PHẦN MỞ ĐẦU Đối với nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu quốc tế cũng như nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ bên ngoài nên rơi vào vòng xoáy khủng hoảng thế giới là điều không thể tránh khỏi. Năm 2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 8,46%, chỉ một năm sau giảm xuống còn 6,31%. Sản xuất trong nước đình đốn, vốn đầu tư thấp có xu hướng giảm sút, tiêu dùng có dấu hiệu chậm lại, tình trạng thất nghiệp gia tăng nhanh. Trước tình hình đó, Chính phủ phải đưa ra biện pháp để giải quyết và đứng trước hai lựa chọn: một là, phải nhanh chóng thực hiện gói kích cầu và đương đầu với tình hình lạm phát gia tăng; hai là, ngồi yên và chờ đợi điều kỳ diệu nhưng điều này mất nhiều thời gian và rủi ro mang lại cũng rất lớn vì khả năng nền kinh tế tiếp tục suy thoái là hiện hữu. Hoàn cảnh đó việc Chính phủ thực hiện chính sách kích cầu nền kinh tế được đánh giá là phù hợp và mang lại hiệu quả ngắn hạn nhanh chóng. Tuy nhiên, nhìn lại quãng đường 5 năm đã qua của nền kinh tế nước ta từ khi áp dụng thực hiện chính sách kích cầu bên cạnh những đóng góp tích cực đối với sự phục hồi đà tăng trưởng kinh tế của đất nước trong năm 2010, thì từ năm 2011 đến nay với những biểu hiện không ổn định của nền kinh tế vĩ mô cũng cần phải nhìn nhận, đánh giá lại những mặt còn tồn tại trong gói kích cầu. Chính vì lẽ đó, em lựa chọn nội dung “Chính sách kích cầu đối với việc phục hồi tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” để làm bài thu hoạch cho môn học: Quản lý kinh tế.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Đối với nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu quốc tế cũng như nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ bên ngoài nên rơi vào vòng xoáy khủng hoảng thế giới là điều không thể tránh khỏi Năm 2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 8,46%, chỉ một năm sau giảm xuống còn 6,31% Sản xuất trong nước đình đốn, vốn đầu tư thấp có xu hướng giảm sút, tiêu dùng có dấu hiệu chậm lại, tình trạng thất nghiệp gia tăng nhanh Trước tình hình đó, Chính phủ phải đưa ra biện pháp
để giải quyết và đứng trước hai lựa chọn: một là, phải nhanh chóng thực hiện gói kích cầu và đương đầu với tình hình lạm phát gia tăng; hai là, ngồi yên và chờ đợi điều kỳ diệu nhưng điều này mất nhiều thời gian và rủi ro mang lại cũng rất lớn vì khả năng nền kinh tế tiếp tục suy thoái là hiện hữu Hoàn cảnh
đó việc Chính phủ thực hiện chính sách kích cầu nền kinh tế được đánh giá là phù hợp và mang lại hiệu quả ngắn hạn nhanh chóng
Tuy nhiên, nhìn lại quãng đường 5 năm đã qua của nền kinh tế nước ta
từ khi áp dụng thực hiện chính sách kích cầu bên cạnh những đóng góp tích cực đối với sự phục hồi đà tăng trưởng kinh tế của đất nước trong năm 2010, thì từ năm 2011 đến nay với những biểu hiện không ổn định của nền kinh tế
vĩ mô cũng cần phải nhìn nhận, đánh giá lại những mặt còn tồn tại trong gói
kích cầu Chính vì lẽ đó, em lựa chọn nội dung “Chính sách kích cầu đối với việc phục hồi tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” để làm bài thu hoạch cho môn học: Quản lý kinh tế.
