ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT Câu 1: Nội dung định nghĩa vật chất của Lê nin và nêu ý nghĩa thế giới quan của định nghĩa... Câu hỏi 2: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.. Sự phá
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT Câu 1: Nội dung định nghĩa vật chất của Lê nin và nêu ý nghĩa thế giới quan của định nghĩa.
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựumới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết học trên cơsở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa
về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Định nghĩa trên bao hàm những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
- Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan,Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật, hiệntượng, mà nêu bật đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượngtrong thế giới hiện thực khách quan Đó là đặc tính “tồn tại với tư cách là thực tại kháchquan”, tồn tại ở ngoài ý thức con người và độc lập với ý thức Đặc tính này là dấu hiệu cơbản để phân biệt vật chất với cái không phải là vật chất
- Tính trừu tượng của phạm trù vật chất: Phạm trù vật chất khái quát đặc tính chungnhất của mọi khách thể vật chất xét trong quan hệ với ý thức nên về hình thức nó là cái trừutượng, nếu chỉ thấy tính trừu tượng, thổi phồng tính trừu tượng mà quên mất những biểuhiện cụ thể của vật chất thì không thấy vật chất đâu cả Vì thế, không được đồng nhất vậtchất với các dạng cụ thể của nó giống như quan niệm của các nhà duy vật trước Mác
Thứ hai, thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Với nội dung này, Lê nin đã làm rõ mối quan hệ giữa thực tại
khách quan và cảm giác rằng, thực tại khách quan là cái có trước ý thức, không phụ thuộcvào ý thức, độc lập với ý thức; còn cảm giác của con người là cái có sau vật chất, do vật chấtsinh ra, phụ thuộc vào vật chất Như vậy vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Vậtchất là nội dung, là nguồn gốc khách quan, là nguyên nhân phát sinh ra ý thức, ý thức là sảnphẩm của sự tác động của vật chất vào giác quan con người Tất cả những gì tồn tại kháchquan tác động vào giác quan đem lại cho con người trong cảm giác đều là vật chất
Thứ ba, Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Với nội dung này, Lênin đã chứng minh vật chất tồn tại khách
quan, nhưng không phải tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực dứi dạng các sự vật, hiện tượng và quá trình cụ thể, và con người bằng các giác quan của mình có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận biết được, có nghĩa, bằng những phương thức nhận thức khác nhau con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Vì vậy, về nguyên tắc, không có đối tượng vật chất nào không thể nhận biết, chỉ có những đối tượng vật chất chưa nhận thức được mà thôi.
* Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
- Giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường chủ nghĩaduy vật và biện chứng
- Khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật chất của chủnghĩa duy vật trước Mác và những biến tướng của nó trong trào lưu triết học tư sản hiện đại
- Chống lại tất cả các quan điểm duy tâm và tạo ra căn cứ vững chắc để nghiên cứu XH
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các nhà khoa học khi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại./.
Trang 2Câu hỏi 2: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa của lý luận
này trong nhận thức và hoạt động thực tiễn?
Thế giới xung quanh ta có vô vàn các sự vật hiện tương phong phú, đa dạng Nhưng dù phong phú và đa dạng đến đâu chăng nữa, chúng cũng chỉ thuộc một trong hai lĩnh vực: Vật chất và ý thức Vật chất theo quan điểm triết học Mác-Lênin, là tất cả những gì tồn tại bên ngoài độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở hoạt động thực tiển mang tính lịch sử–xã hội Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức Vật chất là cái có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức Ý thức là sản phẩm của quá trình PT của tự nhiên và lịch sử-xã hội Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo thế giới khách quan và bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn
Từ những cơ sở trên, khẳng định:
1 Vật chất có trước ý thức, sinh ra ý thức và quyết định ý thức:
- Vật chất tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào ý thức, còn ý thức là thuộc tínhphản ánh của một dạng vật chất có tổ chức cao (bộ óc người)
- Vật chất là nguồn gốc, động lực và mục đích của ý thức
- Trong đời sống xã hội thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Khi khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, chủ nghĩa duy vật biệnchứng đồng thời cũng vạch rõ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
2 Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với vật chất.
- Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh tích cực, chủ động và sáng tạo
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai khuynh hướng:
+ Khi ý thức phản ánh đúng quy luật khách quan thì nó đóng vai trò thúc đẩy sự vận động và
PT của thế giới hiện thực khách quan Trong trường hợp này ý thức giúp cho con người xác định đúng đắn mục tiêu, phương hướng, biện pháp tổ chức hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả.
