến từ một số nước có

công ty liên kết với một số nhà sản xuất, khi áp dụng trên thực tế đã không dành cho tất cả ô

tô nhập khẩu từ tất cả các Thành viên khác, vi phạm nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc tại Điều I.1GATT 1994, cho dù trên bề mặt của biện pháp thể hiện sự trung tính về xuất xứ

Sự kiện (Facts):

Biện pháp của Canada quy định về miễn thuế nhập khẩu ô tô cho một số nhà sản xuất nhất định theo Motot Vehicles Tariff Order, 1998 (MVTO 1998) và Special Remission Orders (SROs) MVTO 1998 có nguồn gốc từ Hiệp định về các Sản phẩm Ô tô giữa Canada và Hoa Kỳ

Theo MVTO 1998, miễn thuế nhập khẩu cho các nhà sản xuất xe có nhập khẩu ô tô “từ bất

cứ quốc gia nào được hưởng thuế quan MFN” nếu các nhà sản xuất xe này đáp ứng được ba điều kiện sau: “(1) phải có hoạt động sản xuất ở Canada, trong “năm cơ sở” được chỉ định, xe

ô tô được sản xuất cùng loại với xe nhập khẩu; (2) Tỉ lệ doanh thu thuần của xe được sản xuất ở Canada so với doanh thu thuần của tất cả xe cùng loại được bán để tiêu thụ ở Canada trong thời kì nhập khẩu phải “bằng hoặc cao hơn” tỉ lệ của “năm cơ sở” và tỉ lệ này trong bất

cứ trường hợp nào không được thấp hơn 75:100; và (3) giá trị nội địa hóa của Canada trong sản xuất của nhà sản xuất phải “bằng hoặc lớn hơn” giá trị nội địa hóa của Canada trong sản xuất xe ô tô cùng loại trong “năm cơ sở”

Bằng SROs, Canada cũng chỉ định thêm một số nhà sản xuất ngoài những nhà sản xuất đủ điều kiện theo MVTO 1998 được miễn thuế nhập khẩu nếu những nhà sản xuất này thỏa mãnmột số điều kiện liên quan đến tỉ lệ sản xuất – bán và yêu cầu về giá trị nội địa hóa của Canada

Cơ sở (Rationale):

Trang 2

Từ ngữ trong Điều I.1 không hạn chế phạm vi áp dụng chỉ trong các vụ việc không dành một

“thuận lợi” cho các sản phẩm tương tự của tất cả các nước thành viên thể hiện trên bề mặt của biện pháp, haynói cách khác là dựa trên câu chữ được sử dụng trong biện pháp Các từ

“de jure” và “de facto” không được sử dụng trong Điều I.1, tuy vậy, Điều I.1 phải được hiểu

là không chỉ bao gồm các phân biệt theo luật, de jure, mà còn cả những biện pháp phân biệt trên thực tế, de facto Đối tượng và mục đích của Điều I.1 là cấm sự phân biệt đối xử giữa

các sản phẩm tương tự xuất xứ từ hoặc đi đến tất cả các nước khác Cấm phân biệt đối xử cũng là động lực để nhân nhượng thuế quan, trên cơ sở đàm phán có đi có lại, được mở rộng cho tất cả các Thành viên khác trên cơ sở đối xử tối huệ quốc

Trên thực tế, một ô tô nhập khẩu vào Canada được hưởng sự “thuận lợi” về miễn thuế nhập khẩu chỉ khi nó có xuất xứ từ một trong số ít các quốc gia mà nhà xuất khẩu ô tô liên kết với nhà sản xuất/nhập khẩu ở Canada được chỉ định là đủ điều kiện miễn thuế nhập khẩu ô tô theo MVTO 1998 hay theo SROs Việc áp dụng biện pháp miễn thuế nhập khẩu này đã không ngay lập tức và vô điều kiện dành cho sản phẩm ô tô tương tự của tất cả các Thành viên khác như yêu cầu của Điều I.1 Vì thế biện pháp này không phù hợp với nghĩa vụ của Canada theo Điều I.1 GATT 1994

2 SPAIN – TARIFF TREATMENT OF UNROASTED COFFEE

Câu hỏi pháp lý (Issues):

Cà phê nhẹ (mild coffee) và cà phê nguyên chất (unwashed coffee) có phải là những sản phẩm tương tự trong phạm vi của Điều I.1 GATT 1994 về đãi ngộ tối huệ quốc?

Quyết định (Holding):

Đúng Cà phê nhẹ (mild coffee) và cà phê nguyên chất (unwashed coffee) là những sản phẩm

tương tự trong phạm vi của Điều I.1 GATT 1994 về đãi ngộ tối huệ quốc, do sự khác biệt cảm quan không đủ để tạo thành sự khác biệt về tính chất vật lý, không có sự phân biệt về công dụng cuối cùng của các loại cà phê khác nhau và không có sự khác biệt về phân loại thuế quan

Sự kiện (Facts):

Trước ngày 1/3/1980, cà phê chưa rang nhập khẩu vào Tây Ban Nha được xếp vào cùng một nhóm Sau ngày này, quyết định Royal Decree No 1764/79 đã phân loại mặt hàng này vào năm dòng thuế quan khác nhau như sau:

Mô tả sản phẩm Mức thuế

Trang 3

1. Cà phê nhẹ Columbia (Columbia mild) Miễn

2. Các loại cà phê nhẹ khác Miễn

3. Arabica nguyên chất (Unwashed Arabica) 7 % ad valorem

cà phê chưa rang, chưa khử caffein như đối với các loại cà phê khác nhau là đối tượng của các mức thuế quan khác nhau

3 PHÂN TÍCH PHÁP LÝ: NEWLAND - THUẾ QUAN AD VALOREM CHO BIA ĐẶC BIỆT

Nhóm (K10504): Nguyễn Dòng Châu Đan, Lưu Trần Gia Linh, Võ Thị Tú Oanh, Nguyễn Hoàng Nhã Uyên

VẤN ĐỀ PHÁP LÝ

Việc Newland áp thuế quan ad valorem 30% đối với bia đặc biệt nhưng lại miễn thuế quan cho loại bia đặc biệt nhập khẩu từ Hoa Kỳ có phải là sự vi phạm nghĩa vụ đối xử tối huệ quốcquy định tại Điều I 1GATT 1994 hay không?