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
1 Lý thuyết về chính sách kích cầu
1.1 Khái niệm kích cầu
Kích cầu là việc sử dụng các công cụ, chính sách để làm tăng các thành
tố của tổng cầu của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng Khi nền kinh tế suy thoái sẽ bị đẩy đến vòng luẩn quẩn đó là suy giảm kinh tế dẫn đến thất nghiệp, điều này gây nên sự suy giảm thu nhập và tiêu dùng của dân chúng và các doanh nghiệp làm cho tổng cầu giảm khiến cho đầu ra của các doanh nghiệp gặp khó khăn, sản xuất bị thu hẹp và đình trệ, tình trạng nhân công bị
sa thải và thất nghiệp gia tăng Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc khắc phục suy thoái kinh tế thông qua việc kích cầu là giảm thất nghiệp và duy trì việc làm
1.2 Một số chính sách kích cầu cơ bản
1.2.1 Kích cầu tiêu dùng
Điều dễ nhận thấy là khi thu nhập khả dụng tăng lên sẽ làm cho tiêu dùng tăng lên Do đó, chính phủ sẽ thực hiện chính sách tăng lương tối thiểu; giảm thuế thu nhập Mặc dù việc nâng lương tối thiểu cho người lao động có thể làm tăng tiêu dùng nhưng trong giai đoạn suy thoái là khó khả thi vì thời
kỳ này tỷ lệ thất nghiệp thường cao nên nếu tiếp tục tăng mức lương tối thiểu thì trên thị trường lao động, tình trạng thất nghiệp sẽ trầm trọng hơn Do vậy, cần tăng sự kỳ vọng lạc quan vào tương lai cũng như tăng cường tín dụng ưu đãi cho tiêu dùng
1.2.2 Kích cầu đầu tư
Đầu tư có thể được thực hiện cả trong ba khu vực: đầu tư công, đầu tư cá nhân và đầu tư nước ngoài Để tăng đầu tư, chính phủ có thể áp dụng các biện pháp sau:
Trang 3Thứ nhất, trực tiếp tăng đầu tư công: xây dựng tốt kết cấu hạ tầng kỹ
thuật như sân bay, bến cảng, đường xá, cầu cống,… giúp giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả lao động của các doanh nghiệp
Thứ hai, gián tiếp kích thích đầu tư tư nhân: miễn giảm thuế doanh
nghiệp, tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, hỗ trợ lãi suất Tuy nhiên, hỗ trợ lãi suất có tính hai mặt: tính hiệu quả và tính công bằng Xét về tính công bằng thì tất cả doanh nghiệp đều được tiếp cận hỗ trợ vốn như nhau Tuy nhiên, xét về tính hiệu quả thì cần có sự lựa chọn ưu tiên cho các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, nếu thực hiện tràn lan sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí
Thứ ba, chú trọng việc tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài: thông
thường đầu tư nội địa sẽ lớn hơn nhiều so với tiết kiệm trong nước do có sự
hỗ trợ của vốn nước ngoài Nguồn vốn nước ngoài đặc biệt là vốn FDI (đầu tư trực tiếp của nước ngoài) sẽ tạo ra một động lực lớn cho đầu tư tăng trưởng
1.2.3 Kích cầu thông qua chi tiêu của chính phủ
Về mặt lý thuyết, kích cầu bằng cách chi tiêu của chính phủ thông qua chính sách tài khóa là gia tăng chi tiêu mua sắm của chính phủ hay mua sắm phần chênh lệch lượng hàng hóa mà doanh nghiệp sản xuất và lượng hàng hóa được người dân tiêu dùng, giúp giữ niềm tin của doanh nghiệp, giữ nền kinh
tế bình ổn và giữ tổng cầu không sụt giảm Về thực tiễn, không phải tất cả doanh nghiệp đều có lợi từ chính sách này do việc lựa chọn hàng hóa và dịch
vụ trong chi tiêu mua sắm của chính phủ sẽ quyết định điều này
1.2.4 Kích cầu xuất khẩu
Xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập của người nước ngoài, ngoài ra còn phụ thuộc vào sở thích, thị hiếu của người nước ngoài, giá cả tương đối giữa hàng hóa trong nước và nước ngoài, chi phí vận tải… Để kich thích xuất khẩu cần thực thi các biện pháp:
Một là, trợ cấp xuất khẩu và chính sách tỷ giá hối đoái có thể giảm giá
hàng xuất khẩu Do khi tỷ giá đồng nội tệ giữ ở mức thấp thì hàng hóa trong
Trang 4nước sẽ rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hóa nước ngoài Vì thế nhập khẩu giảm và xuất khẩu tăng lên Tuy vậy, để thực hiện chính sách kiểm soát tỷ giá hối đoái này, đòi hỏi chính phủ phải có nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào, có khả năng tác động vào thị trường ngoại hối trước những biến động Ngoài ra còn các hình thức hỗ trợ gián tiếp như thủ tục hành chính thông thoáng, quảng
