1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương Ôn Thi TN Trung cấp LLCT Khối kiến thức I

113 115 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương Khối kiến thức I: (Triết, Kinh tế chính trị,CNXHKH, Tư Tưởng HCM, Tình hình Kinh tế Chính trị Xã Hội địa Phương tỉnh Bình Dương) Có phân tích và ví dụ rõ ràng, áp dụng cho học viên trung cấp lý luận chính trị

Trang 1

TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

TỔNG HỢP BÁO CÁO – SỐ LIỆU & NGHỊ QUYẾT

KT1 C2

Thành phố Thủ Dầu Một - 2020

Trang 2

NGÀY THI THỨ NHẤT (TRIẾT, KINH TẾ CHÍNH TRỊ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ

MINH, KTCTXH TỈNH BÌNH DƯƠNG) Câu 1: Đồng chí hãy vận dụng quy luật phủ định của phủ định trong trong triết học Mác Xít Để phân

tích con đường phát triển của Cách mạng 2

Câu 2: Đồng chí hãy phân tích mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù cái chung và cái riêng từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận vận dụng cặp phạm trù này vào Phân tích chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ qua 3

Câu 3 Đảng ta khẳng định xây dựng giai cấp c ng nhân nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng 11

Câu 4: Theo quan điểm của triết học mác-lênin từ đó li n hệ việc đổi mới kinh tế gắn với đổi mới chính trị ở tỉnh Bình Dương 15

Câu 5: Đồng chí hãy phân tích những phương hướng cơ bản nhằm thực hiện thành công các mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta 17

Câu 6: Đồng chí hãy vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong triết học Mác nin để phân tích những mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 21

Câu 7: Đồng chí hãy phân tích những bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về những đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 22

Câu 8:Đồng chí hãy phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan và nguyên tắc phát huy tính năng động và sáng tạo của ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật mác xít Liên hệ sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1976 đến nay 25

ÔN THI TỐT NGHIỆP PHẦN I.1: KINH TẾ CHÍNH TRỊ 30

NỘI DUNG 1: SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ 30

QUY UẬT GIÁ TRỊ TRON NỀN SẢN XUẤT HÀN HÓA 36

NỘI DUNG 2+3: QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THĂNG DƯ, TỶ SUẤT GTTD (T146-sgk) 41

NỘI DUNG 4: TÍCH LŨY TƯ BẢN 49

Câu hỏi : Phân tích thực chất của TSX mở rộng (bc của tích lũy tư bản) Vì sao các chủ thể kinh tế việt nam phải quan tâm đến tái sản xuất mở rộng? 49

NỘI DUNG 5: XUẤT KHẨU TƯ BẢN (Tài liệu K72) 52

TTĐHCM: ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN CNXH 67

VẤN ĐỀ BA: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠ ĐOÀN KẾT 70

ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG 78

BÀI 2: NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘN CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN 88

NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRON ĐẢNG CỘNG SẢN 91

NGUYÊN TẮC ĐOÀN KẾT TRON ĐẢNG CỘNG SẢN 95

BÀI 3: NỘ DUN VÀ PHƯƠN THỨC Lãnh ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRON Đ ỀU KIỆN ĐẢNG CẦM QUYỀN 97

Phần 2 bài 1 học thuyết mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Những nguyên lý Đảng kiểu mới của Lênin 100

KHỐI KIẾN THỨC THỨ NHẤT PHẦN 1 CHẤM 2 101

Trang 3

Câu 1: Đồng chí hãy vận dụng quy luật phủ định của phủ định trong trong triết học Mác Xít

Để phân tích con đường phát triển của Cách mạng

Trả lời:

Khái niệm phủ định biện chứng

Là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tự phủ định sự phủ định tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của

sự vật sự phủ định tạo tiền đề cho cái mới ra đời thay thế cái cũ Lực lượng phủ định ở ngay trong bản thân sự vật

Phủ định biện chứng có các đặc điểm:

Một là tính khách quan tức là sự vật tự phủ định sự phủ định này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan

của con người Bản thân hình thức phủ định ảnh cũng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người bên trong sự vật quy định Đó là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật quy định

Hai là tính phổ biến nghĩa là phủ định biện chứng tồn tại cả trong tự nhiên trong xã hội và trong tư duy

của con người

Ba là có tính kế thừa nghĩa là trong phủ định biện chứng có sự liên hệ giữa cái cũ và

cái mới không phủ định sạch trơn hoàn toàn cái cũ mà có lọc bỏ những cái cũ không còn phù hợp kế thừa những yếu tố cần phù hợp và chuyển vào sự vật mới

Nội dung quy luật

Phủ định của phủ định nói lên rằng ít nhất qua hai lần phủ định biện chứng sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn phủ định của phủ định có đầy đủ các tính chất của phủ định biện chứng và thêm tính chất chu kì nghĩa là ít nhất qua hai lần phủ định biện chứng sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn Phủ định lần thứ nhất làm cho

sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình sau những lần phủ định tiếp theo đến một lúc nào đó sẽ ra đời

sự vật mới mang nhiều đặc trưng Giống với tượng phật ban đầu ( xuất phát) Như vậy về hình thức là trở lại cái ban đầu song không phải giữ nguyên như cũ dường như lặp lại cái cũ nhưng cao hơn ví dụ, hạt ngô( cái ban đầu khẳng định )- cấy ngô ( phủ định lần 1- đối lập với hạt ngô- cái xuất phát)-bắp ngô( phủ định lần 2- phủ định của phủ định)

Trong thực tế có sự vật hiện tượng phải trải qua 3, 4 và hơn nữa số lần phủ định biện

chứng mới kết thúc một chu kì

Ví dụ muỗi- trứng muỗi - bọ gậy - cung quăng - muỗi

Nhờ tính chu kỳ này mà sự vật có phương hướng phát triển theo đường xoáy ốc đi lên Nghĩa là quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc đi lên của sự vật

-Ý nghĩa phương pháp luận:

Quy luật phủ định của phủ định cho ta cơ sở để hiểu ra sự ra đời của cái mới, mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới Do vậy, trong hoạt động thực tiễn phải biết ủng hộ cái mới phù hợp quy luật

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống thái độ “ hư vô” , phủ định sạch trơn Đồng thời, phải biết sàn lọc những gì tích cực của cái cũ Chống thái độ hư vô chủ nghĩa, nhưng đồng thời phảii chống bảo thủ khư khư ôm lấy những gì đã lạc hậu lỗi thời, không chịu đổi mới cho phù hợp thực tiễn mới Phải hiểu phát triển không phải là đường thẳng mà theo đường xoáy ốc đi lên Nghĩa là có nhiều khó khăn, phức tạp trong quá trình vận động, phát triển Phát triển không phải là đường thẳng trong những tình huống đó phải biết lạc quan, tin tưởng vào xu thế phát triển của cái mới hợp quy luật

Trang 4

Đảng ta khẳng định, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta “là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”

+ Trong thời kỳ quá độ, ở nước ta sẽ diễn ra sự biến đổi mang tính chất bản chất, căn bản và toàn diện

ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; và quá trình đó phải diễn ra lâu dài với nhiều bước phát triển

Đó là do, đất nước ta mới trải qua hai cuộc chiến tranh nên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều bị tàn phá

Chưa qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa nên hầu như chưa có những tiền đề thực tiễn cơ bản cho

sự ra đời của chủ nghĩa xã hội

Hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới tan rã, phong trào xã hội chủ nghĩa và công nhân quốc tế đang ở thời kỳ thoái trào

Các thế lực thù địch luôn chống phá, tìm cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội

Như vậy, thực tiễn lịch sử đã chứng minh, con đường phát triển của Việt Nam là một con đường dài, với nhiều bước đi, nhiều giai đoạn, trong đó có cả những bước lùi tương đối

- Con đường phát triển của Việt Nam hiện nay có thể còn bao gồm cả sự rút ngắn và bỏ qua

+ Sự rút ngắn trong con đường phát triển hoàn toàn có thể thực hiện được nếu có những điều kiện thích hợp

Ngày nay, khoa học – công nghệ phát triển nhanh chóng cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam

Để đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế, các quốc gia tiến hành điều chỉnh chiến lược phát triển theo hướng tăng cường liên kết, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, nhất là trong các lĩnh vực như thương mại, đầu

tư, nhân lực, khoa học – công nghệ

+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, nhất là hội nhập trong lĩnh vực kinh tế

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện Tham gia đóng góp và xây dựng Cộng đồng ASEAN

Hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do đa phương và song phương

Tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Đây cũng chính là điều kiện và cơ hội để ta có thể có những bước nhảy vọt trong sự

phát triển về kinh tế – xã hội, từ đó rút ngắn con đường phát triển của mình

Câu 2: Đồng chí hãy phân tích mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù cái chung và cái riêng

từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận vận dụng cặp phạm trù này vào Phân tích chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ qua

Cơ sở lý luận:

Khái niệm: Bài 1

Khái niệm cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật một hiện tượng một quá trình hay

một hệ thống các sự vật tạo thành một chỉnh thể tồn tại độc lập tương đối với những cái viên khác ví dụ một con người cụ thể

Khái niệm cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt những thuộc tính giống nhau

được lặp lại trong nhiều cái riêng khác

Ví dụ thuộc tính là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của một quốc gia dân tộc của thủ đô

Cái chung có thể là một đặc điểm một thuộc tính hoặc một bộ phận của những cái riêng tùy thuộc vào tính bao quát của nó mà người ta phân thành cái phổ biến và cái đặc thù

Khái niệm cái đơn nhất là phạm trù triết học chỉ những đặc điểm những thuộc tính vốn có chỉ của

Trang 5

một sự vật hiện tượng quá trình và không được lặp lại ở cái riêng khác

Ví dụ vân tay của mỗi người

Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật mác xít cái riêng và cái chung không thể tách rời nhau không

có cái chung tồn tại độc lập đứng ngoài cái riêng mà cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng thông qua cái riêng

Ví dụ phụ thuộc tính chung là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của cả một quốc gia dân tộc của thủ

đô chỉ tồn tại thông qua từng thủ đô của cụ thể như Hà Nội năm bên nóng ở Viêng Chăn

Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung vì bất cứ cái riêng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với những cái riêng khác giữa những cái riêng ấy bao giờ cũng có những cái chung giống nhau

Ví dụ trong một lớp học mỗi học viên như một cái riêng nhưng giữa các học viên có thể lại có cái chung

về quốc tịch về quê hương

Cái chung là những mặt những thuộc tính giống nhau hoặc có thể là một đặc điểm một thuộc tính của cái riêng cho nên cái chung luôn là một bộ phận của cái riêng cái riêng là một chỉnh thể cho nên nó không gia nhập hết vào cái chung cũng vì vậy cái riêng phong phú hơn cái chung

Ví dụ cái chung của thủ đô là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của một quốc gia dân tộc nhưng từng thủ đô của cụ thể còn có nhiều nét riêng khác về diện tích dân số vị trí địa lý lịch sử văn hóa

Trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung cái phổ biến và ngược lại chẳng hạn hiện tượng xảy ra trong quá trình nảy sinh phát triển của những cái mới và sự mất dần của những cái đã trở nên lỗi thời

Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng

Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái cái riêng cho nên muốn nắm được cái chung thì phải xem xét phân tích các sự vật hiện tượng cụ thể với tư cách là những cái riêng

Muốn tìm cái chung thì không được xa rời những cái riêng và suy luận một cách chủ quan tùy tiện trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn nắm được những cái chung là chìa khóa để giải quyết cái riêng để tránh những vấp váp không cần thiết trong quá trình giải quyết các công việc cụ thể

Tuy nhiên không được tuyệt đối hóa cái chung vì như vậy dễ rơi vào giáo điều đồng thời cũng không được tuyệt đối hóa cái riêng vì như vậy dễ rơi vào cục bộ địa phương xét lại

iên hệ thực tiễn

Cái chung và cái riêng nhìn dưới vấn đề kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới

+ Nền kinh tế Việt Nam là một cái riêng

+ Nền kinh tế Việt Nam là một bộ phận chung của nền kinh tế thế giới

+ Trong quá trình tiếp thu phải giữ được những nét đặc trưng riêng, tức là phải bảo tồn cái đơn nhất của nền kinh tế Việt Nam, để từ đó xây dựng một nền kinh tế thị trường mới về chất, thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam trên cơ sở nguyên lý về cái chung và cái riêng

+ Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan

+ Về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Nền kinh tế nước ta mang bản chất của nền kinh tế thị trường thế giới

Nét đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nếu trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, kinh tế thị trường đặt dưới sự quản lý của nhà nước tư sản độc quyền vì lợi ích của giai cấp tư sản, thì trong nền kinh tế thị trường nằm dưới sự quản lý của nhà nước

xã hội chủ nghĩa là nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu giải phóng con người và vì con người

Dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh theo kiểu cá lớn nuốt cá bé, bất bình đẳng, bất công; nhưng nền kinh tế thị trường trong xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn mang tính cạnh tranh, sử dụng cạnh tranh làm động lực phát triển nhưng không cạnh tranh dã man; tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu gắn với xóa đói giảm nghèo và khắc phục sự phân cực giàu

Trang 6

nghèo, gia tăng về mức sống nhưng vẫn giữ gìn được đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc

+ Những thành tựu bước đầu mà kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang lại Xét về lĩnh vực con người, người Việt Nam hiện nay đã thể hiện sự năng động, tinh tế,

nhạy cảm (đặc biệt là với thị trường) hơn hẳn so với những năm 80 của thế k trước

Xét về lĩnh vực kinh tế, nhờ chuyển sang xây dựng kinh tế thị trường theo một đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng (con người, tự nhiên, xã hội, điều kiện lịch sử ) của Việt Nam mà nền kinh tế cũng như đời sống của người dân được cải thiện đáng kể

Một số giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam những năm tới từ góc độ những đặc điểm riêng của Việt Nam

+ Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy vai trò của kinh tế nhà nước