TRẢ LỜI VẮN TẮT

Trang 4

Đúng Ưu đãi về thuế quan đối với bia đặc biệt từ Hoa Kỳ không được áp dụng một cách ngay lập tức và vô điều kiện đối với các quốc gia khác trong WTO (trong đó có Richland) đã

vi phạm nguyên tắc đối xử tối huệ quốc quy định tại Điều I.1 GATT 1994

SỰ KIỆN

Richland muốn tăng xuất khẩu bia vàng, bia đặc biệt và bia không cồn sang Newland

Newland áp dụng hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu bia vào Newland nhưng sau khi trở thành thành viên WTO, Newland đã thay hạn ngạch bằng thuế quan advalorem Đối với bia đặc biệt, Newland quy định: miễn thuế quan cho bia đặc biệt NK từ Hoa Kỳ và thuế quan 30% cho bia đặc biệt từ các quốc gia khác (trong đó có Richland)

PHÂN TÍCH

Để xác định Newland có vi phạm nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc hay không, cần trả lời ba câu hỏi:

1. Biện pháp của Newland có dành ưu đãi thương mại cho bia đặc biệt nhập khẩu từ Hoa

Kỳ và từ các nhà máy bia nhỏ hay không?

2. Bia đặc biệt từ Richland và bia đặc biệt từ HK có phải là những sản phẩm tương tự hay không?

3. Ưu đãi dành cho bia đặc biệt từ Hoa Kỳ có được dành ngay lập tức và vô điều kiện cho bia đặc biệt đến từ Richland hay không?

Thứ nhất, phải xác định có tồn tại hay không một ưu đãi thương mại dành cho bia đặc biệt đến từ Hoa Kỳ Theo điều I.1 GATT 1994, ưu đãi thương mại được hiểu là bất kỳ lợi thế nào

và được hiểu rất rộng, có thể là thuế nhập khẩu xuất khẩu, thủ tục hải quan, thuế nội địa, các quy định trong nước liên quan đến việc bán hàng, chào bán, vận tải, phân phối hay sử dụng sản phẩm Theo các sự kiện trong tình huống cho thấy, ưu đãi thương mại ở đây được áp dụng dưới hình thức thuế quan, thông qua việc Newland miễn thuế quan cho bia đặc biệt nhập khẩu từ Hoa Kỳ và các nhà máy bia nhỏ

Thứ hai, bia đặc biệt từ Hoa Kỳ có phải là sản phẩm tương tự với bia đặc biệt từ Richland hay không? Việc xác định các sản phẩm liên quan có phải sản phẩm tương tự nhau sẽ được xác định qua từng vụ việc cụ thể và giải thích qua các án lệ của GATT/WTO, vì GATT không

hề định nghĩa về sản phẩm tương tự cũng như tiêu chí xác định sản phẩm tương tự Theo nhiều án lệ, các tiêu chí được sử dụng bao gồm đặc tính vật lý của sản phẩm, thị hiếu tiêu dùng, công dụng sử dụng cuối cùng và phân loại sản phẩm trong danh mục thuế quan Tương

tự không có nghĩa là giống hệt Định nghĩa về tương tự được ví giống như đàn acordion, kéo vào hay mở ra tùy thuộc vào các hoàn cảnh khác nhau khi các điều luật khác nhau của các hiệp định WTO được áp dụng Japan - Alcoholic Beverages II, AB Report, đoạn H 1 (a) Bia đặc biệt từ Hoa Kỳ và từ Richland là hai sản phẩm tương tự thậm chí là giống hệt, vì chúng được đưa vào cùng một phân loại thuế quan trong Biểu thuế quan của New land

Trang 5

Thứ ba, ưu đãi thuế quan dành cho Hoa Kì có ngay lập tức và vô điều kiện dành cho

Richland hay không? Ngay lập tức và vô điều kiện tức là việc một quốc gia dành ưu đãi thương mại cho quốc gia khác là hoặc không là thành viên của WTO mà không áp đặt thêm hoặc duy trì điều kiện bổ sung nào đối với việc dành ưu đãi đó và cũng không trì hoãn việc dành ưu đãi đó Biểu thuế quan cho thấy, việc Newland miễn thuế quan cho bia đặc biệt nhậpkhẩu từ Hoa Kỳ nhưng giữ mức 30% cho bia nhập khẩu từ các quốc gia khác trong đó có Richland Như vậy, ưu đãi này dành cho Hoa Kỳ không được áp dụng một cách ngay lập tức

và vô điều kiện cho Richland

KẾT LUẬN

Từ các phân tích trên, có thể kết luận việc Newland áp thuế quan ad valorem 30% đối với biađặc biệt nhưng lại miễn thuế quan cho loại bia đặc biệt nhập khẩu từ Hoa Kỳ là sự vi phạm nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc ở Điều I.1 GATT 1994

Đúng Newland áp thuế 2% đối với nước giải khát không cồn sản xuất trong nước trong khi

đó lại áp thuế 5% đối với tất cả các loại nước giải khát không cồn nhập khẩu khác là vi phạm nghĩa vụ đối xử quốc gia theo quy định tại Điều III.2 GATT 1994

Trang 6

1. Nước giải khát không cồn nội địa và nước giải khát không cồn nhập khẩu từ Richland

có phải là những sản phẩm tương tự và hàng hóa này từ Richland có bị đánh thuế VAT vượt mức thuế VAT đánh vào sản phẩm nội địa tương tự?