bá tuyên truyền, đa dạng hóa sản phẩm, giúp hàng hóa trong nước tiếp cận rộng hơn với thị trường người tiêu dùng nước ngoài
Hai là, chính sách thương mại quốc tế với các biện pháp như hàng rào
thuế quan, hạn ngạch và các rào cản kỹ thuật có thể hạn chế nhập khẩu Song trong thời kỳ hội nhập thì các biện pháp này trở nên lỗi thời hoặc không khả thi Do đó, có thể dùng các biện pháp: tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức tự tôn, ưa chuộng hàng nội của người dân Do đó, để biện pháp này thành công thì hàng nội phải mang tính cạnh tranh cả về giá cả và chất lượng
so với hàng ngoại nhập
1.3 Những nguyên tắc cơ bản của chính sách kích cầu
1.3.1 Kích cầu phải kịp thời
Tính kịp thời ở đây không phải chỉ là việc kích cầu được thực hiện một cách nhanh chóng khi xuất hiện nguy cơ suy thoái, mà còn có nghĩa là nếu được thực hiện phải đạt hiệu ứng kích thích ngay, tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế Do đó, việc kích cầu chỉ có thể được thực hiện một cách có ý nghĩa trong một khoảng thời gian nhất định Các chính sách mất quá nhiều thời gian sữ không có tác dụng, vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có thể phục hồi, và việc gói kích cầu lúc đó lại có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóng nền kinh tế dẫn đến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô lớn Chẳng hạn, các chương trình đầu tư, dự án có tốc độ giải ngân chậm không phải là những công cụ kích cầu tốt Bởi vì khi tổng cầu sụt giảm, thì các biện pháp này không có tác động gì tới tổng cầu trong lúc cần phải tăng tổng cầu lên nhiều nhất (để tránh các tác động tích cực của suy thoái như việc các doanh nghiệp sa thải công nhân)
Trang 51.3.2 Kích cầu phải đúng đối tượng
Gói kích cầu có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào xu hướng chi tiêu và đầu tư của các đối tượng thuộc diện nằm trong gói kích cầu
Để kích thích được cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, thì gói kích cầu phải được nhắm tời nhóm đối tượng sao cho gói kích cầu được sử dụng ngay (chi tiêu ngay), và qua đó làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế Hay cụ thể hơn, tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và cả chính quyền tiến hành các khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm chi tiêu
1.3.3 Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn
Nguyên tắc này có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được cải thiện Khi thực hiện các biện pháp kích cầu phải đảm bảo rằng các biện pháp giảm thuế, tăng chi tiêu chính phủ đều chỉ có tính tạm thời và sẽ chấm dứt khi nền kinh tế đã vượt qua suy thoái, sau đó có những biện pháp hạn chế
và giảm thâm hụt ngân sách Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa: (1) Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu; và (2) Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trong dài hạn
2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Những tác động tích cực đến nền kinh tế
Các giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng được thực hiện trong thời gian ngắn, bên cạnh những chính sách mới được ban hành Nhưng có thể nhận thấy rằng, việc thực hiện các giải pháp kích cầu đã mang lại nhiều kết quả tích cực
Một là, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng sau khủng hoảng kinh tế năm
2007, 2008 (từ 3,14% trong quý I/2009 tăng lên 6,9% trong quý IV/2009, tính bình quân cả năm đạt 5,32%)
Trang 6Hai là, nhờ tác động của các gói kích cầu, trong từng ngành, từng lĩnh
vực đều có sự chuyển biến rõ nét GDP khu vực công nghiệp và xây dựng hiện tại tăng 5,4%; khu vực dịch vụ tăng 6,5% so với giai đoạn trước khủng hoảng