+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường

+ Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường

+ Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

+ ở rộng kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Cơ sở lý luận

Các khái niệm

+ Mâu thuẫn biện chứng: là sự liên hệ, thống nhất, tác động, ảnh hưởng , chiphối, lẫn nhau của các mặt đối lập Những mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng , thuộc tính biến đổi, phát triển trái ngược nhau trong cùng sự vật, hiện tượng hay hệ thống sự vật, hiện tượng

+ Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo 3 nghĩa:

-Một là, các mặt đối lập làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặt đối lập này thì không có mặt đối lập kia và ngược lại

Ví dụ: chẳng hạn, một ai đó chỉ được gọi là ông chủ khi có người làm thuê cho ông ta Người được gọi

là người làm thuê khi có một ông chủ nào đ làm thuê ông ta

Hai là, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau

Ví dụ: chẳng hạn, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội , thì chủ nghĩa xã hội chưa thắng thế hoàn toàn, chủ nghĩa tư bản cũng chưa thất bại hoàn toàn

Ba là, giữa 2 mặt đối lập có điểm chung nhau, tương đồng nhau

Ví dụ: chẳng hạn, giữa người bán hàng và người mua hàng, mặt dù đối lập nhau nhưng đều có điểm chung

là thõa mãn nhu cầu của mình Đối với người bán đó là bán được hàng, đối với người mua đó là mua được hàng

+ Đấu tranh của các mặt đối lập là sự phủ định nhau , bài trừ nhau hay sự triển khai của các mặt đối lập Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, vì nó diễn ra thường xuyên, liên tục, trong tất cả quá trình vận động, phát triển của sự vật; ngay trong sự thống nhất của các mặt đối lập cũng hàm chứa những nhân tố phá vỡ sự thống nhất đó Vì vậy, thống nhất của các mặt đối lập là tương đối

Nội dung quy luật

Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có vai trò là nguồn gốc của quá trình vận động, phát triển của sự vật

Khi hai mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật vận động từ từ, chậm chạp, mâu thuẫn chưa gay gắt Nhưng xu hướng cùa 2 mặt đối lập là đấu tranh với nhau, đi ngược nhau Do vậy, đến một thời điểm nhất định thì cả 2 mặt đối lập đều biến đổi Nếu mâu thuẫn được giải quyết thì mâu thuẫn cũ mất đi là sự vật không còn là nó Từ sự vật cũ ra đời sự vật mới, mâu thuẫn mới lại xuất hiện Mâu thuẫm mới này lại được giải quyết Cứ như vậy, sự vật vận động phát triển Và, chính sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động , phát triển của sự vật Nói khác đi, quy luật thống nhất và đấu

Trang 7

tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật

Ý nghĩa phương pháp luận

Mâu thuẫn là khách quan, do vậy không nên né tránh mâu thuẫn Có nhiều loại mâu thuẫn:

+ Chẳng hạn như mâu thuẫn cơ bản ( là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, nó tồn tại từ khi sự vật

ra đời đến khi sự vật mất đi) và mâu thuẫn không cơ bản ( mâu thuẫn không quy định bản chất của sự vật); mâu thuẫn chủ yếu ( mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vât) và mâu thuẫn không chủ yếu ( mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó của sự vật) ; mâu thuẫn đối kháng ( mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người, những nhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể đều hòa) và mâu thuẫn không đối kháng ( mâu thuẫn giữa những lực lượng khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải

là lợi ích cơ bản mà chỉ là lợi ích cục bộ, tạm thời) Do vậy, trong hoạt động thực tiễn cần xác định đúng mâu thuẫn Giải quyết mâu thuẫn không được chủ quan, thõa hiệp

iên hệ thực tiễn

Cần khẳng định sự tồn tại của các mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam là một tất yếu khách quan + âu thuẫn có tính phổ biến Chối bỏ mâu thuẫn hiện thực, nuôi ảo tưởng về một thế giới không có mâu thuẫn là xa rời thực tiễn

+ Những mâu thuẫn tồn tại trong nội bộ nhân dân là những xung lực trực tiếp để xã hội luôn luôn vận động và phát triển đòi hỏi chúng ta cần phải hiểu đúng bản chất, phân tích cụ thể

+ Thái độ đúng đắn đối với mâu thuẫn không phải là phủ nhận, tìm cách xóa bỏ nó một cách chủ quan

mà phải nghiên cứu, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, giải quyết kịp thời để thúc đẩy sự phát triển

+ Mâu thuẫn xã hội chỉ có thể được giải quyết khi đã đến độ chín muồi và những điều kiện tồn tại của

nó không còn trong xã hội Đó là một quá trình khách quan không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người

+ Mâu thuẫn chỉ trở thành động lực thực sự của sự phát triển khi con người nhận thức được nó và có cách giải quyết đúng đắn

Cần nhận thức rõ ràng mâu thuẫn cơ bản ở nước ta hiện nay

+ Đó là mâu thuẫn giữa khuynh hướng tư bản chủ nghĩa với khuynh hướng xã hội chủ nghĩa

+ Là mặt đối lập với khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, khuynh hướng tư bản chủ nghĩa vừa tồn tại trong tàn dư của xã hội cũ, vừa tồn tại trong các yếu tố mới hình thành trong công cuộc đổi mới

+ Mâu thuẫn cơ bản ở nước ta hiện nay biểu hiện tập trung ở lĩnh vực chính trị là:

Mâu thuẫn giữa chủ thuyết độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và khuynh hướng tư bản chủ nghĩa

âu thuẫn giữa những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với âm mưu và các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

+ Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội

Mâu thuẫn cơ bản được biểu hiện tập trung giữa quá trình hoàn thiện nền văn hóa tiên tiến, đàm đà bản sắc dân tộc với tình trạng tha hóa, xuống cấp về văn hóa, đạo đức, lối sống trong xã hội

Mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa tăng trưởng kinh tế và mục tiêu tiến bộ công bằng xã hội + Trên lĩnh vực kinh tế

Đó là mâu thuẫn giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự lỗi thời, thiếu hoàn thiện của hệ thống tổ chức, quản lý tương ứng

Giữa mục tiêu từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu với tình trạng phát triển còn thấp của lực lượng sản xuất

Giữa đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nguy cơ hủy hoại môi trường sinh thái

Cần phân biệt rõ giữa mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng trong xã hội ta hiện nay để xác định phương hướng giải quyết đúng đắn

+ Trong xã hội nước ta hiện nay, các mâu thuẫn phổ biến thuộc về mâu thuẫn không đối kháng

Trang 8

Đó là mâu thuẫn giữa các giai tầng, các nhóm xã hội có lợi ích cục bộ, tạm thời khác biệt Để giải quyết các mâu thuẫn ấy chủ yếu phải thông qua các biện pháp giáo dục, thuyết phục, thỏa thuận, hợp tác mà không cần đến sự trấn áp bằng sức mạnh bạo lực

+ Bên cạnh đó, những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội ta không phải đã mất đi

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội hoàn toàn đối lập “một mất, một c n” với khuynh hướng tư bản chủ nghĩa

Sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch cũng hoàn toàn mâu thuẫn với sự nghiệp

Khái niệm phủ định biện chứng.( có ở trang 1 tài liệu )

Đặc điểm của phủ định biện chứng

Nội dung quy luật

Ý nghĩa phương pháp luận

+ Trong thời kỳ quá độ, ở nước ta sẽ diễn ra sự biến đổi mang tính chất bản chất, căn bản và toàn diện

ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; và quá trình đó phải diễn ra lâu dài với nhiều bước phát triển

Đó là do, đất nước ta mới trải qua hai cuộc chiến tranh nên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều bị tàn phá

Chưa qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa nên hầu như chưa có những tiền đề thực tiễn cơ bản cho sự

ra đời của chủ nghĩa xã hội

Hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới tan rã, phong trào xã hội chủ nghĩa và công nhân quốc tế đang ở thời

kỳ thoái trào

Các thế lực thù địch luôn chống phá, tìm cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội

Như vậy, thực tiễn lịch sử đã chứng minh, con đường phát triển của Việt Nam là một con đường dài, với nhiều bước đi, nhiều giai đoạn, trong đó có cả những bước lùi tương đối

Con đường phát triển của Việt Nam hiện nay có thể còn bao gồm cả sự rút ngắn và bỏ qua

+ Sự rút ngắn trong con đường phát triển hoàn toàn có thể thực hiện được nếu có những điều kiện thích hợp

Ngày nay, khoa học – công nghệ phát triển nhanh chóng cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam

Để đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế, các quốc gia tiến hành điều chỉnh chiến lược phát triển theo hướng tăng cường liên kết, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, nhất là trong các lĩnh vực như thương mại, đầu

tư, nhân lực, khoa học – công nghệ

+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, nhất là hội nhập trong lĩnh vực kinh tế

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện

Tham gia đóng góp và xây dựng Cộng đồng ASEAN

Trang 9

Hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do đa phương và song phương Tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)

Đây cũng chính là điều kiện và cơ hội để ta có thể có những bước nhảy vọt trong sự phát triển về kinh

tế – xã hội, từ đó rút ngắn con đường phát triển của mình

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở lý luận

Khái niệm cơ sở hạ tầng ( SGK trang 69)

Là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định cơ sở hạ tầng hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội

Khái niệm kiến trúc thượng tầng ( Trang 70 )

Khái niệm kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị triết học đạo đức Tôn giáo nghệ thuật cùng với những thiết chế tương ứng như Nhà nước Đảng phái giáo hội các đoàn thể được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định

- Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng

+ Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng

Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái kinh tế xã hội

Trong sự tác động biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

Các nhà triết học xã hội học trước Mác cho rằng quan hệ nhà nước pháp quyền quyết định quan hệ kinh

tế tư tưởng quyết định tiến trình phát triển khách quan của xã hội vượt lên những quan điểm đó chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quan hệ kinh tế quan hệ sản xuất là những quan hệ vật chất quyết định các quan hệ chính trị tinh thần và các quan hệ xã hội khác

Các Mác biết toàn bộ những quan hệ xã hội ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội tức là các cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó

Cơ sở hạ tầng quy định tính chất cơ sở của kiến trúc thượng tầng nói cách khác tính chất xã hội

Giai cấp của kiến trúc thượng tầng phản ánh tính chất xã hội giai cấp của cơ sở hạ tầng bộ mặt kiến trúc thượng tầng trong đời sống xã hội luôn được biểu hiện ra một cách phong phú phức tạp và đôi khi người dường như không trực tiếp gắn với cơ sở hạ tầng

Đó chỉ là biểu hiện bề ngoài còn thực chất ngay cả những hiện tượng lạ lùng nhất của kiến trúc thượng tầng đều có nguyên nhân sâu xa từ cơ cấu kinh tế của xã hội

Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng Trong xã hội có giai cấp giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống chính trị tinh thần

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng cần thể hiện ở chỗ sự biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng Với cơ sở hạ tầng quá trình đó không chỉ diễn ra trong giai đoạn chuyển tiếp có tính chất cách mạng của các chế độ xã hội mà còn thực hiện ngay trong bản thân một hình thái kinh tế xã hội

Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng rất phức tạp có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng sự thay đổi của cơ sở hạ tầng Như Quan điểm chính trị pháp luật có những yếu tố thay đổi rất chậm như tôn giáo nghệ thuật

Đi đôi với đội ngũ kiến trúc thượng tầng của có tính độc lập tương đối có quy luật vận động riêng của

nó trong sự phát triển

Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng không đơn giản và thụ động sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận của kiến trúc thượng tầng cũng có ảnh hưởng đến sự tồn tại vận động và

Trang 10

phát triển tổ kiến trúc thượng tầng

Kiến trúc thượng tầng không chỉ tác động đến cơ sở hạ tầng mà chúng còn tác động lẫn nhau chẳng hạn giữa triết học và chính trị giữa đạo đức và pháp luật có tác động ảnh hưởng lẫn nhau và cùng nhau tác động đến cơ sở hạ tầng

ưu là sự tác động đó cũng phải thông qua nhà nước với những pháp luật tương ứng thì trên cơ sở đó mới có được hiệu lực mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng

+ Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng

Ngoài ra kiến trúc thượng tầng còn có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng

Thượng tầng đều có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng những bộ phận đó tác động đến cơ sở hạ tầng ở những mức độ khác nhau bằng nhiều hình thức khác nhau theo những

cơ chế khác nhau trong đó nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng như nhà nước là một lực lượng vật chất có sức mạnh kinh tế

Nói về điều đó đó anh ghen viết bạo lực tức là quyền lực nhà nước cũng là một sức mạnh kinh tế sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thông qua chức năng xã hội của nó chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ nghệ sĩ duy trì củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh

ra nó đấu tranh xóa bỏ cơ sở kiến trúc thượng tầng cũ

Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng theo nhiều chiều đang xem nhưng thường diễn ra theo hai chiều chiều kích cực và tiêu cực

Một là sự tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế cơ sở

iên hệ thực tiễn Bình Dương

Tập trung phát triển kinh tế, xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nên đã tạo đà cho kinh tế tăng trưởng khá nhanh, là một trong những tỉnh đẫn đầu cả nước về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững, đồng thời từng bước đổi, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ tỉnh

Dân chủ xã hội chủ nghĩa (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) được phát huy một cách rộng rãi; từng bước đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Các thành phần kinh tế được chú trọng đầu tư phát triển, tiến bộ và công bằng xã hội được quan tâm, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh được cải thiện và nâng cao một cách rõ rệt

V iai cấp c ng nhân

Cơ sở lý luận (Trùng câu 3)

Khái niệm giai cấp công nhân

Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân

Đặc điểm của giai cấp công nhân

Trang 11

iên hệ thực tiễn

Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam

Sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam

Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

Những giải pháp cơ bản để xây dựng phát triển giai cấp công nhân Việt Nam

VII Những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trình bày 6 đặc trưng trong Cương lĩnh năm 1991; 8 đặc trưng trong Văn kiện Đại hội X và 8 đặc trưng trong Văn kiện Đại hội XI

Phân tích những bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về những đặc trưng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2011

So với Cương lĩnh năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã có những điểm mới về đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa

mà nhân dân ta xây dựng

Một là, về số lượng thì thêm hai đặc trưng mới Đặc trưng bao trùm tổng quát nhất được coi như mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”