2. Nếu chúng không phải là sản phẩm tương tự, chúng có phải là sản phẩm cạnh tranh hoặc thay thế trực tiếp cho nhau hay không; có sự khác biệt về thuế VAT giữa nước giải khát không cồn nhập khẩu từ Richland và sản phẩm thay thế nội địa không; sự khác biệt về thuế VAT đó có tạo ra hậu quả bảo hộ ngành sản xuất nội địa?

Trước tiên, cần phải xác định nước giải khát không cồn nhập khẩu từ Richland và nước giải khát không cồn nội địa có phải là sản phẩm tượng tự trong phạm vi Điều III.2 GATT 1994 (câu đầu tiên) Thuật ngữ “sản phẩm tương tự” không được định nghĩa cụ thể trong GATT

1994 Trong vụ Japan – Alcoholic Beverages II, khái niệm “sản phẩm tương tự” đã được đem

so sánh với cây đàn accordion để cho thấy khái niệm này phải được hiểu một cách linh hoạt dựa trên hoàn cảnh của vụ việc và điều luật trong các hiệp định WTO được viện dẫn Sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm sản xuất trong nước có được coi là tương tự hay không cần phải xác định trên từng vụ việc cụ thể Các sản phẩm phải được đặt trong mối quan hệ cạnh tranh để cân nhắc các yếu tố đã được thừa nhận qua các án lệ là: đặc tính vật lý, công dụng cuối cùng, thị hiếu của người tiêu dùng và phân loại thuế quan Sản phẩm tương tự trong phạm vi của Điều III.2 câu thứ nhất GATT phải được giải thích theo nghĩa hẹp.Japan – Alcoholic Beverages II, AB Report, đoạn H 1 (a) Dựa trên bản chất và phạm vi mối quan hệcạnh tranh giữa hai loại sản phẩm này, và từ biểu thuế VAT có thể nhận thấy nước giải khát không cồn nhập khẩu từ Richland và nước giải khát không cồn sản xuất nội địa cùng một biểu thuế VAT, do đó chúng là các sản phẩm tương tự

Thứ hai, nước giải khát không cồn nhập khẩu từ Richland có bị áp thuế VAT vượt mức so vớithuế áp cho sản phẩm tương tự nội địa hay không? Điều III.2 GATT không viện dẫn đến điều III.1, nên sự hiện diện của yếu tố áp dụng mang tính chất bảo hộ không cần thiết phải được thiết lập để cho thấy có sự vi phạm câu thứ nhất Tuy nhiên không có nghĩa là nguyên tắc chung của điều III.1 không áp dụng đối với việc giải thích điều III.2 này Theo quy định tại câu thứ nhất điều III.2 yêu cầu mức thuế nội địa đánh vào hàng nhập khẩu vượt mức thuếnội địa đánh vào hàng nội địa mà không cần chứng minh hậu quả bảo hộ hàng nội địa Hơn nữa, mức chênh lệch được nêu ra ở câu thứ nhất Điều III.2 cũng không bị yêu cầu phải vượt quá ngưỡng tối thiểu là bao nhiêu Ngay cả mức nhỏ nhất vượt quá cũng cho thấy sự vi phạm Japan – Alcoholic Beverages II, AB Report, đoạn H 1 (b) Mức thuế VAT 5% mà Newland đánh vào nước giải khát không cồn nhập khẩu từ Richland đã “vượt quá” mức thuế VAT 2% đánh vào sản phẩm nội địa tương tự

Biện pháp thuế VAT của Newland có khả năng lớn vi phạm Điều III.2 câu thứ nhất và không cần thiết phải xem xét liệu có vi phạm điều III.2 câu thứ hai hay không

KẾT LUẬN

Newland đã vi phạm Điều III.2 GATT câu thứ nhất khi áp mức thuế VAT 5% cho nước giải khát không cồn nhập khẩu từ Richland “vượt quá” mức VAT 2% áp cho nước giải khát khôngcồn sản xuất trong nước

Trang 7

2 PHÂN TÍCH PHÁP LÝ: THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

VẤN ĐỀ PHÁP LÝ

Việc áp mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu vang nội địa là 15% trong khi áp thuế 30% cho bia đặc biệt nhập khẩu từ Richland có vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế nội địa ở điều III:2 GATT 1994 hay không?

TRẢ LỜI VẮN TẮT

Đúng Mức thuế tiêu thụ đặc biệt chênh lệch có lợi cho rượu vang nội địa so với bia đặc biệt nhập khẩu từ Richland có khả năng vi phạm điều III:2 GATT 1994 về đối xử quốc gia đối vớithuế nội địa

SỰ KIỆN

Newland là một nước truyền thống uống rượu vang và chỉ sản xuất rượu vang Các loại bia gồm có bia không cồn, bia vàng, bia đặc biệt là những sản phẩm nhập khẩu Newland áp mứcthuế tiêu thụ đặc biệt như sau:

1. Rượu vang và bia đặc biệt có phải là những sản phẩm tương tự và bia đặc biệt nhập khẩu từ Richland bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vượt mức thuế đó đánh vào rượu vangnội địa?