+ Khi ý thức phản ánh không đúng quy luật khách quan thì lúc này nó sẽ làm kìm hãmsự vận động và phát triển của những điều kiện vật chất nhất định
Hiệu quả của sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thuộc vào các điều kiện sau:+ Những điều kiện vật chất cần thiết cho ý thức đó thực hiện
+ Trình độ phản ánh của ý thức đó đối với vật chất, nếu ý thức phản ánh càng đầy đủ,càng chính xác bao nhiêu thì hiệu quả tác động của nó càng cao bấy nhiêu
+ Mức độ xâm nhập của ý thức đó vào trong quần chúng nhân dân, mức độ xâm nhậpcủa ý thức càng lớn thì hiệu quả tác động của nó càng cao
3 Ý nghĩa phương pháp luận: Từ nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức, có thể thấy ý nghĩa của lý luận này trong nhận thức và
hoạt động thực tiễn, như sau:
Một là, trong nhận thức và hành động, con người phải xuất phát từ hiện thực khách quan,
tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, chống lại chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
Hai là, phải biết nhận thức và vận dụng quy luật khách quan một cách chủ động, sáng
tạo, phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ tiêu cực, thụ động
Ba là, chống bệnh chủ quan duy ý chí, không được chủ quan, nóng vội, phải xuất phát
từ thực tế khách quan, từ bản thân sự vật, phản ánh sự vật một cách trung thành, đúng quyluật khách quan để cải tạo thế giới khách quan Xuất phát từ ý nghĩa đó, Đảng ta đã chỉ rõmột trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của mình là phải “luônluôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”
Trang 3Câu 3 Nội dung và ý nghĩa phuơng pháp luận của nguyên lý về sự phát triển?
* Nội dung của nguyên lý về sự phát triển
Phép biện chứng duy vật bao gồm 2 nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biền và
nguyên lý về sự phát triển
Sự vận động và phát triển là biểu hiện của mối liên hệ Nguyên lý về sự phát triển chỉ
ra tính biện chứng của thế giới không tồn tại bất biến mà luôn vận động, biến đổi và PT
Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, phát triển là sự tiến lên từ thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Sự phát triển là sự biến đổi về chất, là kết quả của sự vận động tự thân Sự phát triển của thế giới mang tính khách quan, tính phổ biến và tính kế thừa.
Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật làm rõ những phương diện của sựvận động và phát triển; nguồn gốc, động lực của sự phát triển; cách thức phát triển vàkhuynh hướng phát trỉên
+ Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập làm rõ nguồn gốc và động lựccủa sự phát triển là do mâu thuẫn biện chứng( sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa cácmặt đối lập) Phép biện chứng duy vật chỉ ra nguồn gốc và động lực của sự phát triển là ởngay trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn vốn có của sự vật được giải quyết
+ Quy luật chuyển hoá từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất làm rõcách thức( nội dung ) của sự vận động và phát triển Nội dung của quy luật này làm rõ: Mọisự vật đều là thể thống nhất giữa chất và lượng Những biến đổi về lượng và biến đổi về chấtcó mối liên hệ hữu cơ Sự vận động và phát triển của sự vật từ những sự thay đổi về lượngdẫn đến sự biến đổi về chất
+ Quy luật phủ định của phủ định làm rõ khuynh hướng của sự phát triển: Sự pháttriển không diễn ra thẳng tắp, trơn tru bằng phẳng mà tiến lên theo khuynh hướng xoáy ốcđến vô tận thông qua nhưng chu kỳ phủ định biện chứng
Vì vậy, phép biện chứng duy vật là khoa học về sự phát triển chung nhất của tự nhiên,xã hội và tư duy Nguyên lý của sự phát triển đòi hỏi hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn phải quán triệt quan điểm phát triển
*Ý nghĩa phương pháp luận: Nguyên lý về sự phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật,
hiện tượng phải đặt nó trong quá trình vận động, phát triển; Chống quan điểm bảo thủ trì trệ, định kiến, tuyệt đối hoá Từ đó, tạo cơ sở để luôn luôn đổi mới Một mặt không chỉ thấy được sự vật như đang có mà phải thấy được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó Mặt khác, trong quá trình phát triển phải thấy được tính quanh co, phức tạp của nó, từ đó tránh bi quan chán nản trước những khó khăn tạm thời
Trong tư duy của chúng ta phải uyển chuyển, mềm dẻo và luôn được sửa đổi, bổsung, phát triển cho phù hợp với biến đổi của bản thân sự vật, hiện tượng của thực tiễnkhách quan, phải có quan điểm khoa học
………
Trang 4Câu 4: Nội dung, ý nghĩa quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
I Nội dung quy luật:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn)là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là “hạt nhân của phép biện chứng”.Bởi vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển
- Khái quát nội dung quy luật:
Mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên trong Mỗi sự vật, hiện tượng đềulà thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau Chính sự đấutranh của các mặt đối lập đó làm cho sự vật, hiện tượng vận động, phát triển
- Phân tích nội dung quy luật:
1 Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến.
- “Mặt đối lập”?
Mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng thay đổi, phát triển chống đối nhau, tráingược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật hiện tượng
Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có nhiều yếu tố, nhiều mặt, cấu thành, nhưng có haimặt đối lập cơ bản thống nhất với nhau quyết định kết cấu tạo thành sự vật, hiện tượng
2 Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau.
- Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập vừa có quan hệ thống nhất với nhau, vừa đấutranh lẫn nhau
- Khái niệm “thống nhất” trong quy luật biểu hiện: Các mặt đối lập liên hệ ràng buộcvới nhau, quy định lẫn nhau và làm tiền đề tồn tại của nhau
Khái niệm “thống nhất” trong quy luật này còn được hiểu là sự “đồng nhất”, nghĩa làcũng thừa nhận trạng thái ổn định của mối liên hệ của các mặt đối lập Đồng thời cũng thừanhận sự chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập
- Khái niệm “đấu tranh” của các mặt đối lập có nghĩa là các mặt đối lập bài trừ lẫnnhau, phủ định lẫn nhau Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp Quátrình đó có thể chia ra nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng của nó
- Về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Lênin viết: “Sựthống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện,tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệtđối, cũng như sự phát triển sự vận động là tuyệt đối” (V.I.Lênin toàn tập, T.29, Nxb Tiến bộ,Mátxcơva, 1981, tr.379 - 380) Sự thống nhất của các mặt đối lập có tính chất tạm thời,thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái đứng im của sự vật, bởi vì mọi sự vật, hiện tượngcụ thể đều có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong để nhường chỗ cho các sự vật, hiệntượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn, mới hơn về chất ra đời
Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện tượng đều có mâuthuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình phát triển của sự vật Tính tuyệtđối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên sự vận động, sự biến đổi liên tục của sự vật,
Trang 5hiện tượng Đấu tranh của các mặt đối lập là điều kiện quan trọng nhất, có tính quyết địnhđối với sự chuyển hóa của các mặt đối lập.
- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động vàphát triển của sự vật, hiện tượng
3 Sự chuyển hóa của các mặt đối lập.
- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là kết quả của quá trình đấu tranh của các mặt đối lập.
- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập được thực hiện ở giai đoạn chín muồi của mâuthuẫn Sự chuyển hóa diễn ra dưới nhiều hình thức và tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể
Hai hình thức khái quát nhất của sự chuyển hóa là:
+ Các mặt đối lập chuyển sang mặt đối lập của chính mình
+ Các mặt đối lập cũ bị xóa bỏ và hình thành các mặt đối lập mới trong sự vật mới
4 Phân loại mâu thuẫn: Thế giới phong phú, đa dạng và phức tạp, nhưng nhìn chung
có 4 loại mâu thuẫn cơ bản:
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài: Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn giữacác mặt, các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình cấu thành nên sự vật, hiện tượng Mâuthuẫn này giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫnbên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố, các thuộctính, các quá trình giữa sự vật, hiện tượng với nhau Mâu thuẫn này không giữ vai trò quyếtđịnh sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Nó chỉ có tác dụng ảnh hưởng khi liênhệ được với mâu thuẫn bên trong
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn phátsinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiện tượng và giữ vaitrò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn không cơ bản làmâu thuẫn phát sinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiệntượng và không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởng nhất định đến sự vận động, pháttriển của sự vật hiện tượng
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu: Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn
PT Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn phát sinh và không giữ vai trò quyết định nhưng gây ảnh hưởng nhất định đến sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn phát triển.
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng (loại mâu thuẫn này chỉ có tronglĩnh vực đời sống XH): Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp có lợi ích cơbản đối lập nhau Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cách mạng XH Mâu thuẫnkhông đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai tầng có lợi ích cơ bản không đối lập nhau Mâuthuẫn này được giải quyết bằng phương pháp hòa bình thông qua giáo dục và đổi mới XH
II Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp khoa học cho việc xem xét và giải quyếtcác vấn đề: phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn
- Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn Yêu cầu này đòi hỏi chúng ta, muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải biết phân tích các mặt đối lập của mâu thuẫn.
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và phải có biện pháp cụ thể để giảiquyết đối với từng loại mâu thuẫn
- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn: Bất kỳ mâu thuẫn nào, bất kỳ giaiđoạn nào của mâu thuẫn, cũng chỉ được giải quyết bằng con đường đấu tranh giữa các mặtđối lập, chứ không phải bằng con đường điều hòa giữa chúng
Trang 6Câu 5 : Nội dung và ý nghĩa phương pháp của cặp phạm trù cái riêng và cái chung
1 Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất.
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mốiliên hệ giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trìnhriêng lẻ nhất định
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chỉ có ởmột kết cấu vật chất nhất định, mà không lặp lại ở kết cấu khác
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
cho rằng cả cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan và quan hệ biện chứng với nhau
- Cái chung thì tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Điều đó có nghĩa là cáichung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Không có cáichung thuần túy, trừu tượng tồn tại bên ngoài cái riêng
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, bao hàm cái chung Điềuđó cho thấy là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa là cáiriêng hoàn toàn cô lập với cái khác mà bất cứ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ đưatới cái chung Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung màthông qua hàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng loại khác
- Cái chung là bộ phận của cái riêng, còn cái riêng không gia nhập hết vào cái chungvì vậy cái riêng phong phú hơn cái chung Bởi ngoài những đặc điểm gia nhập vào cáichung, cái riêng còn giữ lại những đặc điểm riêng biệt mà chỉ nó mới có Trong khi đó, cái chung phải là cái sâu sắc hơn vì nó phản ánh những mối liên hệ ở bên trong, phổ biến tồn tại trong cái riêng cùng loại, nó gắn liến với các cái riêng, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật.
- Trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiện nhất địnhcái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơnnhất Sỡ dĩ có tình trạng này là do trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủngay trong một lúc mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng đơn nhất cá biệt Nhưng theo quy luật,cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn thiện tiến tới trở thành cáichung Ngược lại, cái cũ ngày càng mất dần đi từ chỗ là cái chung biến dần thành cái đơn nhất.