Về đặc trưng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong Cương lĩnh năm 2011 có điểm mới so với Văn kiện Đại hội X là đã chuyển cụm từ “dân chủ” lên trước cụm từ “công bằng” và bỏ cụm

từ “xã hội” trong đặc trưng tổng quát

Điều này là phù hợp cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn Bởi lẽ, dân chủ là điều kiện, tiền đề, cơ sở của công bằng, văn minh; không có dân chủ thì không thể có công bằng, văn minh được

Hơn nữa, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”

Về đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”

Đặc trưng này thể hiện đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân của Đảng ta

Quan điểm này là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong việc xây dựng Nhà nước

Hai là, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển một số đặc trưng của Cương lĩnh năm 1991 cho phù hợp với mục tiêu khi nước ta đã xây dựng xong chủ nghĩa xã hội

Chẳng hạn, cụm từ “do nhân dân làm chủ” được thay cho cụm từ “nhân dân lao động làm chủ” trong Cương lĩnh năm 1991

Khái niệm “nhân dân” rộng hơn khái niệm “nhân dân lao động” Do vậy, sẽ tập hợp, đoàn

kết các lực lượng nhân dân rộng rãi hơn, cả nhân dân trong nước, và nhân dân ở ngoài nước vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Về đặc trưng kinh tế, trong Cương lĩnh năm 1991 nêu: “Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế

độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”

Đến Đại hội X, đặc trưng này diễn đạt như sau: “có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”

Kế thừa Đại hội X, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nêu: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”

Đây là vấn đề còn nhiều tranh luận, tuy nhiên phải khẳng định rằng, trong chủ nghĩa xã hội thì quan hệ sản xuất nhất thiết phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì chúng ta không thể xây dựng, phát triển được nền kinh tế phát triển cao

Trang 12

Về văn hóa, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) không có sự thay đổi về câu chữ, vẫn ghi “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Tuy nhiên, việc hiểu nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng ta đã có những bước phát triển mới

Chẳng hạn, phải gắn xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội

Về con người, trong Cương lĩnh năm 1991 ghi: “Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) viết: “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”

Ghi như vậy vừa ngắn gọn, vừa thể hiện rõ chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã xây dựng xong không thể

R ràng cụm từ “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam” được thay cho cụm từ “các dân tộc trong nước”

là phù hợp với thực tế hơn, hay hơn

Về hợp tác quốc tế, trong Cương lĩnh năm 1991 nêu: “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với

nhân dân tất cả các nước trên thế giới”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)

có sự bổ sung, điều chỉnh: “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”

Câu 3 Đảng ta khẳng định xây dựng giai cấp c ng nhân nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng

Nhà nước của cả hệ thống chính trị của mỗi người công nhân và của toàn xã hội

Đảng Cộng sản Việt Nam văn kiện Hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành Trung Ương khóa 10 Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2008

Bằng lý luận và thực tiễn đồng chí hãy phân tích quan điểm trên và đề xuất giải pháp

nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC:

VẤN ĐỀ 1: SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Định nghĩa giai cấp công nhân: GGCN là giai cấp lao động sản xuất vật chất trong nền công nghiệp hiện đại ngày càng phát triển, là lực lượng sản xuất hàng đầu, đại diện PTSX mới trong thời đại ngày nay, giai cấp bị áp bức, bóc lột trong CNTB, là người làm chủ, lãnh đạo xã hội mới XHCN

Nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Sứ mệnh lịch sử này được thể hiện ở ba nội dung cơ bản:

Nội dung kinh tế: Giai cấp công nhân dù ở chế độ chính trị nào, cũng là chủ thể của quá trình sản xuất

vật chất bằng phương thức sản xuất công nghiệp mang tính chất xã hội hóa cao, sản xuất ngày càng

Trang 13

nhiều của cải, đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của con người Qua đó, họ tạo ra tiền đề vật chất – kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới

Ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay, từ vị thế của mình, giai cấp công nhân đang thực hiện nội dung kinh tế này thông qua cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội hóa mạnh mẽ Ở các nước xã hội chủ nghĩa, thông qua quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai cấp công nhân thực hiện “ ột kiểu tổ chức xã hội mới về lao động” để tăng năng suất lao động và thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội

Nội dung kinh tế này là yếu tố sâu xa nhất khẳng định sự cần thiết và quy mô phạm vi toàn thế giới về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với quá trình phát triển văn minh nhân loại Thực hiện đầy đủ

và thành công nội dung này cũng là điều kiện vật chất để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản

Nội dung chính trị - xã hội: Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa với tư cách là một chế độ chính trị còn áp bức, bất công, để xác lập, bảo vệ và phát triển chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa với mục tiêu tối thượng là giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột và được tạo điều kiện để phát triển toàn diện Nhà nước pháp quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được xác lập và trở thành công

cụ có hiệu lực lãnh đạo chính trị, quản lý kinh tế và xã hội, đây là vấn đề cơ bản của tiến trình thực hiện

sứ mệnh lịch sử này

Ngoài ra, nội dung này còn bao gồm việc giai cấp công nhân giải quyết đúng đắn các vấn đề chính trị -

xã hội đặt ra trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa như liên minh với các giai cấp, tầng lớp, đoàn kết các dân tộc, xây dựng xã hội mới, con người mới,

thông qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và phát huy tính chủ động,

tự giác của nhân dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, nếu không giải quyết tốt những vấn đề này thì quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử có thể gặp khó khăn, thậm chí đổ vỡ và phải làm lại từ đầu

Nội dung to lớn, phong phú của cách mạng chính trị cho thấy đây là một quá trình lâu dài và phức tạp Chủ nghĩa xã hội hiện thực chỉ có thể ra đời thông qua thắng lợi của cuộc cách mạng chính trị của giai cấp công nhân

Nội dung văn hóa, tư tưởng: Nhiệm vụ lịch sử trao cho giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng

của mình là xác lập hệ giá trị, tư tưởng của giai cấp công nhân để thay thế cho hệ giá trị, tư tưởng tư sản và “những hệ tư tưởng cổ truyền” lạc hậu khác Thực chất đó là một cuộc cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cải tao cái cũ, xây dựng cái mới trong sự kế thừa những tinh hoa của thời đại và giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc

Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và con người được phát triển tự do và toàn diện trong xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là những mục tiêu hàng đầu của cuộc cách mạng này

Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân

Theo ác và Ăngghen, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải do ý muốn chủ quan của giai cấp công nhân hoặc do sự áp đặt của các nhà tư tưởng mà do những điều kiện khách quan quy định Thứ nhất, do địa vị kinh tế - xã hội của GCCN

GCCN gắn liền với sự phát triển của sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại làm cho GCCN ngày càng được rèn luyện về mọi mặt khách quan

Khi LLSX TBCN phát triển với tính chất xã hội hóa, hiện đại nhưng QHSX TBCN vẫn là chế chiếm hữu

tư nhân àm cho mâu thuẫn biểu hiện ra bên ngoài xã hội là mâu thuẫn giữa GGCN và GCTS Và, với tính cách như vậy, nó GCCN là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích

và được cả thế giới về mình

Trang 14

Thứ hai, do đặc điểm chính trị, xã hội của GCCN

Những đặc điểm của giai cấp công nhân cũng là yếu tố quy định nên sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân + Từ địa vị kinh tế - xã hội đã khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để, lãnh đạo toàn thể dân lao động và của dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

+ Là giai cấp có ý thức k luật cao nhất, đoàn kết rộng rãi các giai tầng khác trong xã hội, luôn được tô luyện trong lao động công nghiệp hiện đại

+ Là giai cấp có khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc

tế theo chủ nghĩa quốc tế vô sản

+ Là khả năng đạt tới sự giác ngộ về tư tưởng, họ được vũ trang bởi hệ tư tưởng của CN Mác - Lênin về địa vị lịch sử của khả năng hành động chính trị để từng bước đạt mục tiêu cách mạng Đó là khả năng đoàn kết các giai cấp khác trong cuộc đấu tranh chống tư bản

Thứ ba, do những mâu thuẫn khách quan sẵn có trong lòng CNTB

+ Mâu thuẫn giữa LLSX xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN

+ Mâu thuẫn đối kháng giữa GCCN với GCTS

Như vậy, cả hai mặt của mâu thuẫn cơ bản này không thể giải quyết triệt để trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản và tất yếu dẫn đến cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân tiến hành dưới sự

lãnh đạo và tổ chức của chính đảng của giai cấp công nhân Đó là sự quy định khách quan cho sứ mệnh

lịch sử của giai cấp công nhân

Đặc điểm của giai cấp công nhân trên thé giới nói chung:

Là sản phẩm của quá trình sản xuất công nghiệp hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến

Có lợi ích cơ bản đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản

Có tinh thần triệt để cách mạng; có tinh thần quốc tế, đoàn kết giai cấp và có tính tổ chức k luật cao

Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp – đó là chủ nghĩa ác-Lênin

Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam:

Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam:

Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới chính là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân muốn thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình phải thông qua sự lãnh đạo của đội tiền phong là tổ chức đảng cộng sản – hạt nhân chính trị của giai cấp công nhân

Quy luật chung của sự hình thành Đảng Cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa ác- Lênin với phong trào công nhân – kết quả xã hội của quá trình công nghiệp hóa và đấu tranh giai cấp hiện đại Ở Việt Nam, quy luật này có biểu hiện đặc thù: “Chủ nghĩa ác- Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”

Đảng Cộng sản là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân Đảng Cộng sản là bộ tham mưu của giai cấp công nhân

Đảng Cộng sản là đội tiên phong đấu tranh cho lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc

Để làm tròn những vai trò trên, Đảng của giai cấp công nhân cần phải: nắm vững và trung thành với chủ nghĩa ác-Lênin; giữ vững và không ngừng tăng cường tính chất giai cấp công nhân của Đảng; giữ vững quyền lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức

Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay:

Ưu điểm:

Tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông

Trang 15

đảo bộ phận công nhân trí thức

Đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

Giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

Có nhiều cố gắng để phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng

là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc

- Việc làm và đời sống của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện

ác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia, cán bộ quản lý giỏi còn thiếu, tác phong công nghiệp, k luật lao động, sự hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế

Một số công nhân chưa tha thiết vào Đảng và tham gia các hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội

Công tác duy trì và phát triển Đảng trong các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa còn nhiều hạn chế Một bộ phận công nhân vẫn chưa có việc làm ổn định, nhiều doanh nghiệp vẫn còn xảy ra tình trạng kéo dài thời gian lao động, điều kiện làm việc và điều kiện sống của người công nhân nhân chưa đảm bảo, tiền lương chưa đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu

Các thế lực thù địch cùng với các phần tử cơ hội, xét lại đã và đang mưu toan xuyên tạc, phủ nhận nhiều quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó có quan điểm về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch

sử của giai cấp công nhân

Các điều kiện về nhà ở, đời sống sinh hoạt hàng ngày của công nhân được nâng cao hơn trước nhưng về

cơ bản vẫn chưa có chất lượng sống cao

Đời sống tinh thần của công nhân chưa được đáp ứng đầy đủ, nhiều vấn đề xã hội phát sinh từ cuộc sống của công nhân (tình cảm, sống thử trước hôn nhân, sa vào tệ nạn xã hội )

Những giải pháp cơ bản để xây dựng phát triển giai cấp công nhân Việt Nam:

Quan điểm chỉ đạo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam:

Kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và

sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng

góp tích cực của người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân

Trang 16

6.2 Phương hướng và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam:

- Phương hướng:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” chỉ ra : “Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người công nhân và của toàn xã hội”

+ Tăng t lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân Tăng số lượng và chất lượng

cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp; sớm thành lập tổ chức cơ sở đảng ở những doanh nghiệp

có đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức đảng tại doanh nghiệp phù hợp với từng thành phần kinh tế

+ Đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các loại hình doanh nghiệp Củng cố, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đã có; sớm thành lập tổ chức cơ sở tại các doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và điều lệ của các tổ chức đó; tăng số lượng và chất lượng của các tổ chức cơ sở này tại các loại hình doanh nghiệp, nhất là ở những doanh nghiệp có đông công nhân

- Giải pháp cơ bản để xây dựng phát triển giai cấp công nhân Việt Nam

+ Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

+ Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân

+ Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân

+ Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân

+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị -

xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân Câu 4: Đồng chí hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Câu 4: Theo quan điểm của triết học mác-lênin từ đó li n hệ việc đổi mới kinh tế gắn với đổi mới chính trị ở tỉnh Bình Dương

Trả lời:

Sách giáo khoa màu tím trang 69 viết từ 1.3 đến xã hội trang 73

1 Cơ sở lý luận Khái niệm cơ sở hạ tầng

Là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định cơ sở hạ tầng hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội

Khái niệm kiến trúc thượng tầng

Khái niệm kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị triết học đạo đức Tôn giáo nghệ thuật cùng với những thiết chế tương ứng như Nhà nước Đảng phái giáo hội các đoàn thể được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định

- Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng

+ Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng

Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái kinh tế xã hội

Trong sự tác động biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

Trang 17

Các nhà triết học xã hội học trước Mác cho rằng quan hệ nhà nước pháp quyền quyết định quan hệ kinh

tế tư tưởng quyết định tiến trình phát triển khách quan của xã hội vượt lên những quan điểm đó chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quan hệ kinh tế quan hệ sản xuất là những quan hệ vật chất quyết định các quan hệ chính trị tinh thần và các quan hệ xã hội khác

Các Mác biết toàn bộ những quan hệ xã hội ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội tức là các cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó

Cơ sở hạ tầng quy định tính chất cơ sở của kiến trúc thượng tầng nói cách khác tính chất xã hội

Giai cấp của kiến trúc thượng tầng phản ánh tính chất xã hội giai cấp của cơ sở hạ tầng bộ mặt kiến trúc thượng tầng trong đời sống xã hội luôn được biểu hiện ra một cách phong phú phức tạp và đôi khi người dường như không trực tiếp gắn với cơ sở hạ tầng

Đó chỉ là biểu hiện bề ngoài còn thực chất ngay cả những hiện tượng lạ lùng nhất của kiến trúc thượng tầng đều có nguyên nhân sâu xa từ cơ cấu kinh tế của xã hội

Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng Trong xã hội có giai cấp giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống chính trị tinh thần

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng cần thể hiện ở chỗ sự biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng Với cơ sở hạ tầng quá trình đó không chỉ diễn ra trong giai đoạn chuyển tiếp có tính chất cách mạng của các chế độ xã hội mà còn thực hiện ngay trong bản thân một hình thái kinh tế xã hội

Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng rất phức tạp có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng sự thay đổi của cơ sở hạ tầng Như Quan điểm chính trị pháp luật có những yếu tố thay đổi rất chậm như tôn giáo nghệ thuật

Đi đôi với đội ngũ kiến trúc thượng tầng của có tính độc lập tương đối có quy luật vận động riêng của

nó trong sự phát triển

Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng không đơn giản và thụ động sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận của kiến trúc thượng tầng cũng có ảnh hưởng đến sự tồn tại vận động và phát triển tổ kiến trúc thượng tầng

Kiến trúc thượng tầng không chỉ tác động đến cơ sở hạ tầng mà chúng còn tác động lẫn nhau chẳng hạn giữa triết học và chính trị giữa đạo đức và pháp luật có tác động ảnh hưởng lẫn nhau và cùng nhau tác động đến cơ sở hạ tầng

ưu là sự tác động đó cũng phải thông qua nhà nước với những pháp luật tương ứng thì trên cơ sở đó mới có được hiệu lực mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng

+ Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng

Ngoài ra kiến trúc thượng tầng còn có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng

Thượng tầng đều có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng những bộ phận đó tác động đến cơ sở hạ tầng ở những mức độ khác nhau bằng nhiều hình thức khác nhau theo những cơ chế khác nhau trong

đó nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng như nhà nước là một lực lượng vật chất có sức mạnh kinh tế

Nói về điều đó đó anh ghen viết bạo lực tức là quyền lực nhà nước cũng là một sức mạnh kinh tế sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thông qua chức năng xã hội của nó chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ nghệ sĩ duy trì củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh

ra nó đấu tranh xóa bỏ cơ sở kiến trúc thượng tầng cũ

Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng theo nhiều chiều đang xem nhưng thường diễn ra theo hai chiều chiều kích cực và tiêu cực

Một là sự tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế cơ sở

hạ tầng phát triển

Trang 18

hai la ngược lại sự tác động không phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế

Thậm chí nền kinh tế rơi vào tình trạng phá sản nếu kiến trúc thượng tầng truyền hình kinh tế phát triển thì sớm hay muộn làm cách này hay cách khác

Kiến trúc thượng tầng cũ sẽ bị thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới tiến bộ hơn để thúc đẩy kinh tế phát triển

Như vậy sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở kinh tế rất to lớn nhưng nếu tuyệt đối hóa vai trò của kiến trúc thượng tầng một cách chủ quan duy ý chí sẽ dẫn đến những sai lầm gây hậu quả đối với sự phát triển kinh tế sự tiến bộ xã hội

Câu 5: Đồng chí hãy phân tích những phương hướng cơ bản nhằm thực hiện thành công các mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta

Bài 6 phần 2 sách màu tím viết từ 8 phương hướng và 9 quan hệ trang 298 Một là

trang 309

phương hướng này tiếp tục được đại hội 12 của Đảng khẳng định bao gồm

Một là đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức bảo vệ tài nguy n m i trường

Tư duy mới trong phương hướng này là coi trọng việc đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường để đảm bảo phát triển nhanh và bền vững hai là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong cách thức diễn đạt phương hướng lần này đã tách việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khỏi công nghiệp hóa hiện đại hóa để thấy được định hướng phát triển nền kinh

tế thị trường là định hướng quan trọng xuyên suốt cả thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Ba là xây dựng nền văn hóa ti n tiến đậm đà bản sắc dân tộc xây dựng con người nâng cao đời sống nhân dân thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Đây là phương hướng Xác định cách thức xây dựng nền văn hóa ở Việt Nam gắn với xây dựng con người nâng cao đời sống nhân dân xây dựng văn hóa phải gắn liền với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam để thấy được tính ưu việt của văn hóa xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Bốn là bảo đảm vững chắc quốc phòng an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội

Phương hướng này cho thấy nhận thức mới của Đảng ta về nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong quan hệ gắn bó với việc bảo đảm vững chắc quốc phòng an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội tạo điều kiện vật chất để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Năm là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ hòa bình hữu nghị hợp tác và phát triển chủ động

và tích cực hội nhập quốc tế

Nhận thức mới từ phương hướng này là đã tách riêng Đường lối đối ngoại thành một phương hướng độc lập một mặt vẫn khẳng định Đường lối đối ngoại Độc Lập tự chủ hòa bình hữu nghị hợp tác và phát triển đồng thời luôn chủ động và tích cực hội trong hội nhập quốc tế theo chiều rộng và chiều sâu Trước đây chỉ nói đến hội nhập kinh tế quốc tế nay đã điều chỉnh theo hướng hội nhập cả chiều rộng lẫn chiều sâu

ở nhiều lĩnh vực bên cạnh lĩnh vực kinh tế

Sáu là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc tăng cường mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất

So với cách thức diễn đạt các phương hướng trong cương lĩnh năm 1991 vấn đề xây dựng nền dân chủ được đặt ra như một phương hướng chính quan trọng định hướng cho sự phát triển thể chế chính trị ở Việt Nam trong Cương lĩnh 1991 xây dựng xã hội dân chủ được đặc trưng với phương hướng xây dựng văn hóa

Mặt khác cùng với xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là kiên trì thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm gắn dân chủ với đồng Thuận xã hội phát huy vai trò của mặt trận dân tộc thống nhất trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội phát huy vai trò làm chủ của nhân dân

Trang 19

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 12 vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ càng được coi trọng điều này thể hiện ở chỗ thành tố phát huy sức mạnh toàn dân tộc dân chủ xã hội chủ nghĩa được nêu trong chủ đề của đại hội đồng thời trong báo cáo chính trị của đại hội 12 vấn đề dân chủ được trình bày thành một mục riêng với tiêu đề phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Điểm mới này cho thấy xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang trở nên cấp thiết then chốt cần được quan tâm trong việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ đặt ra trong năm tới đồng thời thể hiện sự nhận thức sâu sắc đầy đủ của Đảng Không chỉ về bản chất của nền dân chủ chủ xã hội chủ nghĩa mà còn về vai trò to lớn của nó vì không phát huy dân chủ không đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân sẽ không thể có chủ nghĩa xã hội

Để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa hiệu quả đại hội 12 chỉ rõ phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng là điều kiện để cán

bộ Đảng viên vận dụng thực hành ở từng cơ quan đơn vị tổ chức là tấm gương cho việc thực hiện và phát huy dân chủ trong xã hội Từ đó khắc phục bệnh độc đoán chuyên quyền tự do vô k luật đang làm suy thoái một bộ phận cán bộ Đảng viên làm ảnh hưởng không tốt đến uy tín của Đảng đây cũng là sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng về vấn đề dân chủ

Bảy là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân do nhân dân vì nhân dân

Việc bổ sung đặc trưng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn với phương hướng nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân do nhân dân vì nhân dân là điểm mới trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại về vấn đề nhà nước pháp quyền đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước xã hội chủ nghĩa quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa với quyền làm chủ của nhân dân

Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền thực sự của dân do dân vì dân mọi quyền lực của nhà nước phải thể hiện ý chí quyền lực của toàn dân

Đại hội 12 của Đảng khẳng định tiếp tục xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị đây là sự Tiếp tục quan điểm nhất quán của đảng tại các kỳ đại hội trước đồng thời việc nhấn mạnh trong văn kiện đại hội 12 cho thấy rõ quyết tâm chính trị của Đảng trên vấn đề này

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Hiến định trong Hiến pháp năm 2013 với sự Hiến định trong Hiến pháp cho thấy quan điểm về bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thể hiện được sự bổ sung phát triển mới vừa Nâng tầm cao về tính pháp lý của vấn đề này

Tám là xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh

Phương hướng này có kế thừa nội dung phương hướng đã xác định từ cương lĩnh năm 1991 Tuy nhiên diễn đạt gọn rõ hơn Phương hướng xây dựng Đảng để đảng cộng sản Việt Nam Thực sự là tổ chức lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội của Việt Nam hiện nay

Tại đại hội 12 vấn đề xây dựng Đảng được đặc biệt coi trọng điểm mới của đại hội là chỉ đạo kiên quyết kiên trì tiếp tục thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương khóa 11 xem đây là nhiệm vụ trọng tâm đồng thời Yêu cầu phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong đó coi trọng công tác xây dựng Đảng về chính trị đổi mới công tác tư tưởng lý luận nhằm phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị phù hợp với từng giai đoạn tạo sự thống nhất trong Đảng sự đồng thuận trong xã hội tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân cơ hội thực dụng

Tiếp tục đổi mới kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị kiện toàn tổ chức nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng Đảng viên đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ đổi mới nâng cao hiệu lực hiệu quả công tác kiểm tra giám sát k luật Đảng Tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả công tác dân vận tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng lãng phí đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Trang 20

Đại hội lần này nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đào tạo đội ngũ cán bộ đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược và trách nhiệm của người đứng đầu đó là đội ngũ có tâm và đủ tầm để lãnh đạo do và triển khai thực hiện đường lối phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa nhanh và bền vững ở Việt Nam đại hội

12 khẳng định tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực phẩm chất và uy tín ngang tầm nhiệm vụ đây là một trong những yêu cầu cấp bách đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

VỀ CÁC MỐ QUAN HỆ ỚN CẦN Ả QUYẾT

Bên cạnh những đặc trưng và phương hướng xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được xác định, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ( Bổ sung, phát triển 2011) cũng chỉ ra 8 mối quan hệ lớn “ cần nắm vững và giải quyết” trong quá trình thực hiện các phương hướng Đến đại hội XII, để bổ sung làm rõ hơn và chu n xác hơn các mối quan hệ này, Đảng đã chỉ ra 9 mối quan hệ cần phải tiếp tục quán triệt và xử lý tốt cụ thể là: “ quan hệ giữa đổi mới, ổn định, và phát triển; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước và thị trường; sữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội; giữa xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý , nhân dân làm chủ ”

Một là, quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển

Đây là vấn đề nổi lên đòi hỏi phải nhận thức, giải quyết đúng đắn: đổi mới phải vừa đảm bảo ổn định và phát triển quan hệ này là quan hệ biện chứng: ổn định và phát triển vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Hai là, quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị

ối quan hệ này đã và đang diễn ra với những đòi hỏi phải nắm bắt, giải quyết đúng đắn, kịp thời trong toàn bộ hệ thống chính trị của các cấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở

Đổi mới kinh tế là trọng tâm, là then chốt, song nếu chỉ đổi mới kinh tế thuần túy thì không đạt được mục đích chung đã đề ra cùng với đổi mới kinh tế phải từng bước đổi mới chính trị ( chính trị theo nghĩa rộng, bao gồm cả tư tưởng chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật,v.v đến tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị để theo kịp yêu cầu của đổi mới kinh tế và tạo tiền đề mới cho đổi mới kinh tế)

Ba là, quan hệ giữa tuân theo quy luật của thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam thực hiện là “ nền kinh tế vận hành đầy

đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh” quan điểm này của Đảng thể hiện nhất quán chủ trương: Việt Nam quyết tâm chuyển đổi sang cơ chế thị trường, song không chấp nhận phát triển kinh tế thị trường bằng mọi giá, mà sự phát triển kinh tế đó phải hướng tới mục tiêu phục vụ con người, nâng cao chất lượng sống của con người cả về vật chất và tinh thần- tức là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Bốn là, quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng

bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất là phương châm hoàn toàn đúng đắn ở Việt Nam hiện nay tuy nhiên, trong khi coi trọng việc phát triển lực lượng sản xuất lại phải tính đến việc từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất ưu việt tiến bộ- quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu xã hội từng bước được xác lập và hoàn thiện phải khai thác, phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất tiến bộ, hiện đại song phải coi trọng xây dựng,hoàn thiện các yếu tố của quan hệ sản xuất

ưu việt- quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Năm là, quan hệ giữa Nhà nước và thị trường

Trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định trong nền kinh tế thị trường, kinh tế

Trang 21

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế,v.v thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách

và các nguồn lực của nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường,v.v

Sáu là, quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và

công bằng xã hội

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng phải thể hiện bản chất ưu việt, tiến bộ trong quán triệt

và giải quyết quan hệ phù hợp giữa tăng trưởng kinh tế trong tương quan với phát triển văn hóa tăng trưởng kinh tế không phải bằng mọi giá mà phải coi trọng phát triển văn hóa, Đồng thời còn phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, khi giải quyết các lợi ích phù hợp hài hòa giữa cá nhân- tập thể- toàn

xã hội

mối quan hệ này phải được giải quyết thường xuyên ngay trong từng chính sách kinh tế, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, trong từng bước phát triển để chứng tỏ bản chất ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Bảy là, quan hệ giữa xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Trong bối cảnh thế giới đang diễn biến mau lẹ và phức tạp, nhiều tác động từ các xu hướng khác nhau của thời đại, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vừa có những thời cơ, thuận lợi lớn, đồng thời vừa gặp nhiều khó khăn, thách thức không

nhỏ, trong đó có cả việc chống phá của các thế lực thù địch và những âm mưu xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích của quốc gia dân tộc Việt Nam Vì vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội phải luôn gắn với bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa mà cả dân tộc ta đã hy sinh biết

bao áu xương để có được hôm nay

Đất nước thống nhất, độc lập tự do, luôn phải đặt trong quan hệ gắn bó với chủ nghĩa xã hội- xây dựng

và bảo vệ tổ quốc phải thật sự là hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế hiện nay

Tám là, quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế

Công cuộc đổi mới đã từng bước cho Đảng, nhà nước và nhân dân ta nhận thức và giải quyết đúng mối giữa độc lập tự chủ của quốc gia dân tộc Và Hội nhập quốc tế cả chiều rộng lẫn chiều sâu