Trang 8

2. Rượu vang và bia đặc biệt có phải là những sản phẩm cạnh tranh hay thay thế trực tiếp cho nhau; bia đặc biệt nhập khẩu từ Richland và rượu vang nội địa bị đánh thuế không giống nhau và sự khác biệt đó đủ để bảo vệ nền sản xuất rượu vang nội địa?

Trước tiên, rượu vang nội địa và bia đặc biệt nhập khẩu từ Richland có phải là những sản phẩm tương tự trong phạm vi của điều III:2 hay không? “Sản phẩm tương tự” là khái niệm xuất hiện nhiều lần trong GATT 1994, tuy nhiên GATT 1994 chưa đưa ra bất kì giải thích, định nghĩa nào cho khái niệm này Sản phẩm tương tự được giải thích qua các án lệ của WTO Trong vụ Japan-Alcoholic Beverages II, AB report, Part H 1 (a), para 4, cơ quan phúcthẩm nhận định: “tương tự” như đàn accordion kéo ra và thu lại ở các nơi khác nhau của Hiệpđịnh WTO áp dụng Bề rộng của đàn ở một nơi bất kì đó phải xác định bởi quy định cụ thể

mà từ “tương tự” được sử dụng cũng như là bối cảnh và các sự kiện chiếm ưu thế của vụ việc

mà quy định đó có thể được áp dụng Cách giải thích về sản phẩm tương tự trong các án lệ của WTO đều xác định căn cứ vào tình tiết cụ thể của các vụ việc thực tế Cụ thể các báo cáo này sử dụng các tiêu chí: tính chất vật lý của sản phẩm (bản chất, cấu tạo, chất lượng…); Công dụng cuối cùng; Thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng; Phân loại thuế quan của sản phẩm (Cơ quan phúc thẩm trong vụ Japan-Alcoholic nhấn mạnh đây là bảng phân loại thuế quan thống nhất và có sự khác biệt giữa bảng phân loại thuế quan này với biểu cam kết nhân nhượng thuế quan do các thành viên xác lập) Ngoài ra tại đoạn 6.21 báo cáo của Ban hội thẩm vụ Japan- Alcoholic có nêu rằng sản phẩm tương tự tại điều III:2 câu 1 phải được hiểu theo nghĩa hẹp Có thể thấy rượu vang và bia đặc biệt có các tính chất vật lý không giống nhau Cụ thể, về màu sắc thì rượu vang có các màu đỏ, trắng, hồng trong khi đó thì bia đặc biệt có màu vàng đặc trưng Nguyên vật liệu để sản xuất rượu vang và bia cũng có sự khác biệt, rượu vang làm từ trái cây lên men, còn bia là từ lúa mạch và hai sản phẩm này cũng được làm từ các quy trình khác nhau Hơn nữa, rượu vang thường được sử dụng tại các bữa ăn, là thức uống khai vị, còn bia thường được sử dụng ở các buổi tiệc lớn, buổi họp mặt, tiếp khách…Như vậy người tiêu dùng không thể coi hai sản phẩm là như nhau khi lựa chọn Trong bảng phân loại thuế quan HS, hai sản phẩm này cũng ở các mục khác nhau, cụ thể bia

là 2203.00 và rượu vang là 2204.10 Tuy nhiên hai sản phẩm bia và rượu vang có cùng công dụng cuối cùng, đó là để uống Xét tổng thể các tiêu chí đã đặt ra thì rất khó để chứng minh rượu vang và bia đặc biệt là những sản phẩm tương tự theo phạm vi của điều III:2 câu 1.Nếu chứng minh được rượu vang và bia đặc biệt là sản phẩm tương tự thuộc phạm vi điều III:2 câu 1 thì việc đánh thuế đó có vượt quá mức so với hàng nội địa không? Theo quy định tại điều III:2 câu 1 thì chỉ cần chứng minh việc đánh thuế có sự vượt mức, mà không phải vượt qua mức rất nhỏ Rõ ràng trong trường hợp này bia đặc biệt (chủ yếu là được nhập khẩu) bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt 30% cao hơn so với mức thuế tiêu thụ đặc biệt đánh lên rượu vang nội địa Như vậy đã có sự đánh thuế hàng nhập khẩu (bia đặc biệt) cao hơn so với mức thuế đánh lên sản phẩm nội địa (rượu vang)

Nếu không thể chứng minh có sự vi phạm ở câu 1 điều III:2 thì phải xem xét rượu vang nội địa và bia đặc biệt nhập khẩu có phải là sản phẩm cạnh tranh hoặc thay thế trực tiếp theo điềuIII:2 câu 2 GATT 1994 không? Việc xác định sản phẩm có phải là sản phẩm cạnh tranh hay thay thế trực tiếp cho nhau theo câu hai của điều này cần phải được xem xét trên cơ sở từng

vụ việc cụ thể, có tính đến tất cả các yếu tố có liên quan Korea -Alcoholic Beverages, AB Report, para 137 Ban hội thẩm trong vụ Japan - Alcoholic Beverage II cho rằng thuật ngữ “

Trang 9

sản phẩm cạnh tranh trực tiếp hoặc sản phẩm có thể thay thế cho nhau phải được giải thích theo nội hàm rộng hơn sản phẩm tương tự được quy định trong câu đầu tiên của điều III:2”

Cơ quan phúc thẩm trong này giải thích rằng các sản phẩm được coi là sản phẩm cạnh tranh hoặc thay thế trực tiếp khi mà chúng có thể hoán đổi cho nhau hoặc là khi chúng đưa ra được cách thức khác để đáp ứng nhu cầu hay thị hiếu cụ thể, Japan – Alcohoic Beverage II, AB Report, para 115 Như vậy, để quyết định xem hai sản phẩm có phải là cạnh tranh trực tiếp hay có thể thay thế cho nhau hay không thì ngoài các tính chất vật lý như bản chất, cấu tạo, thi hiếu và thói quen của người tiêu dùng, cơ quan phúc thẩm đồng ý với ban hội thẩm trong

vụ Japan – Alcoholic Beverage II rằng còn phải xem xét thêm các yếu tố như sự cạnh tranh trên thị trường liên quan, có cùng mục tiêu sử dụng hay không thông qua việc xem xét mức