- Trong phạm vi khái quát của con người, cái được xem là cái chung trong quan hệnày lại có thể được xem là cái riêng, cái đơn nhất trong quan hệ khác
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Không được tuyệt đối hóa cái chung hay cái riêng mà phải thấy được mối quan hệbiện chứng giữa chúng Nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ dẫn đến giáo điều chủ nghĩa, rậpkhuôn một cách máy móc Ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng thì sẽ dẫn đến chủ nghĩakinh nghiệm, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể phường hội, địa phương chủ nghĩa và chủnghĩa dân tộc hẹp hòi
- Trong nhận thức và thực tiễn để phát hiện cái chung cần phải xuất phát từ những cáiriêng, từ những sự vật, hiện tượng quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không được xuất phát từ ýmuốn chủ quan của chủ thể, và để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thì không lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, để tránh tình trạng sa vào mò mẫm tùy tiện.
- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất chuyểnhóa thành cái chung nếu cái đơn nhất đó có lợi, và cũng phải tạo điều kiện để cái chungchuyển hóa thành cái đơn nhất nếu cái chung đó là lạc hậu
Trang 7Câu 6: Quan điểm của Triết học Mác Lênin về phạm trù thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận.
Thực tiễn là phạm trù cơ bản của triết học nói chung và triết học Mác nói riêng Tronglịch sử triết học đã có nhiều quan điểm khác nhau về thực tiễn Các nhà triết học Duy tâmthường có xu hướng phủ nhận vại trò của thực tiễn, coi nó chỉ là yếu tố tinh thần, còn chủnghĩa duy vật trước Mác thì thường có xu hướng tách rời nhận thức khỏi thực tiễn và hạ thấpvai trò của thực tiễn, coi đó chỉ là hoạt động có tính chất buôn bán tầm thường
Trên cơ sở khắc phục những mặt hạn chế và tiếp thu những quan điểm hợp lý trướcđây về thực tiễn, Mác đã đưa ra những quan điểm khoa học và đánh giá vai trò của thực tiễnvới hoạt động nhận thức của con người
Mác đưa ra Khái niện về thực tiễn là Thực tiễn là một phạm trù triết học chỉ toàn bộhoạt động vật chất cảm tính mang tính lịch sử XH của con người nhằm cái biến tự nhiên và XH.
Hoạt động cảm tỉnh bao gồm các hoạt động vật chất, hoạt động tinh thần, lý luận, hoạtđộng đảm bảo sinh tồn nòi giống trong đó thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính đó lànhững hoạt động mà con người sử dụng các công cụ, các phương tiện để tác động vào thếgiới tư nhiên
Hoạt động thực tiễn nó có tính lịch sử xã hội: đây là những hoạt động của con ngườinó diễn ra trong một xã hội loài người và diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau ở nhữnggiai đoạn lịch sử khác nhau
Hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hộiđể phục vụ mục đích của con người
Các hình thức hoạt động thực tiễn:
Hoạt động lao động sản xuất vật chất: đó là toàn bộ các hoạt động lao động, sử dụngcông cụ lao động để tác động vào tư nhiện tạo ra vật chất, sản phẩm mới để phục vụ nhu cầuđời sống của con người
Hoạt động chính trị, xã hội: đó là hoạt động về NN, các hoạt động đấu trang giai cấp.Hoạt động thực nghiệm khoa học: Đó là hoạt động mà con người tạo ra môi trường nhân tạo giống môi trường tự nhiên để rút ngắn độ dài của quá trình nhận thức và cải tạo thế giới.
VD: Hoạt động cấy lúa trong môi trường thí nghiệm tương tự môi trường tự nhiên đểtừ đó xác định và tạo ra loại giống lúa tốt để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Trong ba hình thức thực tiễn trên thì hoạt động lao động sản xuất vật chất đóng vai tròquan trọng nhất vì nó là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển xã hội Đồng thời 2 hình thức cònlại thực chất nhằm phục vụ tốt hơn cho hoạt động sản xuất vật chất
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận: Triết học Mác khẳng định thực
tiễn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình nhận thức, lý luận của con người
- Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức, lý luận:
Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới để tìm kiếm những sảnphẩm phục vụ nhu cầu của mình Chính trong quá trình đó đã làm cho thế giới bộc lộ nhữngđặc điểm những thuộc tính của nó, và con người nắm bắt những thuộc tính này để hoàn thiệntrí thức về thế giới, xét cho cùng thì mọi trí thức của con người đều bắt nguồn từ thực tiễn
- Thực tiễn là động lực của nhận thức, lý luận:
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động cải tạo thế giới nhưng cũng đồngthời cải tạo và hoàn thiện bản thân mình, các giác quan của con người trở lên hoàn thiệnhơn, các khả năng tư duy của con người trở lên nhạy bén hơn do đó làm tăng khả năng nhậnthức của con người về thế giới
Trang 8Thông qua hoạt động thực tiễn, con người chế tạo ra những công cụ, phương tiện giúpnối dài các giác quan của mình để làm tăng khả năng nhận thức.