Tuy nhiên, đây là mối quan hệ tác động thường xuyên ở mọi cấp độ, rất cần thiết phải quán triệt đầy đủ

và giải quyết đúng đắn trong hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở

hội nhập quốc tế là xu thế lớn đang lôi cuốn nhiều quốc gia dân tộc tham gia, song phải bằng thế tích cực, chủ động để hội nhập mà vẫn giữ vững được độc lập, tự do, tự chủ, tự tôn dân tộc Hội nhập là

để tăng cường tự chủ, tự tôn, tuyệt đối không để diễn ra hội nhập dẫn đến “ hòa tan”, chệch hướng

Chín là, quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý , nhân dân làm chủ

Đây là mối quan hệ thể hiện cơ chế vận hành thể chế dân chủ, đẩy mạnh dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay

Quá trình đổi mới đã giúp đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

có những bước tiến lớn trong nhận thức về dân chủ, chủ gắn dân chủ với quyền công dân, quyền con người dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển đất nước tuy nhiên, việc quán triệt đúng,đầy đủ , thể chế thành Pháp luật mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ ngủ vẫn đang là vấn đề thời sự cần nhận thức và thực hiện đúng trong toàn bộ hệ thống chính trị, phải biến thành nề nếp, thành quan hệ ứng xử giữa tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị- xã hội từ trung ương đến các địa phương, cơ sở ở chỉ có giải quyết đúng quan hệ này thì mới bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, loại bỏ tình trạng dân chủ hình

Trang 22

thức đang tồn tại hiện nay

8 phương hướng quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là những định hướng lớn để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 9 mối quan hệ lớn cần quán triệt và xử lý tốt là phương thức, giải pháp cấp bách, cần thực hiện để bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Câu 6: Đồng chí hãy vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong triết học Mác nin để phân tích những mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Sự thống nhất giữa các mặt đối lập hiểu theo 3 nghĩa:

+ Là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập

+ Các mặt đối lập tác động nhang nhau, cân bằng nhau

+ Các mặt đối lập có điểm chung, điểm tương đồng nhau

Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nghĩa là hai mặt đối lập tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau

Nội dung của quy luật:

Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển

Bất cứ một sự vật nào cũng có những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng vận động và biến đổi trái ngược nhau, được gọi là mặt đối lập Cứ hai mặt đối lập có mối liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Các mặt đối lập đó vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau Đấu tranh giữa các mặt đối lập đến một mức độ và điều kiện nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết, sự vật

cũ mất đi, sự vật mới ra đời và mâu thuẫn mới lại xuất hiện Mâu thuẫn mới này lại được giải quyết Cứ như vậy, sự vật vận động và phát triển

Phân loại mâu thuẫn: có 03 loại mâu thuẫn

Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Ý nghĩa:

Trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, con người muốn phát triển thì phải tìm

ra được mâu thuẫn, đồng thời tiếp cận và giải quyết nó

Phải biết phân loại các mâu thuẫn để có hướng giải quyết cho phù hợp với từng loại mâu thuẫn Mâu thuẫn khác nhau phải có cách giải quyết khác nhau

Như vậy, nguyên tắc tổng quát là phát hiện và giải quyết mâu thuẫn nhằm thúc

Trang 23

hội luôn luôn vận động và phát triển đòi hỏi chúng ta cần phải hiểu đúng bản chất, phân tích cụ thể + Thái độ đúng đắn đối với mâu thuẫn không phải là phủ nhận, tìm cách xóa bỏ nó một cách chủ quan

mà phải nghiên cứu, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, giải quyết kịp thời để thúc đẩy sự phát triển

+ Mâu thuẫn xã hội chỉ có thể được giải quyết khi đã đến độ chín muồi và những điều kiện tồn tại của

nó không còn trong xã hội Đó là một quá trình khách quan không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người

+ Mâu thuẫn chỉ trở thành động lực thực sự của sự phát triển khi con người nhận thức được nó và có cách giải quyết đúng đắn

- Cần nhận thức rõ ràng mâu thuẫn cơ bản ở nước ta hiện nay

+ Đó là mâu thuẫn giữa khuynh hướng tư bản chủ nghĩa với khuynh hướng xã hội chủ nghĩa

+ Là mặt đối lập với khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, khuynh hướng tư bản chủ nghĩa vừa tồn tại trong tàn dư của xã hội cũ, vừa tồn tại trong các yếu tố mới hình thành trong công cuộc đổi mới

+ Mâu thuẫn cơ bản ở nước ta hiện nay biểu hiện tập trung ở lĩnh vực chính trị là:

Mâu thuẫn giữa chủ thuyết độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và khuynh hướng tư bản chủ nghĩa

âu thuẫn giữa những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với âm mưu và các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

+ Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội

Mâu thuẫn cơ bản được biểu hiện tập trung giữa quá trình hoàn thiện nền văn hóa tiên tiến, đàm đà bản sắc dân tộc với tình trạng tha hóa, xuống cấp về văn hóa, đạo đức, lối sống trong xã hội

Mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa tăng trưởng kinh tế và mục tiêu tiến bộ công bằng xã hội

Giữa đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nguy cơ hủy hoại môi trường sinh thái

- Cần phân biệt rõ giữa mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng trong xã hội ta hiện nay để xác định phương hướng giải quyết đúng đắn

+ Trong xã hội nước ta hiện nay, các mâu thuẫn phổ biến thuộc về mâu thuẫn không đối kháng Đó là mâu thuẫn giữa các giai tầng, các nhóm xã hội có lợi ích cục bộ, tạm thời khác biệt

Để giải quyết các mâu thuẫn ấy chủ yếu phải thông qua các biện pháp giáo dục, thuyết phục, thỏa thuận, hợp tác mà không cần đến sự trấn áp bằng sức mạnh bạo lực

+ Bên cạnh đó, những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội ta không phải đã mất đi

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội hoàn toàn đối lập “một mất, một c n” với khuynh hướng tư bản chủ nghĩa

Sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch cũng hoàn toàn mâu thuẫn với sự nghiệp cách mạng nước ta

Do vậy, trong suốt thời kỳ quá độ, cuộc đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng giữa các lực lượng đối kháng này chính là quá trình giải quyết một cách triệt để các mâu thuẫn đối kháng

Câu 7: Đồng chí hãy phân tích những bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về những đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Trả lời:

Trong ương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gồm 6 đặc trưng cơ

Trang 24

bản nhất:

1/ Do nhân dân lao động làm chủ;

2/ Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;

3/ Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc;

4/ Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động,

có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân;

5/ Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ 6/ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới3

Cương lĩnh 2011 về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội so với trong Cương lĩnh 1991 đó được nêu ra từ Đại hội X của Đảng (2006) Nếu trong Cương lĩnh 1991 chỉ đưa ra 6 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội thì trong

văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định 8 đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam Đó là:

1/ Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước

mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;

2/ Do nhân dân làm chủ;

3/ Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

4/ Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

5/ Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;

6/ Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ; 7/ Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

8/ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới4

Trong ương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa

mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

l/ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2/ Do nhân dân làm chủ;

3/ Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4/ Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

5/ Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6/ Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng

7/ Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

8/ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

So với Cương lĩnh năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã có những điểm mới về đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa

mà nhân dân ta xây dựng

Một là, về số lượng thì thêm hai đặc trưng mới

Đặc trưng bao trùm tổng quát nhất được coi như mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”

Về đặc trưng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong Cương lĩnh năm 2011 có điểm mới so với Văn kiện Đại hội X là đã chuyển cụm từ “dân chủ” lên trước cụm từ “công bằng” và bỏ cụm

từ “xã hội” trong đặc trưng tổng quát

Điều này là phù hợp cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn Bởi lẽ, dân chủ là điều kiện, tiền đề, cơ sở của công bằng, văn minh; không có dân chủ thì không thể có công bằng, văn minh được

Trang 25

Hơn nữa, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”

Về đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”

Đặc trưng này thể hiện đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân của Đảng ta

Quan điểm này là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong việc xây dựng Nhà nước Hai là, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ

sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển một số đặc trưng của Cương lĩnh năm 1991 cho phù hợp với mục tiêu khi nước ta đã xây dựng xong chủ nghĩa xã hội

Chẳng hạn, cụm từ “do nhân dân làm chủ” được thay cho cụm từ “nhân dân lao động làm chủ” trong Cương lĩnh năm 1991

Khái niệm “nhân dân” rộng hơn khái niệm “nhân dân lao động” Do vậy, sẽ tập hợp, đoàn kết các lực lượng nhân dân rộng rãi hơn, cả nhân dân trong nước, và nhân dân ở ngoài nước vì mục tiêu chủ nghĩa

xã hội – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Về đặc trưng kinh tế, trong Cương lĩnh năm 1991 nêu: “Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”

Đến Đại hội X, đặc trưng này diễn đạt như sau: “có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”

Kế thừa Đại hội X, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nêu: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”

Đây là vấn đề còn nhiều tranh luận, tuy nhiên phải khẳng định rằng, trong chủ nghĩa xã hội thì quan hệ sản xuất nhất thiết phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì chúng ta không thể xây dựng, phát triển được nền kinh tế phát triển cao

Về văn hóa, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) không có sự thay đổi về câu chữ, vẫn ghi “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Tuy nhiên, việc hiểu nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng ta đã có những bước phát triển mới

Chẳng hạn, phải gắn xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội

Về con người, trong Cương lĩnh năm 1991 ghi: “Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) viết: “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” Ghi như vậy vừa ngắn gọn, vừa thể hiện rõ chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã xây dựng xong không thể có áp bức, bóc lột, bất công

Về đặc trưng dân tộc, Cương lĩnh năm 1991 nêu: “Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nêu: “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”

R ràng cụm từ “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam” được thay cho cụm từ “các dân tộc trong nước” là phù hợp với thực tế hơn, hay hơn

Về hợp tác quốc tế, trong Cương lĩnh năm 1991 nêu: “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất

Trang 26

cả các nước trên thế giới”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) có sự bổ sung, điều chỉnh: “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” Điều đó có nghĩa là đối tượng hợp tác hữu nghị chuyển từ “nhân dân” sang các chủ thể là “các nước” – các nhà nước

Câu 8:Đồng chí hãy phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan và nguyên tắc phát huy tính năng động và sáng tạo của ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật mác xít Liên hệ sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1976 đến nay

2/ ối quan hệ giữa vật chất và thức:

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật acxit: Vật chất có trước thức, quyết định thức, thức là cái phản ánh nên là cái có sau, là cái bị quyết định Đồng thời thức có sự tác động trở lại đối với vật chất

Sự quyết định của vật chất đối với ý thức:

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong mối quan hệ giữa vật chất và thức, suy đến cùng thì vật chất quyết định thức

Biểu hiện:

- Trong tự nhiên:

+ Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức (nguồn gốc tự nhiên của thức) Ý thức là một thuộc tính

của một dạng vật chất có tổ chức cao, tổ chức đặc biệt Đó là bộ óc người Do vậy, không có bộ óc người thì không thể có thức Hơn nữa, thức tồn tại phụ

thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan Khi bộ não người bị tổn thương thì hoạt động thần kinh của con người cũng bị rối loạn

+ Vật chất quyết định nội dung của ý thức Điều kiện vật chất như thế nào thì về cơ bản thức như thế

+ Thứ hai, trong hoạt động của con người, những nhu cầu VC xét đến cùng bao giờ

cũng giữ vai trò quyết định

+ Thứ 3, vai trò quyết định của VC đối với YT còn được thể hiện ở chỗ nó là điều kiện để quy định khả năng tham gia của các yếu tố tinh thần, biến các yếu tố tinh thần thành hiện thực

Tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất

Vì ý thức có tính phản ánh năng động, sáng tạo, có tính độc lập tương đối nên có khả năng tác động trở lại đối với vật chất

+ Tính độc lập tương đối của ý thức được thể hiện ở sự phản ánh sáng tạo, ở sự kế thừa và khái quát, ở

sự phản ánh vượt trước Trong đó sự phản ánh vượt trước là điều kiện tiên quyết làm cho ý thức có khả

Trang 27

năng chỉ đạo hoạt động thực tiễn

+ Ý thức có thể tác động được trở lại đối với vật chất còn do vai trò chỉ đạo hoạt động của ý thức Vai trò chỉ đạo hoạt động của ý thức được thể hiện ở việc vạch ra chủ trương, biện pháp cho hoạt động thực tiễn và thông qua vai trò chỉ đạo này nó trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả hoạt động thực tiễn

- Cách ý thức tác động trở lại vật chất:

+ Thứ nhất, trong hoạt động thực tiễn, sự vật bộc lộ nhiều khả năng, nhờ có ý thức mà con người biết lựa chọn khả năng đúng, phù hợp để qua đó thúc đẩy sự phát triển

+ Thứ hai, nhờ hiểu được quy luật của thế giới khách quan mà con người biết đề ra

cho mình những chủ trương, đường lối và biện pháp để thực hiện những chủ trương đường lối đó + Thứ ba, trong ý thức của con người còn có tri thức, trí tuệ, ý chí, tình cảm và niềm tin, đây cũng là những yếu tố quan trọng giúp cho sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất đạt được hiệu quả cao

- Hướng tác động trở lại của ý thức đối với vật chất:

+ Nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan thì nó sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất

+ Nếu ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan thì nó sẽ kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội

Song, cũng cần thấy rõ rằng, xét đến cùng tác động trở lại của ý thức đối với vật chất chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể

Tóm lại:Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều, tác động biện chứng qua lại, trong đó vật chất quyết định ý thức còn ý thức tác động trở lại thực tiễn thông qua hoạt động nhận thức của con người

Ý nghĩa phương pháp luận:

Quan điểm khách quan (Hay Nguyên tắc khách quan):

Từ việc giải quyết đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong nhận thức và cải tạo hiện thực, chúng ta rút ra được nguyên tắc khách quan

- Nguyên tắc khách quan

+ Cơ sở để rút ra nguyên tắc khách quan: Vì vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan Từ những điều kiện vật chất hiện có và lấy đó làm căn cứ cho những chủ trương, đường lối và mọi hoạt động của mình