độ linh hoạt của sản phẩm thay thế Japan –Alcholic Beverage II, AB Report, para 117 Trongtrường hợp này, rượu vang và bia đặc biệt nhập khẩu có cùng mục đích sử dụng là để uống, tuy nhiên chúng khác nhau về đặc tính lý hóa, quy trình sản xuất, độ gây say Rõ ràng bia đặcbiệt và rượu vang được sản xuất theo quy trình lên men từ hai loại thực phẩm khác nhau do

dó độ gây say của chúng cũng khác nhau Ngoài ra, khi xem xét độ co giãn về giá thì ta cần xem xét rằng khi giá cả của bia đặc biệt tăng lên thì liệu rằng cầu về rượu vang cũng tăng lên hay không và ngược lại Trên thực tế thì người tiêu dùng có nhiều khả năng chuyển sang dùng bia thay cho rượu vang khi giá của mặt hàng này thay đổi, bởi vì chúng cùng có cùng mục đích sử dụng nhưng lại tiết kiệm hơn trong khi độ gây say cũng không khác biệt Vì vậy,

có nhiều khả năng rượu vang và bia đặc biệt nhập khẩu là sản phẩm cạnh tranh hoặc thay thế trực tiếp cho nhau

Nếu bia đặc biệt và rượu vang là những sản phẩm cạnh tranh hay thay thế trực tiếp cho nhau thì biện pháp đánh thuế tiêu thụ đặc biệt của Newland là các mức thuế khác nhau hay không?Trong vụ Japan- alcoholic tại đoạn 5.1, Ban hội thẩm nhận định rằng sự khác biệt về thuế trong câu hai của Điều III:2 phải được khẳng định tùy thuộc vào biên độ khác biệt giữa 2 mức thuế áp dụng đối với sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu phải cao hơn biên độ tối thiểu nào đó và mức tối thiểu sẽ được xác định căn cứ vào từng vụ việc cụ thể Như vậy, việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu vang (sản phẩm nội địa) là 15% trong khi là 30% đối với bia đặc biệt (sản phẩm nhập khẩu) rõ ràng khác nhau và có thể vượt quá mức nhỏ nhất – de minimis (chênh lệch 15 %) Như vậy việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hai sản phẩm như trên là rõ ràng không giống nhau và vượt qua mức nhỏ nhất theo quy định tại Đ III:2 câu hai

Việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt khác nhau đối với 2 sản phẩm nội địa và nhập khẩu như trên

có nhằm mục đích tạo ra sự bảo hộ nền sản xuất nội địa hay không? Tại đoạn 6.33 báo cáo của Ban hội thẩm trong vụ Japan – Alcoholic Beverages có nhận định: nếu các sản phẩm cạnh tranh hoặc có thể thay thế được cho nhau không được đánh thuế giống nhau, và nếu mức thuế này theo hướng ưu đãi cho sản phẩm nội địa thì có thể kết luận rằng sản phẩm đó nhận được sự bảo vệ từ quốc gia nhập khẩu Ngoài ra, Theo kết luận của cơ quan phúc thẩm trong vụ Japan – Alcoholic thì ngoài việc đánh thuế cao hơn mức tiêu chuẩn tối thiểu thì còn phải thỏa điều kiện nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước và phải căn cứ vào việc phân tích cẩn thận của từng tình tiết có liên quan và hoàn cảnh có liên quan Cơ quan phúc thẩm trong

vụ trên kết luận rằng : “ mục đích nhằm bảo hộ không phải là ý định mà là cách thức mà biệnpháp đó được áp dụng trên thực tế, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu phải đánh giá một cách khách quan và toàn diện về cơ cấu và cách thức áp dụng biện pháp thuế nội địa đối với hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước đang bị tranh chấp” Như vậy một biện pháp bị cấm theo điều III:2 câu hai có thể là một biện pháp de facto Xét trường

Trang 10

hợp của Newland có thể thấy bia đặc biệt bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt 30% cao hơn mức thuế 15% đánh lên rượu vang, mà tại Newland thì bia đặc biệt là hàng hóa nhập khẩu, còn rượu vang là sản phẩm nội địa Như vậy đã có sự ưu đãi về thuế đối với sản phẩm nội địa và

đó là sự bảo vệ của quốc gia nhập khẩu Ngoài ra quy định đánh thuế của Newland có thể thấy là một biện pháp de facto, về mặt câu chữ không hề có sự phân biệt đối xử giữa hàng nộiđịa và hàng nhập khẩu tuy nhiên khi áp dụng trên thực tế thì lại tạo ra sự phân biệt và một biện pháp phân biệt đối xử de facto vẫn bị cấm theo luật WTO Tóm lại quy định về đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên bia đặc biệt và rượu vang là một biện pháp nhằm mục đích tạo ra sựbảo hộ cho nền sản xuất nội địa

KẾT LUẬN

Biện pháp thuế tiêu thụ đặt biệt của Newland có khả năng vi phạm Điều III.2 GATT về đãi ngộ quốc gia đối với thuế nội địa Mặc dù mức thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng cho bia đặc biệtnhập khẩu rõ ràng vượt mức thuế này áp dụng cho rượu vang nội địa nhưng không dễ để chứng minh hai sản phẩm này là tương tự do khái niệm “tương tự” ở câu thứ nhất Điều III.2 phải được giải thích theo nghĩa hẹp Tuy vậy, hai sản phẩm này có khả năng là sản phẩm cạnh tranh hoặc thay thế trực tiếp cho nhau thuộc phạm vi của câu thứ hai cùng điều luật trên Mức thuế vượt quá đó thỏa mãn yêu cầu về ngưỡng tối thiểu cũng như cho thấy khả năng bảo hộ rượu vang nội địa

3 EC - ASBESTOS - "Sản phẩm tương tự"

Câu hỏi pháp lý (Issues):

1. “sản phẩm tương tự” trong phạm vi của Điều III.4 được giải thích như thế nào”?