Ba là, tổng kim ngạch nhập khẩu ngày càng cao Trong đó khối doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,87 tỷ USD, chiếm 36,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước
Bốn là, các cân đối và chỉ số kinh tế vĩ mô, như thu chi ngân sách, tiền
tệ, tín dụng, cán cân thanh toán quốc tế tương đối ổn định Chỉ số lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng) ở mức thấp Lạm phát đã giảm từ 19,9% năm 2008 xuống còn 6,5% năm 2009 Chỉ số giá tháng 4 năm 2009 so với tháng 12 năm
2008 chỉ tăng 1,68%, cùng với lãi suất giảm và hỗ trợ lãi suất 4% năm vừa tạo thêm thuận lợi giúp cho doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, phục hồi sản xuất, vừa hỗ trợ cho việc phát triển ổn định và an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng
Năm là, trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng
và động lực của sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai
Sáu là, nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của “gói kích
cầu” đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phần giảm bớt
áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội, tiếp tục hướng vào xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là đồng bào dân tộc, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; hỗ trợ nhân dân đón Tết tươi vui, đầm ấm, tiết kiệm; hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh Các chính sách hỗ trợ lãi suất tín dụng cho vay đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà ở nông thôn, nhà
xã hội, nhà ở cho người nghèo, ký túc xá cho sinh viên đang được triển khai một cách tích cực theo các mục tiêu đã đề ra
Trang 7Tóm lại, không thể phủ nhận rằng gói kích cầu thứ nhất đã có những tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam, góp phần đưa Việt Nam sớm thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế
2.2 Tiêu cực
Bên cạnh những hiệu quả tích cực, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế từ việc kích cầu nền kinh tế, bao gồm:
Thứ nhất, mục tiêu và định hướng chính sách kích cầu là không rõ
ràng, không có phân định giữa khái niệm kích cầu và kích cung hay giải cứu…Những chính sách đưa ra đều được đặt dưới cái tên kích cầu trong khi tác động thực tế của nó chưa chắc làm tăng tổng cầu của nền kinh tế
Thứ hai, gói hỗ trợ lãi suất có một số hạn chế tiềm tàng có thể nhận
thấy, cụ thể là: chính sách này không đến được những đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí có thể hỗ trợ nhầm đối tượng do tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước với ngân hàng thương mại và giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp, dẫn tới việc nhiều doanh nghiệp chưa hưởng chính sách hỗ trợ từ Nhà nước Tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung dài hạn thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất, kinh doanh cũng rất hạn chế
Thứ ba, với mức hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/năm là khá lớn, đối tượng
thụ hưởng thuộc nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế, nếu kéo dài sẽ phát sinh tâm
lý ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% có thể tạo ra sự bất bình đẳng, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp do khả năng tiếp cận nguồn vốn được hỗ trợ lãi suất của các doanh nghiệp không đồng đều Mặt khác, gói
hỗ trợ lãi suất 4% có thể dẫn đến sự suy giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam do chi phí vốn không được tính đúng và đầy đủ
Thứ tư, gói kích cầu không đáp ứng hoàn toàn 3 yêu cầu: kịp thời, đúng
đối tượng và vừa đủ (ngắn hạn) Mặc dù gói kích cầu được chính phủ kịp thời đưa ra nhưng tình hình triển khai còn chậm do vấn đề thủ tục hành chính
Trang 8Việc chậm triển khai gói kích cầu có thể làm giảm hiệu quả của gói kích cầu Mặt khác, việc duy trì gói kích cầu trong dài hạn có thể làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Đánh giá chung.