VD : Con người đã chế tạo ra kính thiên văn để từ đó có thể quan sát và tìm kiếm cáchành tinh khác ngoài trái đất
Thực tiễn đã đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển tiếp theo trong quátrình nhận thức Do đó làm thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nhận thức
VD: Khi xảy ra một bệnh dịch thì đặt các nhà y học phải tìm ra thuốc chữa và điều đóđã kích thích cho ngành y học phát triển
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận:
Mục đích của mọi quá trình nhận thức của con người đều quay trở lại phục vụ tốt hơncho nhu cầu của thực tiễn của con người Những trí thức kết quả của quá trình nhận thức chỉcó ý nghĩa thiết thực, nếu nhận thức không vì thực tiễn mà chỉ vì lợi ích cá nhân, vì chủnghĩa thành tích thì sớm muộn quá trình nhận thức sẽ bị mất phương hướng, sẽ phải trả giá:
VD: Bệnh thành tích trong giáo dục
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Do chân lý là những trí thức đúng nên theo quan điểm của triết học Mác thì thực tiễnlà tiêu chuẩn của chân lý, chỉ có trong thực tiễn và thông qua hoạt động thực tiễn thì conngười mới chứng minh tính đúng đắn của trí thức, vì chỉ qua thực tiễn con người mới nhậnthức hoá trí thức, mới hiện thực hoá được tư tưởng, có khả năng vật chất hoá được con người.
Tiêu chuẩn thực tiễn vừa có tính tương đối, vừa có tính tuyệt đối
Tính tương đối thể hiện ở chỗ bản thân thực tiễn luôn biến đổi Do đó khi thực tiễnthay đổi sẽ làm nhận thức cũng phải biến đổi cho phù hợp, nghĩa là không được tuyệt đốihoá nhận thức mà phải luôn kiểm nghiệm, bổ sung Thông qua thực tiễn, nhận thức được xem xét trong không gian càng rộng trong thời gian càng dài thì càng đảm bảo tính đúng đắn của nó.
Tính tuyệt đối của thực tiễn thể hiện ở chỗ: Xét đến cùng mọi lý thuyết khoa học đềuphải được kiểm nghiệm bởi thực tiễn, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêuchuẩn duy nhất để xác định tính chân lý
Thực tiễn có vai trò quan trọng đối với nhận thức do đó trong nhận thức của hoạt động thựctiễn cần có quan điểm thực tiễn:
Nhận thức sự vật phải gắn nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn.Nghiên cứu lý luận phải gắn với thực tiễn, học phải đi đôi với hành
Phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận.Phải luôn lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng, sai của lý luận
Phải tránh tuyệt đối hoá thực tiễn, coi thường lý luận vì khi đó sẽ rơi vào bệnh kinhnghiệm VD: Coi thường lớp trẻ
Đồng thời cũng tránh tuyệt đối hoá lý luận, coi thường thực tiễn để từ đó rơi vào chủnghĩa giáo điều lý thuyết suông
Trang 9Câu 7: Anh chị hãy làm rõ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất của triết học Mác – Lê nin?
Điểm yếu và thiếu của các nhà TH trước Mac là họ không thấy được vai trò của thựctiễn đối với sự tồn tại của XH cũng như với sự nhận thức và cải tạo XH, vì thế họ không giảithích được những động lực của sự phát triển một cách khoa học như quan điểm của Phoi – ơ– bắc – Nhà triết học Duy vật cao nhất trước Mac – vẫn xem thực tiễn có tính chất bẩn thỉucủa con buôn
Trái lại, TH Mac ra đời, một trong những thành tựu vĩ đại của nó là đã thấy được vai tròcủa thực tiễn, TH Mác là duy vật, nói một cách khác, nhờ vận dụng và quán triệt CNDVBCvào nghiên cứu XH, Mác đã giải quyết vấn đề XH một cách duy vật trên quan điểm thực tiễn.Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử XH của conngười nhằm cải tạo tự nhiên, XH và bản thân con người Hoạt động thực tiễn có nhiều loạinhưng có thể quy về 3 dạng chủ yếu là Hoạt động sx vật chất, Hoạt động Chính trị - XH vàHoạt động thực nghiệm khoa học Trong 3 dạng này còn có những dạng nhỏ khác, tồn tạitrong mối liên hệ biện chứng với nhau Diễn ra trong XH loài người, trong đó hoạt động sxvật chất giữ vai trò quyết định, bao giờ cũng là nền tảng XH Hoạt động nghệ thuật, giáodục,… là những hoạt động không cơ bản
Lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệbản chất, những qui luật của sự vật, hiện tượng Chủ tịch HCM đã khẳng định: “Nguyên tắcthống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất của CN MLN” chính sự khẳngđịnh này đã thể hiện vai trò, tầm quan trọng của nguyên tắc này trong hệ thống lý luận của
CN MLN, nó thể hiện mối liên hệ biện chứng, thể hiện vai trò lý luận của CN MLN: Khôngthể dừng lại ở mức độ nhận thức mà phải cải tạo XH theo đúng nhận thức khoa học, chỉ rõnguồn gốc của sự hình thành và phát triển của lý luận
*Yêu cầu cơ bản của nguyên tắc:
- Thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích và tiêu chuẩn của lý luận Lý luận hìnhthành và phát triển được xuất phát từ thực tế và đáp ứng nhu cầu của thực tiễn