2. Sợi PVA, cellulose và sợi thuỷ tinh có phải là các sản phẩm tương tự với sợi

chrysotile asbestos có chất gây ung thư theo Điều III.4 GATT 1994 hay không?

3. Sản phẩm có nền là xi măng chứa sợi PVA, cellulose và sợi thủy tinh có phải là các sản phẩm tương tự với sản phẩm có nền là xi măng chứa sợi chrysotile asbesto theo Điều III.4 hay không?

Quyết định (Holdings):

1. Phạm vi của "tương tự" tại Điều III.4 rộng hơn phạm vi của "tương tự" tại Điều III.2 câu thứ nhất, nhưng không rộng hơn phạm vi của cả hai nhóm sản phẩm ở cả hai câu của Điều III.2 GATT 1994 Khi giảij thích "các sản phẩm tương tự", cả bốn tiêu chí - tính chất vật lý, công dụng cuối cùng, thị hiếu, thói quen của người tiêu dùng và phân loại thuế quan phải được phân tích hết, vì các tiêu chí này tạo thành bộ khung để phântích "tính tương tự" của các sản phẩm cụ thể trên cơ sở từng vụ việc

Trang 11

2. Không Sợi PVA, cellulose và sợi thuỷ tinh không phải các sản phẩm tương tự với sợi chrysotile asbestos theo Điều III.4 GATT 1994 vì tính chất vật lý của sợi chrysotile asbestos gây ra các nguy cơ sức khỏe do có chất gây ung thư, ngoài ra, các sản phẩm này thuộc các phân loại thuế quan khác nhau, trong khi không đủ bằng chứng cho thấy các nhóm sản phẩm này có cùng công dụng cuối cùng và cùng thị hiếu, thói quencủa người tiêu dùng.

3. Không Sản phẩm có nền là xi măng chứa sợi PVA, cellulose và sợi thủy tinh không phải là các sản phẩm tương tự với sản phẩm có nền là xi măng chứa sợi chrysotile asbestos theo Điều III.4 Vì sợi chrysotile asbestos có chất gây ung thư, các nguy cơ sức khỏe có thể ảnh hưởng đến thị hiếu, thói quen của người tiêu dùng; trong khi không đủ bằng chứng cho thấy các nhóm sản phẩm có nền là xi măng chứa sợi PVA, cellulose và sợi thủy tinh có cùng công dụng cuối cùng hoặc cùng thị hiếu, thói quen người tiêu dùng, cho dù các sản phẩm này có cùng phân loại thuế quan

Sự kiện (Facts):

Pháp ban hành Nghị định số 96-113 về asbestos và các sản phẩm chứa asbestos Theo đó, asbestos và các sản phẩm chứa asbestos bị cấm Canada xuất khẩu các hàng hóa này vào Pháp và bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm nên đã khởi kiện tại cơ quan giải quyết tranh chấp WTO

Cơ sở (Rationale):

“sản phẩm tương tự” trong phạm vi của Điều III.4 không thể được giải thích tương đồng với thuật ngữ này ở Điều III.2 cho dù chúng xuất hiện trong cùng điều luật, thay vào đó phải được giải thích phù hợp với điều III.1 – nguyên tắc chung để hiểu và giải thích các quy định tại Điều III “Sản phẩm tương tự” tại Điều III.4 về cơ bản phải được xác định dựa trên bản chất và mức độ của mối quan hệ cạnh tranh giữa các sản phẩm Hơn nữa, “sản phẩm tương tự” tại Điều III.2 được đặt trong bối cảnh tại câu thứ hai của điều luật này đề cập đến khái niệm “sản phẩm cạnh tranh hoặc thay thế trực tiếp” trong khi “sản phẩm tương tự tại Điều III.4 đứng một mình Vì vậy, phạm vi “tương tự” tại điều III.4 rộng hơn phạm vi “tương tự” tại Điều III.2 câu thứ nhất nhưng không rộng hơn phạm vi của các sản phẩm được đề cập ở

cả hai câu trong Điều III.2

Có bốn yếu tố được sử dụng để xác định “tương tự”: (i) cấu tạo, bản chất và chất lượng của các sản phẩm, (ii) công dụng cuối cùng của sản phẩm – mức độ mà các sản phẩm có thể có công dụng hoàn toàn giống hoặc tương tự, (iii) thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng – người tiêu dùng có nhận thức và đối xử với các sản phẩm như là những phương tiện thay thếcho nhau để thỏa mãn một nhu cầu cụ thể, và (iv) phân loại thuế quan của sản phẩm Các yếu

tố này tạo ra bộ khung để phân tích tính “tương tự” của sản phẩm cụ thể trên cơ sở từng vụ việc Mặc dù các yếu tố trên về nguyên tắc cho thấy các khía cạnh khác nhau của sản phẩm

mà cần thiết phải được xem xét độc lập, các yếu tố khác nhau này vẫn có sự liên quan đến nhau