Có thể nói rằng giai đoạn từ năm 2012 đến Quý I/2014 đã có không ít chương trình kích cầu tín dụng nhằm khơi thông nguồn vốn còn ứ đọng ở các ngân hàng Trong đó, có chương trình kích cầu tín dụng bất động sản đã được thực hiện hơn 1 năm nhưng vẫn chưa tạo ra sức lan tỏa và tác động tích cực cho thị trường Bên cạnh đó, kinh tế trong nước vẫn còn khó khăn, thu nhập không cao so với kỳ vọng nên người dân cũng cân nhắc hơn trong chi tiêu, chỉ tập trung vào các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày Trước thực
tế này, nhằm khơi thông sức mua, tháo gỡ nút thắt thị trường hiện nay, biện pháp kích cầu tiêu dùng đã được đặt ra Tuy vậy, trong dài hạn yếu tố quan trọng nhất là mỗi doanh nghiệp phải nỗ lực đầu tư, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm giúp giảm giá thành sản xuất về mức hợp lý, đồng thời chất lượng sản phẩm tăng lên Đây là hai yếu tố cơ bản để người tiêu dùng mở hầu bao mua sắm
Mặt khác, cũng cần phải nói thêm, các chương trình kích cầu chỉ cứu được “ngọn”, chứ không thể chữa được “gốc” của vấn đề Chẳng hạn như mục tiêu của gói kích cầu tín dụng bất động sản là giải cứu thị trường bất động sản
để tạo điều kiện cho việc xử lý nợ xấu của ngân hàng nhanh hơn Nhưng để giải cứu được thị trường này hoàn toàn không dễ dàng trong ngắn hạn Điều quan trọng trước mắt là phải tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu ngành ngân hàng, đưa đồng tiền gửi của người dân vào hoạt động sản xuất - kinh doanh (kể cả đầu tư) một cách an toàn, chính đáng
3 MỘT GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM BỐI CẢNH HIỆN NAY
3.1 Nhóm giải pháp kích cầu sản xuất
Trang 9Một là, tập trung mọi nguồn lực tài chính đầu tư hỗ trợ các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, mở rộng dịch vụ theo hướng tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu
Thứ hai, hỗ trợ lãi suất vốn vay trong chương trình kích cầu nên ưu
tiên cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể tạo thêm nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động đang thất nghiệp hoặc lao động dư thừa ở khu vực nông thôn vốn đang thiếu việc làm nghiêm trọng do tác động trực tiếp của suy thoái kinh tế toàn cầu
Thứ ba, tập trung cao độ cho những ngành và lĩnh vực yếu thế nhưng
còn nhiều tiềm năng phát triển toàn diện, tăng trưởng cao, hấp thụ vốn nhanh, trước hết là nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Thứ tư, tăng cường sự phối hợp của các bộ, ngành Trung ương, các địa
phương trong chỉ đạo, triển khai các biện pháp kích cầu của Chính phủ cho sản xuất, dịch vụ Các giải pháp trước mắt là: Các bộ, ngành quan liên quan rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư, sửa đổi những bất cập làm ảnh hưởng đến tiến độ các dự án đầu tư kích cầu
3.2 Nhóm giải pháp kích cầu tiêu dùng
Một là, Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành liên quan cần
thực hiện các biện pháp phát triển mạng lưới phân phối, mở rộng hệ thống bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là ở khu vực vùng sâu, vùng xa để tạo điều kiện thuận lợi cung cấp các mặt hàng vật tư tiêu dùng thiết yếu
Hai là, nghiên cứu kích cầu tiêu dùng khu vực nhà nước Chính phủ
cũng nên là một đối tượng tiêu dùng để kích cầu tiêu dùng Tiêu dùng của xã hội luôn gắn chặt với tiêu dùng của Chính phủ Bởi vậy, trong giai đoạn khó khăn, chi tiêu của Chính phủ càng cần thiết, có thể sẽ tạo ra công ăn việc làm, kéo theo nhiều ngành hàng dịch vụ phát triển theo, nhiều công trình hạ tầng được xây dựng
Ba là, tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ đến
những thị trường còn tiềm năng, những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như
Trang 10nông sản với giá cả hợp lý trong giai đoạn hiện nay Song song với kích cầu tiêu dùng trong nước, cần mở rộng thị trường xuất khẩu ra thị trường các nước ít chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế như Trung Quốc, các nước châu
á, châu Phi, Trung Đông