- Thực tiễn là yêu cầu của chân lý, thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưngkhông phải mọi lý luận đều là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn chỉ là tiêu chuẩn của chân lýkhi nó đạt đến tính toàn vẹn của nó, nghĩa là nó đã trải qua quá trình vận động, tồn tại, pháttriển và chuyển hóa
- Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận, ngược lại lý luận phải được vận dụng vàothực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn Trước hết phải khẳng định rằng thựctiễn là cơ sở của lý luận nhưng khi lý luận đã ra đời với tư cách là kim chỉ nam thì lý luận đóphải quay trở lại chỉ đạo thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lýluận, phương pháp, biện pháp thực hiện
- Lý luận mang tính khái quát cao song không thể vượt ra khỏi những điều kiện lịch sửcụ thể, vì vậy khi vận dụng vào thực tiễn chúng ta phải xem xét một cách cụ thể mỗi tìnhhình cụ thể Nói cách khác chúng ta phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi vận dụng lý luậnvào thực tiễn
- Lý luận vẫn có thể bị lạc hậu so với thực tiễn, khi vận dụng vào thực tiễn cần bổ sung,điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn, vì vậy tính năng động của lý luận là để điều chỉnh phùhợp với thực tiễn Về vấn đề này, Lenin đã tổng kết “Thực tiễn cao hơn nhận thức”
Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là rấtquan trọng, chỉ đạo sự phát triển của chúng ta Lý luận phải luôn luôn bám sát thực tiễn,
Trang 10phản ánh được yêu cầu của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn Việcquan trọng đối với hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người: phải bám sát vào thựctiễn để khái quát, rút ra được những kinh nghiệm từ thực tiễn, thống nhất được lý luận vàothực tiễn Thực tế của con đường xây dựng CNXH ở VN đã chứng minh cho ý nghĩa phươngpháp luận này Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác lý luận VN hiện nay làđẩy mạnh việc tổng hợp thực tiễn, mọi lĩnh vực đều phải tổng hợp thành lý luận, bổ sung lýluận, một trong những sức mạnh của TT HCM, MLN là thường xuyên tổng hợp lý luận.Hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, khi vận dụng lý luận phải phù hợp điềukiện lịch sử cụ thể Phải khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Bệnh kinh nghiệmlà sự tuyệt đối hóa những kinh nghiệm thực tiễn trước đây và áp dụng máy móc vào thựctiễn hiện nay mặc dù nó đã thay đổi Vi phạm quan điểm lịch sử cụ thể, đây chính là tư duysiêu hình, không thấy được sự vận động của lịch sử - XH dẫn đến xem thường lớp trẻ -những người được xem là ít kinh nghiệm thực tiễn.làm mất đi tính sáng tạo, chủ động tronghoạt động thực tiễn của con người Do vậy nó chính là bệnh xem thường lý luận Để khắcphục bệnh này thì không được xa rời thực tiễn, phải bám sát thực tiễn, phải tăng cường họctập, nâng cao trình độ lý luận, bổ sung lý luận thường xuyên để đáp ứng với sự thay đổi củathực tiễn Bệnh giáo điều là bệnh tuyệt đối lý luận, tuyệt đối hóa kiến thức đã có trong sáchvở, coi nhẹ kinh nghiệm thực tiễn, vận dụng lý luận mọt cách máy móc, không tính đến hoàncảnh lịch sử cụ thể, nguyên nhân là do hiểu lý luận một cách nông cạn, chưa nắm được bảnchất của lý luận, vận dụng những lý luận chưa được vận dụng vào thực tiễn, chưa được kiểmnghiệm nên vẫn chỉ là lý luận thuần túy Và mọt sách, sính lý luận đã thành đường mòntrong những cán bộ do vận dụng sai lý luận vào thực tiễn, chỉ thấy cái chung mà không thấycái riêng, cái cụ thể Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của hàng loạtnước XHCN ở Liên Xô (cũ) và Đông âu Để khắc phục bệnh giáo điều cần quán triệt sâu sắcnguyên tắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Lý luận luôn gắn với thực tiễn và phảivận dụng lý luận một cách sáng tạo vào thực tiễn, kiểm tra trong thực tiễn và không ngừngphát triển trong thực tiễn.
Tóm lại, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã được HCM khẳng định:
“Đây là một trong những nguyên tắc căn bản của CN MLN, thực tiễn không có lý luậnhướng dẫn thì thực tiễn mù quáng, nếu lý luận không liên hệ thực tiễn thì đó là lý luậnsuông” Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nội dung cơ bảncủa CN MLN, đây không chỉ là nguyên tắc đề xuất trong nhận thức lý luận mà còn là lý luận
CN MLN trong quá trình hình thành tri thức khoa học, tri thức lý luận và phương pháp luậntrong hoạt động cải tạo hiện thực khách quan vì mục đích tiến bộ XH
Trang 11Câu 8: Phê phán bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình xây dựng ở nước ta hiện nay?
* Khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay:
- Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa:
+ Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa là hai căn bệnh tư tưởngmà cán bộ, đảng viên chúng ta ít nhiều đã mắc phải trong quá trình xây dựng CNXH Đó làkhuynh hướng tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn, từ đó thỏa mãn, coi trọng trình độ kinhnghiệm, hạ thấp hoặc không am hiểu lý luận, coi thường khoa học, ngại học, tuyệt đối hóakinh nghiệm theo kiểu "trăm hay không bằng tay quen"
+ Sự yếu kém về lý luận, hoặc xem nhẹ lý luận cũng sẽ dẫn đến sự tiếp thu chủ quanlý luận khoa học nói chung và chủ nghĩa Mác- Lê nin nói riêng nên người cán bộ, đảng viên
dễ rơi vào đơn giản, phiến diện, cắt xén, sơ lược, không đến nơi đến chốn Từ đó cũng dẫnđến sự áng chừng, đại khái, thiển cận, thiếu chính xác, thiếu chặt chẽ trong công việc; ngườicán bộ, đảng viên dễ dẫn đến coi thường chất xám, coi thường giới trí thức, coi thường độingũ cán bộ khoa học- kỹ thuật, rơi vào bảo thủ, trì trệ, không chịu đổi mới, không dám độtphá sáng tạo trong nhận thức, hành động cách mạng Điều đó dẫn đến hệ lụy khác trongđánh giá, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ thì dễ dẫn đến cách nhìn nhận, đánh giá lấy quá trình, quákhứ, kinh nghiệm để làm tiêu chuẩn công tác cán bộ, từ đó dấn đến đào tạo, sản sinh ra mộtloại cán bộ kiểu "sống lâu lên lão làng"
- Bệnh giáo điều chủ nghĩa:
+ Đó là sự tuyệt đối hóa lý luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận làchuẩn mực, nhất thành bất biến, thậm chí tách nó khỏi thực tiễn và áp dụng một cách máymóc, rập khuôn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể
+ Biểu hiện của bệnh giáo điều ở cán bộ, đảng viên đó là: giáo điều về lý luận và giáođiều về kinh nghiệm, hành động Từ đó, trong lý luận thì bệnh "mọt sách", kiểu "tầm chươngtrích cú", hiểu lý luận một cách trừu tượng, không nắm vững bản chất, không gắn với thựctiễn và tính lịch sử cụ thể Trong hành động thì áp dụng một cách máy móc, rập khuôn kinhnghiệm của người khác, thực tiễn khác vào địa phương, đơn vị mình
- Để phê phán, khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và giáo điều chủ nghĩa, người cán bộ, đảng viên cần phải:
+ Coi trọng cả lý luận và thực tiễn, đặt nó trong tính thống nhất, biện chứng giữa lýluận và thực tiến; không ngừng bồi dưỡng, đổi mới, nâng cao lý luận Coi trọng lý luận vàcông tác lý luận trên cơ sở của CN Mác- Lê nin và TT HCM làm kim chỉ nam cho mọi hành động.
+ Đổi mới tư duy lý luận, khắc phục các hạn chế, lạc hậu của lý luận, đưa khoảngcách lý luận và thực tiễn xích lại gần nhau Thường xuyên đối chiếu lý luận vào hoàn cảnhthực tiễn, vận dụng nó vào hoàn cảnh thực tiễn của địa phương, đơn vị một cách sáng tạo
* Phần liên hệ ở địa phương, đơn vị:
- Nêu rõ những biểu hiện của cán bộ, đảng viên mắc phải bệnh kinh nghiệm chủ nghĩavà bệnh giáo điều chủ nghĩa trên cơ sở những ví dụ cụ thể, thể hiện qua:
+ Xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội;
+ Qua công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
- Đánh giá về hậu quả sai lầm và nguyên nhân của nó;
- Phương hướng khắc phục sai lầm trong công cuộc XD CNXH nói chung và giaiđoạn đổi mới, hội nhập hiện nay
Trang 12Câu 9: Quan điểm của triết học Mac-lênin về mối quan hệ Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
LLSX và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất Chúng có mối quan hệ biện
chứng với nhau, tạo thành quy luật: Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội.
Lực lượng sản xuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất,
chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
- Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, thể hiện năng lực thực tiễn của con người LLSX bao gồm: người lao động (với sức lao động và kĩ năng lao động của họ) và tư liệu sản xuất (gồm tư liệu lao động, đối tượng lao động).
+ Người lao động là những người trong độ tuổi lao động đủ điều kiện tham gia vào quá trình
sản xuất của cải cho xã hội: có nhu cầu lao động, đủ sức khoẻ, độ khéo léo trong quá trình lao động, đủ khả năng tiếp thu những công nghệ kĩ thuật mới, có ý thức nghề nghiệp, có văn hoá người lao động,… để tạo nên năng suất lao động xã hội ngày càng cao.
+ Tư liệu lao động là những vật phẩm, những yếu tố, điều kiện để con người tác động vào
đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm trong quá trình sản xuất Tư liệu lao động gồm: Công cụ lao động và các phương tiện khác phục vụ quá trình sản xuất,
Công cụ lao động là bộ phận cách mạng nhất của tư liệu sản xuất Trình độ của lực lượng
sản xuất thể hiện rõ nhất ở trình độ của công cụ lao động Quá trình phát triển của khoa học công nghệ thực chất lấy việc phát triển công cụ lao động làm trung tâm
Các phương tiện khác phục vụ quá trình sản xuất làm điều kiện phục vụ quá trình sản xuất
tuy nó không đóng vai trò quyết định nhưng khổng thể thiếu
+ Đối tượng lao động là toàn bộ những vật phẩm chịu sự tác động của công cụ lao động để
trực tiếp hình thành sản phẩm, bao gồm: Đối tượng LĐ tự nhiên và đối tượng lao động nhân tạo.
Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người, là khả năng tạo ra sức sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người.
Quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ về phân phối sản phẩm làm ra.
Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất chính của toàn xã hội thể hiện quyền hợp pháp của cá nhân hay cộng đồng đối với tư liệu sản xuất Có 2 loại quan hệ sở hữu trong lịch sử phát triển của nhân loại: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của LLSX: Trong một phương
thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thống nhất với nhau Tính thống nhất này tạo nên sự ổn định và phát triển bền vững của phương thức sản xuất.
LLSX đóng vai trò quyết định, bao gồm các yếu tố luôn luôn biến động và phát triển không ngừng, đến một trình độ nhất định thì sẽ không còn phù hợp với kiểu QHSX đặc trưng hiện có Do vậy, lực lượng sản xuất có vai trò quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với nó
Quan hệ sản xuất tuy phụ thuộc vào lực lượng sản xuất nhưng cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại LLSX Quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” một cách giả tạo, không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của LLSX sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Đó là quy luật cơ bản nhất, tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại.
Trang 13Câu 10 Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX trong quá trình đổi mới ở VN?
LLSX là sự kết hợp giữa người lao động với TLSX mà trước hết là công cụ lao động.QHSX là quan hệ giữa người với người trong quá trình SX vật chất
Giữa LLSX và QHSX có mối quan hệ biện chứng với nhau theo QL QHSX phù hợpvới t/c và trình độ phát triển của LLSX
Thể hiện: LLSX quyết định QHSX biểu hiện ở 3 phương diện: LLSX quyết định tínhchất qhsx, QĐ sự ra đời và biến đổi của qhsx; QĐ các hình thức kinh tế của QHSX Nhưngqhsx cũng có sự tác động trở lại đối với LLSX , biểu hiện: Nó quy định mục đích XH củanền sx; quy định khuynh hướng phát triển của quan hệ lợi ích; hình thành 1 hệ thống nhữngyếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của LLSX
Đây là quy luật chung cơ bản quy định sự vận động và phát triển của lịch sử xã hội
Do vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội đòi hỏi mỗi quốc gia, trong mỗi thời kỳlịch sử nhất định phải xuất phát từ thực trạng của nền SX vật chất, nhận thức và giải quyếtđúng đắn các vấn đề XH và vận dụng đúng QL vận động và phát triển của XH
Đảng và Nhà nước ta lựa chọn và xác định xây dựng đất nước theo con đường đi lênCNXH; muốn đi lên CNXH tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ Trước năm 1986, do đấtnước mới hoàn toàn được độc lập, VN xây dựng nền kinh tế XHCN theo kế hoạch tập trungbao cấp, ở giai đoạn này có một số vấp váp, sai làm trong vận dụng QL khách quan, như:
+ Đã chủ quan, nôn nóng, muốn công nghiệp hóa nhanh chóng, cải tạo nhanh chóngnền kinh tế, xây dựng nền sx lớn XHCN bằng ý chí chủ quan
+ chưa nhận thức và vận dụng đúng QL khách quan thời kỳ quá độ, đặc biệt là QLqhsx phù hợp với trình độ phát triển của LLSX Nóng vội xây dựng ngay qhsx XHCN trongkhi LLsx ở trình độ thấp, ý thức tự giác của người lao động chưa cao, việc tổ chức quản lýmang tính hình thức, không chú trọng hiệu quả kinh tế; phân phối bình quân, cào bằng làmtriệt tiêu động lực lợi ích người lao động…làm kìm hãm sự phát triển của LLSX
+ Duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung bao cấp quan liêu với KTTT đồ sộ, tạo gánhnặng vượt quá sức chịu đựng của CSHT kinh tế, làm nền kinh tế mất tính năng động
ĐHĐBTQ lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu mốc quan trọng là thực hiện đổi mới mọimặt đời sống XH, khắc phục những sai lầm trong thời kỳ tập trung bao cấp, chuyển đổi cơchế quản lý kinh tế nhằm tạo ra sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX Sự vận dụng quy luật khác quan thể hiện ở nội dung cơ bản là phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng XHCN trong điều kiện mới:
+ Thực chất đó là cuộc c/m về QHSX , thực hiện nhiều thành phần kinh tế với nhiềuhình thức sở hữu, phù hợp với thực trạng LLSX nước ta còn nhỏ yếu, trình độ XH hóa sxthấp, ở nhiều trình độ khác nhau
+ Giải quyết vấn đề QHSX 1 cách đồng bộ, phù hợp trên cả 3 mặt là sở hữu, tổ chứcquản lý và phân phối, thực hiện nhiều hình thức sở hữu, tổ chức, phân phối nhằm tạo độnglức phát huy vai trò làm chủ, tính sangts tạo của người lđ, sử dụng và khai thác tiềm năngphát triển K.tế
+ T/hiện CN hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế nhằm kết hợp sức mạnh dtvới sức mạnh thời đại, hiện đại hóa LLSX
Sau hơn 25 năm đổi mới, do vận dụng quy luật khách quan đã tạo cho nền kinh tế đấtnước có bước ngoặt phát triển là cơ sở vững chắc để hướng tới mục tiêu XHCN Tuy nhiên