Trang 12

Tính chất vật lý của sản phẩm phải được xem xét độc lập chứ chứ không thể lẫn lộn với xem xét về công dụng cuối cùng Tính gây ung thư, hoặc độc tố tạo thành một đặc tính xác định trong tính chất vật lý của sợi chrysotile asbestos Các bằng chứng cho thấy sợi PVA, cellulose

và sợi thuỷ tinh, ngược lại không có chung đặc tính đó Nguy cơ đến sức khỏe của sợi

chrysotile asbestos không thể bị loại trừ ra khỏi đánh giá tính chất vật lý của sản phẩm này Canada không đưa ra được bằng chứng cho yếu tố công dụng cuối cùng cũng như thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng để cho thấy sợi chrysotile asbestos và sợi PVA, cellulose và sợi thuỷ tinh có mối quan hệ cạnh tranh Vì vậy sợi chrysotile asbestos và PVA, cellulose và sợi thuỷ tinh không phải là những “sản phẩm tương tự”

Áp dụng tiêu chí tương tự như vậy khi xem xét sản phẩm có nền là xi măng chứa sợi PVA, cellulose và sợi thủy tinh có phải là các sản phẩm tương tự với sản phẩm có nền là xi măng chứa sợi chrysotile asbestos Khi đánh giá tính chất vật lý của hai nhóm sản phẩm, không thể

bỏ qua yếu tố một nhóm có chứa sợi có khả năng gây ung thư cao trong khi nhóm kia thì không Từ đó, sự hiện diện của chất gây ung thư trong sản phẩm chắc chắn ảnh hưởng đến thịhiếu và thói quen của người tiêu dùng Vì vậy, hai nhóm sản phẩm này không thể là những

“sản phẩm tương tự”

4 PHÂN TÍCH PHÁP LÝ: NEWLAND - GIẤY PHÉP BÁN BIA

Nhóm(K10502): Phạm Thị Xuân Phúc, Châu Hùng Phát, Trần Phụng Kiều, Bùi Thị Thanh Xuân

VẤN ĐỀ PHÁP LÝ

Quy định của Newland buộc bia chỉ được bán bởi thương nhân có giấy phép bán bia và không được bán ở siêu thị trong, trong khi không áp dụng quy định này cho rượu vang nội địa, có phải là biện pháp vi phạm III.4 GATT về đối xử quốc gia hay không?

TRẢ LỜI VẮN TẮT

Đúng Quy định của Newland buộc bia chỉ được bán bởi thương nhân có giấy phép bán bia

và không được bán ở siêu thị là biện pháp đối xử kém thuận lợi hơn rượu vang nội địa là hàng hóa tương tự, vi phạm Điều III.4 GATT về đối xử quốc gia

SỰ KIỆN

Newland là nước sản xuất rượu vang và có truyền thống uống rượu vang Khi gia nhập WTO,bia bắt đầu được bán nhiều hơn ở Newland do nhập khẩu Richland là nước xuất khẩu số lượng lớn bia vào Newland Newland ban hành quy định về phân phối bia, theo đó bia chỉ được bán bởi thương nhân có giấy phép bán bia, không được bán ở siêu thị

Quy định này không áp dụng cho rượu vang

Trang 13

PHÂN TÍCH

Để giải quyết vấn đề pháp lý nêu trên, cần trả lời hai câu hỏi pháp lý sau:

Thứ nhất, bia nhập khẩu và rượu vang nội địa có phải là sản phẩm tương tự theo điều III.4 GATT không? Khái niệm về “sản phẩm tương tự” được quy định nhiều lần trong các điều luật của GATT 1994, tuy nhiên không có định nghĩa cụ thể mà nó được giải thích trên cơ sở của từng vụ việc, thông qua các án lệ của GATT/WTO Cơ quan Phúc thẩm trong vụ Japan – Alcoholic Beverages II giải thích khái niệm “sản phẩm tương tự” như “đàn accordion kéo ra

và thu lại ở các nơi khác nhau khi các quy định khác nhau của Hiệp định WTO áp dụng” Theo đó, “tương tự” được giải thích tùy thuộc vào các hoàn cảnh khác nhau khi các điều luậtkhác nhau của các hiệp định WTO được áp dụng Sản phẩm tương tự trong điều III.4 GATT được giải thích theo nghĩa rộng hơn so với sản phẩm tương tự ở Điều III.2 câu thứ nhất, nhưng không rộng hơn phạm vi của cả sản phẩm tương tự và sản phẩm cạnh tranh thay thế trực tiếp trong hai câu của Điều III.2 EC – Asbestos, AB Report, đoạn 99 Các yếu tố cần được xem xét là các tính chất vật lý của sản phẩm (bản chất, cấu tạo, chất lượng ), công dụng cuối cùng, thị hiếu của người tiêu dùng, và phân loại thuế quan của sản phẩm Japan – Alcoholic Beverages, AB report, phần H 1 (a) Bia và rượu vang đều là những loại thức uống

có cồn; có cùng công dụng cuối cùng là được sử dụng để uống, có thể được sử dụng để nấu ăn… Người tiêu dùng đều có thể biết đến bia, rượu vang và có thể lựa chọn 2 sản phẩm này Bia và rượu vang có thể coi là sản phẩm tương tự trong phạm vi của Điều III.4 GATT