+ Một số yêu cầu của nguyên tắc khách quan:

Thứ nhất, phải xem xét sự vật như chính nó đang tồn tại, phải xuất phát từ thực tế, từ điều kiện, hoàn cảnh vật chất hiện có; chống thái độ xuyên tạc, bóp méo sự vật, chống tác phong qua loa, đại khái, xem xét sự vật một cách chung chung, trừu tượng Nếu không sẽ rơi vào chủ quan duy ý chí hoặc mắc bệnh thành tích, sai lầm trong bổ nhiệm cán bộ, không trung thực, đánh giá không đúng năng lực

Thứ hai, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, không thể tùy tiện, bất chấp quy luật, chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, chủ quan nóng vội

Thứ ba, khi đề ra chủ trương, đường lối, chính sách chúng ta không được xuất phát từ mong muốn chủ quan mà phải xuất phát từ thực tế khách quan

Nghị quyết trung ương VI của Đảng đã chỉ ra bài học kinh nghiệm là phải nắm vững hiện thực khách quan

Nguyên tắc phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức

Cơ sở lý luận của quan điểm này:

Vì ý thức có tính độc lập tương đối, có tính phản ánh sáng tạo và tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người Vì ý thức có tính kế thừa và khái quát những thành tựu tư tưởng Vì ý thức, lý luận là kim chỉ nam cho hành động của con người Hơn nữa, ý thức, lý luận là kim chỉ nam cho hành động

Trang 28

của con người Việc phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức sẽ giúp con người khắc phục được thói trông chờ, lại, đổ lỗi cho hoàn cảnh và chịu bó tay trước hoàn cảnh khách quan

Thực chất của việc phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức:

+ Nói tới vai trò của ý thức, về thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức là ý thức của con người, bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Vì thế, muốn thực hiện được tư tưởng, phải sử dụng lực lượng thực tiễn của con người

Tuy nhiên, cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan là việc thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội

Nếu như thế giới vật chất - với những thuộc tính và quy luật vốn có của nó- tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muôn chủ quan của con người, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình

Nếu như lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, lấy chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc bệnh chủ quan duy ý chí

Liên hệ thực tế việc vận dụng các nguyên tắc trong vai trò lãnh đạo của Đảng ta: (phân tích theo sách lịch sử đảng bài 7 trang 242 và bài 8 trang 284)

Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và thức của triết học ác- xit, trong nhận thức và thực tiễn, chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhân thức, tác động và cải tạo thế giới

Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy chí và bảo thủ trì trệ Bệnh chủ quan duy chí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân

tố chủ quan của chí, bất chấp qui luật khách quan, xa rời hiện thực, phủ nhận, xem nhẹ điều kiện vật chất

Bệnh bảo thủ trì trệ là tình trạng lại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại đổi mới thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có do khuynh hướng cường điệu vai trò quyết định của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan

Ở nước ta, trong thời kỳ trước đổi mới (trước ĐH VI), Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắc bệnh chủ quan duy chí, vi phạm quy luật khách quan 5 sai lầm đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thức VI chỉ

ra với tinh thần “Nhìn thẳng, nói thật”:

Sai lầm về đánh giá tình hình, xác định mục tiêu và bước đi: Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quả

độ lên CNXH là một quá trình lich sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường và do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước cần thiết

Sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế: Chỉ chú tập trung phát triển công nghiệp nặng mà không chú phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

Sai lầm trong cải tạo XHCN, củng cố quan hệ sản xuất, sử dụng các thành phần

kinh tế: Chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài uốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế, nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu

về tư liệu sản xuất Đẩy mạnh việc xây dựng quan hệ sản xuất trong khi lực lượng sản xuất lỗi thời, lạc hậu Chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Sai lầm trong cơ chế quản lý kinh tế: Duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu

bao cấp đã làm cho các đơn vị kinh tế ở cơ sở, nhất là các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trở nên

lệ thuộc, trông chờ, lại, thiếu năng động, sáng tạo

- Sai lầm trong phân phối lưu thông: Việc Nhà nước độc quyền về phân phối lưu thông, thực hiện theo nguyên tắc “bình quân chủ nghĩa” đã làm giảm sút tính năng động, sáng tạo của người lao động, không kích thích gia tăng năng suất lao động

Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, thiếu tổng kết về

Trang 29

lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp

Rút kinh nghiệm từ những sai lầm trên, ĐH Đảng lần VI (1986) đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm trong thực tiễn CM ở nước ta là “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng”

Bài học mà Đảng ta đã nêu ra, trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan, không được xuất phát từ muốn chủ quan Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất

là tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN cho nên phải trải qua một thời kì quá độ lâu dài, nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ

Từ đó, trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, Đảng và Nhà nước đã điều chỉnh lại theo hướng "không

bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế”

Trong cải tạo XHCN, Đảng ta xác định: "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kì quá độ"

Về cơ chế quản lý kinh tế, lần đầu tiên khái niệm về hàng hóa, thị trường được đưa vào Nghị quyết rõ ràng "Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị

trường có sự quản lý của NN" (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH)

Đồng thời với các đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, việc đổi mới bắt đầu từ việc Đảng phải đổi mới tư duy

lý luận, nâng cao năng lực, trình độ lý luận của Đảng để nhận thức đúng và hành động đúng phù hợp với

hệ thống các quy luật khách quan Song song đó, việc tăng cường phát huy dân chủ, phát huy tiềm năng cán bộ khoa học kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý và tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, tổng kết cái mới, không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh lý luận về mô hình, mục tiêu, bước đi, đổi mới và kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là những biện pháp nhằm từng bước sửa chữa sai lầm và khắc phục bệnh chủ quan duy chí

Với những đường lối, chủ trương trên của Đảng, Đảng đã đề ra một số Nghị quyết đúng đắn và phù hợp như: NQ 168 về chuyển đổi cơ cấu sản xuất Đồng thời với thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở và việc tôn vinh các cá nhân, tập thể có hiệu quả năng suất lao động cao, làm kinh tế giỏi đã thực sự khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của cá nhân, tập thể và nhân rộng những mô hình sản xuất kinh

tế tiên tiến

Từ những phân tích trên cho thấy thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là dựa trên 1 nền tảng tư tưởng đúng, đó là CN Mác-Lê nin và tư tưởng HC , mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng

II Bài học kinh nghiệm:

Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Vì thế, để vạch ra chiến lược, sách lược đúng đắn, để lãnh đạo cách mạng thắng lợi, Đảng ta đã chủ trương: Một là, phải nhận thực được những đặc điểm nổi bật của tình hình chính trị, kinh tế của thế giới và khu vực ở từng thời kì, từng giai đoạn

Hai là, phải nắm bắt được những thuận lợi và khó khăn của đất nước ta, xác định rõ những thời cơ và nguy cơ trong từng thời gian của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội để có thể tranh thủ được thời cơ, khắc phục được nguy cơ

Thuận lợi:

Chế độ chính trị ổn định Nguồn lực lao động trẻ dồi dào

Cả các lĩnh vực Sau hơn 30 năm đổi mới

Công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang tạo được niềm tin trong nhân dân

Khó khăn:

Nền kinh tế còn lạc hậu nhỏ bé Chất lượng nguồn nhân lực thấp

Thể chế kinh tế thị trường chưa đồng bộ hệ thống pháp luật còn chồng chéo Cải cách thủ tục hành

Trang 30

chính còn chậm

Thời cơ:

Hòa bình ổn định hợp tác phát triển

Toàn cầu hóa khu vực hóa là xu thế khách quan không thể đảo ngược Cách mạng khoa học công nghệ

có bước phát triển mới

Khu vực châu Á Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động nhất

Nguy cơ

Tụt hậu về kinh tế Diễn biến hòa bình

Chắc hướng xã hội chủ nghĩa Quan liêu tham nhũng

Tự diễn biến tự chuyển hóa trong nội bộ

Ba là, phải nắm vững quy luật khách quan tuân theo quy luật phát triển, phải nắm vững đúng qui luật của kinh tế thị trường, qui luật giá cả

Bốn là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tính năng động chủ quan của các tổ chức, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong thời kì đổi mới

Năm là, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Liên hệ thực tiễn

- Đánh giá về những sai lầm trước thời kỳ đổi mới

+ Sai lầm về đánh giá tình hình, xác định mục tiêu và bước đi

+ Sai lầm trong việc bố trí cơ cấu kinh tế

+ Sai lầm trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản xuất, sử dụng các thành phần kinh tế + Sai lầm trong cơ chế quản lý kinh tế

+ Sai lầm trong phân phối lưu thông

- Những chủ trương của Đảng từ năm 1986 đến nay

Bài học kinh nghiệm: Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

Vì thế, để vạch ra chiến lược, sách lược đúng đắn, để lãnh đạo cách mạng thắng lợi, Đảng ta đã chủ trương:

ột là, phải nhận thức được những đặc điểm nổi bật của tình hình chính trị, kinh tế của thế giới và khu vực ở từng thời kỳ, từng giai đoạn

Hai là, phải nắm bắt được những thuận lợi và khó khăn của đất nước ta, xác định rõ những thời cơ và nguy cơ trong từng thời gian của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội để có thể tranh thủ thời cơ và khắc phục được nguy cơ

Ba là, phải nắm vững quy luật khách quan và tuân theo quy luật phát triển

Bốn là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tính năng động chủ quan của các tổ chức, đảng viên và của mọi tầng lớp nhân dân trong thời kỳ đổi mới

Năm là, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Trang 31

ÔN THI TỐT NGHIỆP PHẦN I.1: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NỘI DUNG 1: SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ

Sản xuất hàng hóa

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm:

Hàng hóa: là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người được thông qua

trao đổi, mua bán

Sản xuất hàng hóa: là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm làm ra không phải là để đáp ứng nhu

cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho người khác thông qua việc trao đổi mua bán Sản xuất hàng hóa có những ưu thế hơn hẳn so với sản xuất tự cung, tự cấp

1.2 Hai điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa: Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa

trên hai điều kiện

- Có sự phân công lao động xã hội (đk cần) : tức là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động

xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau ỗi người, mỗi cơ sở chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định nhưng nhu cầu cuộc sống đòi hỏi họ phải tiêu dùng nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó hình thành nhu cầu trao đổi sản phẩm với nhau

Nhờ sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất mà năng suất lao động tăng lên, làm ra nhiều sản phẩm để trao đổi và tiêu dùng Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng hơn

- Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những chủ thể SX khác nhau (đk đủ)

Sự tách biệt này xuất hiện đầu tiên trong lịch sử trong quan hệ kinh tế giữa các bộ tộc, về sau biểu hiện

rõ nét thông qua quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Về sau, do sự đa dạng về quan hệ sở hữu hoặc sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất quy định Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc chi phối của chủ thể nhất định,

người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa Qua đây,chúng ta hiểu rõ cơ sở khách quan của sự hình thành và phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay uốn đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường ở một địa bàn, ngành cũng cần thúc đẩy phân công lao động thông qua hướng nghiệp, đào tạo và tạo quyền tự chủ

về quyền sở hữu, sử dụng các yếu tố sản xuất

1 3 Hai thuộc tính của hàng hóa: Gồm giá trị sử dụng và giá trị của HH

a giá trị sử dụng của HH:

Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó

của con người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp

Đặc điểm giá trị sử dụng của hàng hóa:

+ Hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học - kỹ thuật

+ Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định

+ Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất, tiêu dùng cho cá nhân), nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải

đó như thế nào

+ Hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại thì giá trị sử dụng càng cao

Trang 32

b giá trị của HH:

- Khái niệm T của HH:

Muốn hiểu được GT của HH phải đi từ giá trị trao đổi GT trao đổi trước hết đó là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau

Ví dụ: 1 m vải = 5 kg thóc

Để trao đổi với nhau, trước hết chúng phải có giá trị sử dụng khác nhau Đồng thời chúng lại có thể trao đổi được với nhau vì giữa chúng tồn tại điểm chung: các hàng hóa đều là sản phẩm của lao động, đều được kết tinh bởi lao động Nhờ đó chúng có thể trao đổi cho nhau

Trong ví dụ trên, giả sử người thợ dệt làm ra được 1 m vải mất 5 giờ, người nông dân làm ra 5 kg thóc cũng mất 5 giờ Trao đổi 1 m vải lấy 5 kg thóc thực chất là trao đổi 5 giờ lao động sản xuất ra 1 m vải với 5 giờ lao động sản xuất ra 10 kg thóc

Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người SXHH kết tinh trong HH

Sở dĩ HH có hai thuộc tính là vì LĐ SXHH có tính hai mặt : LĐ cụ thể và LĐ trừu tượng

+ Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau

+ Lao động trừu tượng là lao động của người SXHH khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó và quy về một thể chung đồng nhấ,t đó chính là sự tiêu phí sức lao động nói chung kể (cả thể lực và trí lực) của người SXHH ao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Giá trị hàng hóa chính là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Nhờ lao động trừu tượng mà ta tìm thấy

sự đồng nhất giữa những người sản xuất, do đó thấy được cơ sở của quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa ao động trừu tượng là cơ sở để người sản xuất hàng hóa trao đổi sản phẩm với nhau

c Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của HH:

+ Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Hai thuộc tính trên đều do cùng một lao động sản xuất ra hàng hóa

+ Hai thuộc tính của hàng hóa là sự thống nhất của các mặt đối lập Sự đối lập và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị thể hiện ở chỗ: người làm ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa

do mình làm ra, nếu họ có chú đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được giá trị Ngược lại, người mua hàng hóa lại chỉ chú đến giá trị sử dụng của hàng hóa, nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trả giá trị của nó cho người bán Nghĩa là quá trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng: giá trị được thực hiện trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hiện Hai thuộc tính này làm tiền đề và đk cho nhau, nếu thiếu một trong hai thuộc tính thì sp không thể trở thành HH Phân công lao động xã hội là người sản xuất phụ thuộc vào nhau còn chế độ tư hữu lại chia

rẽ họ làm họ độc lập với nhau đây là một mâu thuẫn màu thuận này chỉ được giải quyết thông qua trao đổi mua bán sản phẩm của nhau sản xuất hàng hóa ra đời bắt nguồn từ

yêu cầu của cuộc sống

1 4 Những ưu thế của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức sx, mà trong đó sx làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sx ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dung cho người khác, thong qua việc trao đổi, mua bán