Thứ hai, quy định bia nhập khẩu chỉ được bán bởi các thương nhân có giấy phép bán bia,

không được bán ở siêu thị có được xem là đối xử kém thuận lợi hơn rượu vang nội địa hay không? Nghĩa vụ đối xử quốc gia là một nguyên tắc chung, cấm việc sử dụng của các loại thuế trong nước và các biện pháp điều chỉnh khác để cung cấp sự bảo hộ cho sản phẩm trong nước Mục tiêu chính của điều này là để loại bỏ tính bảo hộ trong việc thi hành chính sách thuế trong nước và các biện pháp điều chỉnh khác liên quan đến thuế Cụ thể hơn, là để đảm bảo các biện pháp trong nước sẽ không được áp dụng cho các sản phẩm nhập khẩu hoặc trong nước, để bảo hộ cho hàng hóa trong nước; buộc các quốc gia thành viên WTO cung cấpmôi trường cạnh tranh công bằng cho các sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm trong nước Japan - Taxes on Alcoholic Beverages, AB Report, phần F Đối xử không kém thuận lợi hơn đòi hỏi cơ hội ngang nhau trong cạnh tranh cho hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa liên quan đến luật lệ hoặc quy định điều chỉnh mua bán, chào hàng, vận tải, phân phối hoặc sử dụng hàng hóa US – Session 337, đoạn 5.11 Cũng cần lưu ý là sự đối xử khác nhau không

có nghĩa và cũng không đủ là kém thuận lợi hơn, miễn là vẫn dành cho hàng hóa nhập khẩu

cơ hội cạnh tranh không kém thuận lợi hàng hóa nội địa tương tự Korea – Beef, đoạn 135 –

136 Quy định của Newland chỉ cho bia nhập khẩu được bán bởi thương nhân có giấy phép bán bia, không được bán ở siêu thị là một biện pháp để tạo sự bảo hộ cho sản phẩm trong nước Sản phẩm bia nhập khẩu đã bị đối xử kém thuận lợi hơn so với rượu vang nội địa khi

mà bia nhập khẩu bị đặt ra nhiều điều kiện bán hàng hơn – phải có giấy phép Thị phần cũng

bị giới hạn hơn so với rượu vang nội địa vì không được bán ở siêu thị - là nơi khách hàng dễ dàng tiếp xúc mà lựa chọn sản phẩm Quy định này của Newland tác động đến việc bán các loại bia trên ở thị trường nội địa, làm cho người tiêu dùng ít cơ hội tiếp cận bia nhập khẩu

Từ đó, giảm khả năng cạnh tranh của bia nhập khẩu so với rượu vang nội địa Quy định trên của Newland làm cho cơ hội cạnh tranh của bia nhập khẩu kém thuận lợi hơn so với rượu vang nội địa

Trang 14

KẾT LUẬN

Với các phân tích cho hai câu hỏi pháp lý nêu trên có thể đi đến nhận định rằng: quy định củaNewland về việc bia chỉ có thể được bán bởi thương nhân có giấy phép bán bia và không được bán ở siêu thị là sự đối xử kém thuận lợi hơn so với rượu vang nhập khẩu là hàng hóa tương tự, khi giới hạn cơ hội cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu này, theo đó vi phạm Điều III.4 GATT về đối xử quốc gia

5 TUNA/DOLPHIN II

Câu hỏi pháp lý (Issues):

Biện pháp của Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá ngừ đánh bắt bằng phương pháp gây hại đến cá heo

vi phạm Điều XI GATT 1994 cấm hạn chế số lượng hay vi phạm Điều III:4 GATT 1994 về đối xử quốc gia?

Quyết định (Holding):

Biện pháp của Hoa Kỳ không vi phạm Điều III:4 GATT 1994 về đối xử quốc gia vì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều III và Ghi chú cho Điều III vốn chỉ áp dụng cho sản phẩmnhập khẩu và cho sản phẩm nội địa tương tự chứ không phải để so sánh các chính sách, thực tiễn hay phương pháp không làm ảnh hưởng đến tính chất bên trong của sản phẩm

Biện pháp của Hoa Kỳ vi phạm Điều XI vì cấm nhập khẩu cá ngừ và sản phẩm cá ngừ từ bất

kỳ nước nào không đáp ứng được các điều kiện chính sách nhất định do Mỹ đặt ra

Sự kiện (Facts):

Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú 1972 cấm bất kỳ người nào hoặc tàu thuyền nào thuộc thẩm quyền tài phán của Hoa Kỳ sử dụng phương pháp đánh bắt cá làm tổn hại đến động vật biển có vú Tuy nhiên, việc ngẫu nhiên gây hại cho động vật biển có vú khi hoạt động đánh

cá được cho phép nếu tuân thủ các cam kết về điều kiện quy định trong giấy phép Giấy phépnày được cấp cho American Tunaboat Association kèm theo một số yêu cầu nhất định

Đạo luật này cũng cấm nhập khẩu vào Hoa Kỳ cá ngừ và các sản phẩm cá ngừ đánh bắt bằng phương pháp dẫn đến việc ngẫu nhiên giết hại hoặc làm bị thương nghiêm trọng đến động vậtbiển có vú vượt quá tiêu chuẩn của Hoa Kỳ Các nước xuất khẩu cá ngừ phải chứng minh công nghệ đánh bắt và tỉ lệ ngẫu nhiên bắt phải cá heo so sánh với tỉ lệ của Hoa Kỳ Đối với xuất khẩu cá ngừ vây vàng từ các nước đông Thái Bình Dương, một số các yêu cầu sau phải được thỏa mãn: (1) nước xuất khẩu phải thông qua luật điều chỉnh việc bắt ngẫu nhiên động vật có vú khi đánh bắt cá ngừ tương đương với Hoa Kỳ; (2) tỉ lệ bắt ngẫu nhiên cá heo của tàu thuyền các nước đánh bắt phải tương đương với tàu thuyền Hoa Kỳ; (3) tàu thuyền của

Ngày đăng: 16/09/2022, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w