Trang 33

Sản xuất hang hóa có những ưu thế hơn hẳn so với sx tự cung, tự cấp, biểu hiện qua các khía cạnh sau: Thứ nhất , sx hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao xa hội, chuyên môn hóa sx, do đó, nó khai thác được những lợi thế về tư nhiên, XH, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như của từng vùng, từng địa phương

Thứ hai, trong nền sx hang hóa, quy mô, tính chất tổ chức sx không bị giới hạn mà nó được mở rộng,

xã hội hóa ngày càng cao dựa trên cơ sở ngày càng tang nhu cầu và nguồn lực XH Điều đó tạo điều kiện ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ thúc đẩy sx phát triển

Thứ ba, Trong nền sx hàng hóa, sự tác động của những quy luật vốn có của sx và trao đổi hàng hóa như quy luật giá trị, cung-cầu, cạnh tranh, buộc người sx phải luôn năng động, nhạy bén, tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sx, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế

-Thứ tư, SX hàng hóa phát triển trở thành một trong những điều kiện để nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho môi người dân

-Không khai thác được lợi thế

-Quy mô SX nhỏ, không thúc đẩy SX

- Người SX thiếu năng động và sự nhạy

bén

-Do dựa trên chuyên môn hóa nên khai thác được lợi thế của từng ngành, vùng, địa phương -Quy mô SX được mở rộng, dựa trên nhu cầu

và nguồn lực XH nên thúc đẩy SX phát triển -Dưới sự tác động của các quy luật người sx phải luôn năng động, nhạy bén, tính toán nhằm cải tiến kỹ thuật , hợp lý hóa sx, nâng cao nâng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

2 Liên hệ thực tiễnn phát triển kinh tế hàng hóa ở VN

Hai đk ra đời và tồn tại của SXHH vẫn đang tồn tại trong nền kinh tế

Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta những điều kiện chung của SX hàng hóa vẫn còn tồn tại, bởi vậy nên sản xuất hàng hóa tồn tại là một tất yếu khách quan

Phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở của trao đổi, chẳng những không mất đi trái lại ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Sự chuyên môn hóa và hợp tác hóa lao động đã vượt khỏi biên giới quốc gia và ngày càng mang tính quốc tế

Phân công lao động xã hội đã phá vỡ các mối quan hệ truyền thống của nền kinh tế tự nhiên khép kín, tạo cơ sở thống nhất, phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất Sự phân công lao động của ta đã ngày càng chi tiết hơn đến từng ngành từng cơ sở và ở phạm vi rộng hơn nữa là toàn bộ nền kinh tế quốc dân Hiện nay đã có hàng loạt các thị trường được hình thành từ sự phân công lao động đó là thị trường công nghệ, thị trường các yếu tố sản xuất tạo đà cho nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển rất nhanh chóng, hòa nhập được với kinh tế trong khu vực và thế giới

Sản xuất hàng hóa là để trao đổi đáp ứng nhu cầu của xã hội nên người sản xuất có điều kiện để chuyên môn hóa cao, trình độ tay nghề được nâng lên làm cho NSLĐ được nâng lên, sản phẩm đa dạng, phong phú, chất lượng ngày càng được cải thiện và tốt hơn, hiệu quả kinh tế được chú trọng và là mục tiêu

Trang 34

đánh giá sự hoạt động của các thành phần kinh tế

Trong nền kinh tế, đã và đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động xã hội đó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân tư của những người sản xuất hàng hóa nhỏ Sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu và chi phối của các chủ thể SX nhất định ọi người muốn tiêu dùng hàng hóa của nhau thì phải thông qua trao đổi, mua bán Quan hệ hàng hóa tiền tệ, quan hệ thị trường ngày càng được mở rộng và phát triển

Vd: Sản xuất một chiếc xe máy, các chi tiết như lốp xe, sườn xe, đèn, điện… mỗi chi tiết phải qua từng công ty chuyên sx chi tiết đó cung cấp, sau đó mới ráp thành chiếc xe máy

SXHH cần thiết cho c ng cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã xây dựng thành công:

Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội có hai hình thức kinh tế rõ rệt, đó là kinh tế tự nhiên

và kinh tế hàng hóa Kinh tế tự nhiên là hình thức sản xuất mà sản phẩm lao động chỉ dùng để thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế, đó là kiểu sản xuất tự cấp, tự túc khép kín trong từng đơn vị kinh tế nhỏ, không mở rộng các quan hệ với đơn vị kinh tế

khác trong xã hội Nền sản xuất này thích đứng với lực lượng sản xuất chưa phát triển, lao động thủ công chiếm địa vị thống trị, năng suất lao động còn rất thấp

Đối lập với sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất hàng hóa, sản xuất ra sản phẩm để bán đó là hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội, trong đó mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất biểu hiện qua thị trường, qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau

Đặc điểm của sản xuất hàng hóa XHCN là nó không dựa trên cơ sở chế độ người bóc lột người và nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mọi thành viên xã hội trên cơ sở sản xuất kinh doanh Như vậy sản xuất hàng hóa tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội là sản phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người, nó có nhiều ưu thế và là một phương thức SX tiến bộ hơn hẳn so với nền SX tự cấp, tự túc

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối để phát triển kinh tế quốc dân, trong đó để phát triển nền kinh tế hàng hóa là nhiệm vụ cơ bản nhất Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, lực lượng sản xuất chưa phát triển lại bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, kinh tế đi lên chủ yếu từ sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp Ở một số vùng núi còn mang đậm dấu

ấn của kinh tế tự nhiên, lại phải trải qua nhiều năm chiến tranh, nền kinh tế nước ta không thể vươn dậy nổi một cách vững chắc Hàng hóa sản xuất ra không đủ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân, hơn nữa kinh tế hàng hóa của ta lại có một thời gian dài hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế tập trung chỉ huy Do vậy việc xây dựng một quan hệ sản xuất mới tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển là một việc làm tối quan trọng của đảng và nhà nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, mà xây dựng chủ nghĩa xã hội xét về mặt kinh tế cũng phải xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, mà đã xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì không thể không phát triển nền kinh tế hàng hóa

Với những đặc trưng tiêu biểu, nền kinh tế nước ta đã chuyển biến từ một nền kinh tế hàng hóa kém phát triển, mang nặng tính tự cấp, tự túc sang một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế hàng hóa theo cơ cấu kinh tế mở giữa nước ta với các nước trên thế giới, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Giải quyết mối quan hệ giữa KTTT và định hướng XHCN là một đột phá trong tư duy và tổ chức thực hiện xây dựng CNXH ở nước ta Thực chất đó là quá trình đổi mới tư duy về CNXH và xây dựng thể chế kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường, nhưng mục tiêu của CNXH cũng từng bước được hiện thực hóa Tại Đại hội VI, Đảng ta dứt khoát từ bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp để chuyển sang phát triển KTTT định hướng XHCN

Vd:

Tình hình nền kinh tế nước ta trước và sau đổi mới:

Trang 35

+ Trước đổi mới:

Trước thời kỳ đổi mới, với quan niệm về CNXH theo mô hình “xô viết”, yếu tố thị trường không được chấp nhận với tư duy sai lầm rằng: KTếTT đồng nhất với CNTB Từ đó, thái độ kỳ thị với KTTT trở nên phổ biến trong xã hội Tư duy đó đã phải trả giá đắt khi kinh tế – xã hội nước ta lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng trong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước

Do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, nhà nước Việt Nam xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu Nhà nước xem thị trường là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản dẫn đến không thừa nhận trên thực

tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần Trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể

là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng vì sao chép mô hình kinh tế kế hoạch của Liên Xô mà không thật sự hiểu rõ

ưu điểm và nhược điểm của mô hình này Hơn nữa nội lực của Việt Nam quá yếu, nền kinh tế ở miền bắc bị suy giảm nghiêm trọng, ở miền nam nền kinh tế bị đảo lộn do hậu quả của chiến tranh

Nền KT kế hoạch trước thời kỳ đổi thể hiện ở một số mặt:

- Bao cấp qua giá và số lượng hàng hóa

Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức

Vd: Công nhân lao động nặng được cấp 20 kg gạo mỗi tháng, trong khi cán bộ công chức chỉ được có

13 kg Do gạo ít nên thường ăn độn thêm ngô, khoai, sắn phần gạo do TW cấp còn phần độn do địa phương phụ trách tăng gia thêm vào, như 13 kg gạo thì có 10 kg là độn khoai, sắn Cho dù có tiền, hàng hóa rất khan hiếm, mà dù có tem phiếu người mua có thể sắp hàng vào mua nhưng đến lượt mình thì không còn hàng, đành về tay không Hàng hóa thì ngoài phẩm chất

kém, lượng hàng rất hạn chế, chỉ đủ dùng một thời gian ngắn, đến cuối tháng thì đã cạn kiệt, phải mua

ở chợ đen

Ngoài hàng tiêu dùng, dưới thời bao cấp nhà nước còn nắm cả việc phân phối nhà cửa Tiêu chu n là mỗi người được 4 m2 Những khu nhà tập thể giống như ở Liên Xô được xây lên trong thành phố và cấp cho cán bộ trung cấp và công nhân nhưng quản lý kém khiến khu đất công cộng bị lấn chiếm khiến khó nhận ra đâu là của chung, đâu là của riêng Nhà cửa hư hỏng thì có Sở nhà đất lo sửa Đời sống trong những khu tập thể này càng tồi tệ với việc chăn nuôi gia súc trong những căn hộ chật hẹp, mất vệ sinh Đây cũng là một khía cạnh của thời bao cấp trong thành phố Giá nhà ở các thành phố tương đối

rẻ, nhưng công nhân viên chức vẫn không mua nổi vì thu nhập quá thấp

- Bao cấp qua chế độ tem phiếu

Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động Trọng tâm của thời bao cấp là tem phiếu quy định loại hàng và số lượng người dân được phép mua, chiếu theo một số tiêu chu n như cấp bậc và niên hạn Có diện được ưu đãi, cho phép ưu tiên mua dùng; diện khác thì không

Ví dụ như thịt lợn, người dân thường chỉ được mua 1,5 kg/tháng nhưng cán bộ cao cấp có quyền mua

6 kg/tháng Pin, Vải vóc, phụ tùng xe đạp, đường cát, sữa đặc, chất đốt, nước mắm, mỡ, muối, tất cả đều có tem phiếu

Tùy thuộc vào vị trí công việc, đặc thù nghề nghiệp mà cán bộ, công chức nhà nước cũng như người dân lao động được phát tem phiếu mua lương thực, thực phẩm với chế độ riêng

Dưới thời bao cấp, do thiếu hàng hóa nên việc phân phối hàng hóa chủ yếu dựa vào hệ thống tem phiếu

Trang 36

Thị trường chợ đen vẫn tồn tại nhưng không phải kênh phân phối hàng hóa chính

Mua hàng gì thì có tem phiếu hàng đó ột phần tiêu biểu của thời kỳ bao cấp là đồng tiền Việt Nam bị mất giá Thị trường tự do bị xem là bất hợp pháp và bị hạn chế nên hàng hóa lưu thông trên thị trường chợ đen ít và giá rất cao Người dân, cán bộ công nhân viên thường bán hàng tiêu dùng mà họ không sử dụng ra thị trường chợ đen

- Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách

Không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế "xin - cho" Tóm lại: Mười năm sau 1975, chỉ nói về mặt kinh tế, VN là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng người dân lại thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài Lượng thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến

1979 ông thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sống của người dân vô cùng khốn khó Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam Nguy cơ thiếu ăn kéo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng "phá rào" trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương Nhưng phải đợi đến đổi mới (tháng 12/1986) mới có chuyển biến thực sự Tư tưởng cốt lý i của Đại hội VI là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện

có, khai thác mọi tiềm năng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

+ Sau đổi mới:

Nhìn lại thực tiễn đất nước sau đổi mới, có thể nhận rõ những bước tiến mang tính đột phá về lý luận đổi mới kinh tế của đảng, mà điểm cốt yếu, quan trọng nhất là chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, là sự vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo quy luật QHSX phù hợp với trình

độ phát triển của SX, là xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chuyển sang kinh tế thị trường, từng bước thử nghiệm cơ chế thị trường thay cho cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, phát triển các loại hình thị trường và mở rộng thị trường trong nước, liên kết với thị trường quốc tế, khu vực và thế giới để đầy mạnh hội nhập kinh tế, từ hội nhập kinh tế đến hội nhập quốc tế, đó là những bước đi cần thiết

Giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại đã vượt qua nền kinh tế hiện vật,

kế hoạch hóa tập trung thời kỳ trước đổi mới, từ cơ chế thị trường tiến tới xây dựng phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời

kỳ quá độ

Nền kinh tế được xây dựng và phát triển tuân thủ các quy luật kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn cạnh tranh trên thị trường quốc tế, khu vực và thế giới trong quá trình mở cửa và hội nhập ọi thành phần kinh tế nhà nước, tập thể, tư nhân, kể cả tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đều bình đẳng trong sản xuất kinh doanh và trước pháp luật

Phát triển đồng bộ các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, đất đai, tài chính ngân hàng, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ, thị trường thông tin, thị trường sản phẩm văn hóa đảm bảo cho kinh tế thị trường phát triển

Phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gắn liền với đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, nên đồng thời phải phát triển kinh tế tri thức, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đó là nền kinh tế quốc gia dân tộc, đủ sức mạnh, tiềm thức để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam luôn hướng vào lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của cộng đồng xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Tăng trưởng kinh tế phải gắn với thực

Trang 37

hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Trong hơn 10 năm gần đây, đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình đạt tốc độ tăng trưởng khá, chính trị xã hội ổn định, bảo đảm

an ninh xã hội

Qua hơn 32 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Những thành tựu to lớn trên tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường

đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử để chúng ta vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa

QUY UẬT GIÁ TRỊ TRON NỀN SẢN XUẤT HÀN HÓA

1 Cơ sở lý luận

A Nội dung của quy luật giá trị là:

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ở đâu có trao đổi, SXHH thì

ở đó có sự hoạt động của QLGT QLGT yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết

+ Trong sản xuất HH: người sản xuất hàng hóa phải có mức hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hoặc

bằng với mức hao phí lao động XH cần thiết thì mới đạt được lợi thế trong cạnh

tranh nghĩa là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá khứ và lao động sống) ặc dù mỗi người sản xuất

tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị xã hội của hàng hóa không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng chủ thể, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh làm cho chi phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được

+ Trong trao đổi hàng hóa: người sản xuất hàng hóa cũng phải thực hiện dựa trên cơ sở của hao phí

lao động xã hội cần thiết, nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng Trong trao đổi HH với nhau, hai bên được lợi về GT sử dụng ,c n lượng GT thì bằng nhau HH được trao đổi trực tiếp với nhau theo một t lệ nào đó có nghĩa là chúng kết tinh một lượng lâo động bằng nhau Khi có tiền xuất hiện để mua bán, thì giá cả HH phải dựa trên cơ sở GT của nó

Nhìn bề ngoài sản xuất và trao đổi hàng hóa đương nhiên là việc riêng của từng người họ độc lập và không chịu sự ràng buộc nào nhưng thực tế mọi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa đều chịu sự chi phối bởi quy luật giá trị Nếu ai có giá trị hàng hóa cá biệt thấp hơn so với giá trị HH xã hội, thì người đó sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại họ sẽ thua lỗ và phá sản

B Cơ chế biểu hiện của QLGT: Quy luật giá trị hoạt động được thể hiện thông qua sự vận động của

giá cả hàng hoá Vì giá trị là cơ sở của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên giá

cả phụ thuộc vào giá trị Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc và chịu tác động của quan

hệ cung - cầu trên thị trường, cạnh tranh, tình trạng độc quyền, sức mua của đồng tiền sự tác động này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và biến đổi lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó Hiện nay giá cả HH còn biến động bởi có sự can thiệp của NN vào nền Kinh tế

Quy luật giá trị hoạt động có biểu hiện là giá cả có thể tách rời giá trị của nó, “biên độ” của sự tách rời này tùy thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hóa và dịch vụ

Khi cung > cầu > giá cả < giá trị

Khi cung < cầu > giá cả > giá trị

Khi cung = cầu > giá cả = giá trị

Giá cả của một hàng hóa có thể cao hoặc thấp, nhưng bao giờ cũng xoay quanh trục giá trị hàng hóa Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng

* Chức năng, tác động của quy luật giá trị (T142-sgk)

Trang 38

- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, là điều hòa, phân bố các yếu tố sản xuất và sản phẩm giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế

+ Quy luật giá trị tự động điều tiết sản xuất thể hiện ở chỗ thu hút vốn (tư liệu SX và sức lao động) vào các ngành SX khác nhau (theo sự biến động cung, cầu, giá cả) tạo nên cơ cấu kinh tế hiệu quả hơn và đất ứng nhu cầu của xã hội

Người sản xuất hàng hóa sản xuất cái gì, bằng công nghệ gì và sản xuất cho ai là do họ quyết định Mục đích của họ là thu được nhiều lãi Dựa vào sự biến động của giá cả thị trường, người ta biết được hàng hóa nào đang thiếu, bán chạy, có giá cao và thu nhiều lãi (cung < cầu); loại hàng hóa nào đang ế, thừa, giá thấp (cung > cầu)… từ đó, họ sẽ quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất những mặt hàng đang thiếu, bán chạy, giá cao, nhiều lãi và ngược lại, họ sẽ thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa không sản xuất những mặt hàng

ế, thừa, không tiêu thụ được Kết quả là các nguồn lực sản xuất được chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác làm cho quy mô ngành này mở rộng, ngành kia thu hẹp Cơ cấu của cung tương đối thích ứng với cơ cấu của cầu trong nền kinh tế

HH B có giá cả thấp hơn giá trị, HH dư thừa, ế ẩm, những người SX có nguy cơ sẽ bị lỗ vốn Tình hình

đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng lên Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội

+ Quy luật giá trị tác động điều tiết lưu thông hàng hóa thể hiện ở chỗ, nó thu hút hàng

hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn Từ đó, phân phối các nguồn hàng hóa một cách hợp lý , góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định Nhờ đó phát hiện ra lợi thế, làm hình thành các vùng chuyên môn hóa sản xuất

Ví dụ : Đưa các loại trái cây trồng được nhiều, phù hợp đất đai, khí hậu, có năng suất cao ở miền Nam ra miền Bắc bán (trái chôm chôm…) và ngược lại đưa các loại trái cây trồng được nhiều, phù hợp đất đai, khí hậu, có năng suất cao ở miền Bắc vào miền Bắc bán (trái vải, mận…) sẽ thu lãi cao hơn Từ đó sẽ hình thành các vùng chuyên canh trồng các loại cây ăn trái này (Chôm chôm ở Long Khánh; Vải thiều

Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống Quá trình này diễn ra liên tục sẽ làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển

Ví dụ :

Trang 39

+ Cùng sản xuất một loại sản phẩm, công ty A có công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng nhiều công nhân

có tay nghề cao làm cho thời gian lao động cá biệt nhỏ thời gian lao động xã hội cần thiết, nên thu được lợi nhuận cao Công ty B sử dụng công nghệ SX lạc hậu, công nhân chủ yếu là thợ thủ công…làm cho thời gian lao động cá biệt lớn hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, nên khả năng công ty B

sẽ bị thua lỗ hoặc hòa vốn hoặc có thể bị phá sản

Vậy trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp (≤)với mức hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được

- Phân hóa những người SX thành giàu-nghèo

Những người sản xuất hàng hóa có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thắng trong cạnh tranh, sẽ thu được nhiều lãi, họ sẽ giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, trở thành chủ thể giàu có hơn và có thể sử dụng được nhiều hơn lao động làm thuê

Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, thậm chí có thể phá sản, họ trở thành người nghèo Như vậy, dưới tác động của quy luật giá trị, tất yếu dẫn đến kết quả là những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt, NSLĐ cao, HH đạt chất lượng… thì hàng hóa của họ sẽ bán chạy, thu lãi cao, họ sẽ trở thành giàu, ngược lại những người không có các điều kiện trên hoặc gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh nên bị thua lỗ, thậm chí dẫn tới phá sản, họ trở thành nghèo Như vậy tác động của quy luật giá trị một mặt đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển, mặt khác phân hóa xã hội thành hai cực giàu ,nghèo tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội Chính do tác động nhiều mặt của QLGT đã làm cho SXHH thực sự là khởi điểm ra đời của CNTB QLGT vừa ccó tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực một cách tự phát, khách quan Đòi hỏi những người SX phải nắm bắt và vận dụng tốt vào quá trình sản xuất hàng hoá của mình

Liên hệ thực tiễn:

Mác khẳng định, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị Hiện nay kinh tế nước ta đang trong thời kỳ phát triển cơ chế thị trường cho nên việc vận dụng quy luật giá trị là một quan điểm tất yếu

+ Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta phủ nhận sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị, nên không khai thác được các nguồn lực, nền kinh tế kém phát triển và khủng hoảng

Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo kiểu kế hoạch hóa tập trung và cùng với cơ chế quan

liêu bao cấp đã bắt đầu bộc lộ bất cập, tác động tiêu cực đến sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống

xã hội Tình hình KTXH ngày càng trở nên bức xúc, căng thẳng, lạm phát tăng nhanh, đồng tiền mất giá Thi trường nhà nước kiểm soát là thị trường mà các giá cả do nhà nước qui định Nhà nước lại không cung cấp đủ hàng cho người dân theo giá nhà nước, nên mọi người phải mua hàng ngoài thị trường tự

do với giá cao hơn Đời sống người lao động ngày một khó khăn hơn Do giá cả nhà nước qui định luôn thấp hơn giá cả thị trường tự do, và lại tăng theo từng chu kỳ, nên đã khuyến khích xu hướng đầu cơ và tích trữ hàng hoá kiếm lợi Sản xuất công

–nông-thương nghiệp và dịch vụ đều đình trệ Năng suất lao động vô cùng thấp, Mức sống nhân dân ngày càng giảm, thiếu đói, thiếu lương thực, thiếu hàng tiêu dùng Kinh tế nhà nước chiếm một tỷ trọng lớn nhất về tài sản cố định, lao động lành nghề và chất xám, nhưng lại làm ăn kém hiệu quả nhất, hàng năm đòi hỏi ngân sách nhà nước bao cấp lớn nhất, khu vức kinh tế tập thể cũng vậy; chỉ có khu vực tư nhân làm ăn có hiệu quả, nhưng lại chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế

Cơ chế mệnh lệnh quan liêu bao cấp đã ngự trị bền vững và bám rễ sâu chắc vào bộ máy kinh tế nhà nước Việt Nam, các cơ sở kinh tế một thời làm gì cũng phải xin lệnh cấp trên Sản suất cái gì, mẫu mã

gì, bán ở đâu, do ai cung cấp vật tư, thiết bị, được tuyển bao nhiêu công nhân viên, lương mỗi người

Trang 40

bao nhiêu v v đều do cấp trên qui định Cơ chế quan liêu này đã xoá hết tính độc lập tự chủ của các

cơ sở Chế độ độc quyền của nhà nước và cơ chế kinh tế kế hoạch, quan liêu, mệnh lệnh, bao cấp đã triệt tiêu mất các quan hệ thị trường ở Việt nam, làm cho nền kinh tế Việt Nam xa lạ với thị trường Tình trạng khan hiếm hàng hoá trên thị trường nhưng không được giải quyết bằng cách nhập khẩu hàng hoá bổ sung Đầu cơ phát triển, càng làm cho cung cầu không cân đối, đẩy giá cả lên cao hơn Điều đó

đã không làm phát huy được sự năng động sáng tạo của mỗi DN cũng như mỗi cá nhân trong DN Chính

vì vậy ta thấy giai đoạn này QLGT thực sự không được vận dụng và không phát huy được vai trò của nó đối với nền kinh tế

Trước những bất cập của nền kinh tế và khó khăn trong đời sống nhân dân, một số lãnh đạo cao cấp đã

“thai nghén” những tư duy cần phải thay đổi Tại Hội nghị Trung ương 6 diễn ra vào tháng 7-1984, ông Trường Chinh đã có bài phát biểu, trong đó đưa ra nhiều quan điểm mới về kinh tế: “Chế độ bao cấp trong những năm qua làm cho bức tranh kinh tế của chúng ta trở thành giả tạo Nay phải tiến hành hạch toán kinh doanh thật sự, phản ánh đầy đủ và đúng các chi phí sản xuất, xóa bỏ cách làm hình thức và nửa vời lâu nay, khôi phục tính chân thực của các hoạt động kinh tế Phải để cho các đơn vị kinh tế, các cơ

sở chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất và kinh doanh của mình, không trông chờ, lại vào cấp trên”

KL: Nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn về mọi mặt, nhất là trong phát triển kinh tế Do đó

chúng ta cần phải áp dụng những biện pháp phát triển kinh tế thật thận trọng, kh n trương, làm sao để

có hiệu quả nhất Chính vì vậy việc áp dụng quy luật giá trị vào phát triển kinh tế là rất quan trọng, cần phải thật linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của sự phát triển kinh tế, đồng thời phải vận dụng những thành tựu của khoa học kĩ thuật và kinh tế để phát triển đất nước

+ Trong thời kỳ đổi mới, chúng ta phát triển sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị hoạt động, tạo nên cạnh tranh, phát triển kinh tế…

Tại Hội nghị Trung ương 8 họp từ ngày 10 đến 17-6-1985, ông Trường Chinh lại đưa ra quan điểm:

“Chúng ta sẽ chấm dứt thời kỳ điều khiển nền kinh tế bằng những mệnh lệnh hành chính sang thời kỳ điều khiển nền kinh tế trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan”

Đại hội VI của Đảng ta năm 1986, Đại hội đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước Trong

đó, đổi mới về kinh tế là:

+ Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

+ Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế: cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa

+ Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế: Sản xuất lương thực, thực phẩm; Sản xuất hàng tiêu dung; Sản xuất hàng xuất khẩu

Tại Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cụ thể hơn: “ Cơ chế thị trường vận động trong môi trường tự do sản xuất lưu thông hàng hóa theo luật pháp Giá cả trong nước không thể tách rời giá cả trên thị trường quốc tế Nhà nước không dùng mệnh lệnh hành chính áp đặt giá mà sử dụng các chính sách, biện pháp kinh tế và lực lượng dự trữ để tác động lên quan hệ cung - cầu Chuyển toàn bộ các đơn vị kinh tế sang cơ chế kinh doanh”

Quả thật sau hơn 32 năm đổi mới, đất nước ta đã có rất nhiều thay đổi mà nhiều nước trên thế giới cũng phải ngạc nhiên Chúng ta đã làm được và đó chính là nhờ vào những chủ trương, đường lối đúng đắn của đảng và chính sách pháp luật của nhà nước, vận dụng hợp lý, sáng tạo các quy luật kinh tế, những bài học của các nước anh em trên thế giới và cùng với sự quyết tâm không mệt mỏi của mỗi người dân Việt Nam Mỗi DN là một chủ thể độc lập , họ phải tự tìm hướng đi cho mình Đối với các DN nhà nước thì nhà nước tách quyền sử dụng và quyền

sở hữu riêng, quyền sở hữu vẫn thuộc về nhà nước nhưng quyền sử dụng thì nhà nước giao cho DN Doanh nghiệp tự mình tổ chức hoạt động kinh doanh , tự nghiên cứu thị trường xác định mặt hàng sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất cho đến khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm Nhà nước chỉ thể hiện quyền

sở hữu của mình thông qua thuế và DN nộp lợi nhuận Nhà không còn can thiệp vào các hoạt động của

DN mà nhà nước chỉ can thiệp vào bằng các biện pháp vĩ mô để ổn định thị trường

Ngày đăng: 20/05/2020, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w