1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học việt nam ở trường trung học phổ thông

173 161 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc vận dụng lí thuyết THTM vào việc phân tích, cảm thụ vẻ đẹp của các hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương phát triển nhanh với các công trình nghiên cứu của các tác giả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

HỒ LÊ PHÁP

TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Việt Nam ở trường Trung học phổ thông là một công trình nghiên cứu của cá nhân

dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Vân Anh

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực, hoàn toàn không sao chép hoặc sử dụng kết quả nghiên cứu của những đề tài tương tự Nếu phát hiện có sự sao chép kết quả nghiên cứu của đề tài khác, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Bình Định, ngày 13, tháng 9, năm 2021

Tác giả đề tài

Hồ Lê Pháp

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp luận văn 6

7 Bố cục luận văn 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ 7

1.1.1 Tín hiệu 7

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 9

1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ 13

1.2 Những vấn đề cơ bản của trường nghĩa 20

1.2.1 Khái niệm trường nghĩa 20

1.2.2 Các loại trường nghĩa 22

1.2.3 Ngữ nghĩa của trường nghĩa 26

1.3 Một số vấn đề về ngữ cảnh của các tín hiệu thẩm mĩ 27

Tiểu kết chương 1 28

Trang 4

CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN HÌNH THỨC CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 29

2.1 Dẫn nhập 29 2.2 Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ điển hình qua trường nghĩa 31 2.2.1 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên 31 2.2.2 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 38 2.2.3 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa thực vật 46 2.2.4 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc

trường nghĩa động vật 51Tiểu kết chương 2 54

CHƯƠNG 3 BIỂU HIỆN Ý NGHĨA CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM

MỸ TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 56

3.1 Ý nghĩa – cái được biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ 56 3.2 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình trong tác phẩm văn học 58 3.2.1 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên 58 3.2.2 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 70 3.2.3 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa thực vật 78 3.2.4 Ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa động vật 88

Trang 5

3.3 Ứng dụng nguyên lí tín hiệu học vào phân tích bài thơ Đàn ghi ta của

Lor-ca 93

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTKH Biến thể kết hợp BTQH Biến thể quan hệ BTTV Biến thể từ vựng CBĐ Cái biểu đạt CĐBĐ Cái được biểu đạt

HTTN Hiện tượng tự nhiên

THNN Tín hiệu ngôn ngữ THPT Trung học phổ thông THTM Tín hiệu thẩm mĩ

Trang 7

Bảng 2.5: Bảng thống kê tần suất của THTM thuyền, đèn, áo trong các

BTTV 43

Bảng 2.6: Bảng thống kê tần suất của THTM thuyền, đèn, áo trong các

BTKH 44 Bảng 2.7: Bảng thống kê các THTM thuộc trường nghĩa thực vật 46 Bảng 2.8: Bảng thống kê các THTM thuộc trường nghĩa động vật 51

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ xuất hiện của THTM thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên 33 Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ xuất hiện của THTM thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 41 Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ xuất hiện của THTM thuộc trường nghĩa thực vật 48

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

“Văn học là nghệ thuật ngôn từ”, tác phẩm văn chương là sản phẩm của

một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu vừa để phản ánh hiện thực khách quan của đời sống, vừa gửi gắm, giải bày tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của chủ thể trữ tình Cho nên, tiếp nhận tác phẩm văn học từ các yếu tố ngôn ngữ có thể xem là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đi vào khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm, tìm hiểu tâm tư, tình cảm của nhà văn được biểu hiện trong đó

Trong thực tế, việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường có rất nhiều quan điểm, hướng đi Song, trong những năm gần đây, nhiều vấn đề của văn học đang được soi rọi dưới cái nhìn của ngôn ngữ học hiện đại, trong đó lí thuyết về tín hiệu tỏ ra rất có ưu thế

Ngôn ngữ đi vào trong văn chương sẽ được chuyển hóa thành một tín hiệu nghệ thuật, tín hiệu thẩm mĩ (THTM), có chức năng tác động sâu sắc đến nhận thức và tình cảm con người, khơi gợi, bồi dưỡng những cảm xúc thẩm

mĩ, hướng đến những giá trị nhân văn cao đẹp

Đã có nhiều luận án, luận văn, báo cáo khoa học thể hiện sự quan tâm sâu sắc trong việc nghiên cứu THTM nói chung và sự biểu hiện THTM trong các tác phẩm văn chương nói riêng Tuy nhiên, về hệ thống THTM trong các tác phẩm văn học ở trường trung học phổ thông (THPT), cho đến nay vẫn còn

ít các công trình nghiên cứu

Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Việt Nam ở trường Trung học phổ thông để tiến hành nghiên

cứu Với những kết quả đạt được, chúng tôi muốn góp thêm một cách tiếp nhận văn học từ góc nhìn tín hiệu học trong quá trình khám phá cái hay, cái

Trang 10

đẹp của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Việc tìm ra bản chất, quá trình ra đời và tồn tại cũng như sự biểu hiện của các THTM giúp cho việc khám phá, cảm thụ tác phẩm văn học trong nhà trường trở nên thấu đáo và sâu sắc hơn

2 Lịch sử vấn đề

Thuật ngữ THTM ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỉ XX, được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 70 của thế kỉ trước bởi những công trình dịch của Iu

A Philipiep, M.B Khrapchenkô Ở nước ta, tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc độ tín hiệu học đang thu hút nhiều nhà nghiên cứu, trong đó vấn đề THTM tỏ ra rất có ưu thế Cũng đã có không ít những công trình nghiên cứu

về vấn đề này, trong đó có thể kể đến các tác giả như: Đỗ Hữu Châu, Hoàng Trinh, Hoàng Tuệ, Trần Đình Sử, Nguyễn Lai, Đái Xuân Ninh, …

Đáng chú ý nhất là bài viết Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học của Đỗ Hữu Châu Đây được xem là công trình đầu

tiên của nước ta cung cấp một cách nhìn tương đối toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về khái niệm, đặc trưng của THTM, về quan hệ giữa THTM với ngôn ngữ và cách tiếp cận ngôn ngữ - THTM trong tác phẩm văn học

Trong những năm gần đây, đã có nhiều luận án, luận văn triển khai theo hướng nghiên cứu này cho thấy ý nghĩa thực tiễn của hướng nghiên cứu văn học từ góc độ tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ đang chiếm được nhiều sự quan tâm Việc vận dụng lí thuyết THTM vào việc phân tích, cảm thụ vẻ đẹp của các hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương phát triển nhanh với các công trình nghiên cứu của các tác giả như:

- Nguyễn Thị Vân Anh (Chủ biên), (2021), Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm thơ ca ở trường trung học phổ thông, NXB Đà Nẵng

- Trương Thị Nhàn (1995), Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ - không gian trong ca dao, Luận án phó tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 11

- Phạm Văn Lợi (2014), Trường nghĩa mặt trời và các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ ca Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX, Luận văn thạc sĩ, Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội

- Nguyễn Ngọc Bích (2008), Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ “hoa” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện: Kết học, nghĩa học, dụng học,

Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội

- Đỗ Ngọc Thư (2008), Khảo sát tín hiệu thẩm mĩ “Mùa xuân” và “Trái tim” trong thơ Xuân Diệu, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Nghiên cứu về các THTM trong các tác phẩm văn học Việt Nam ở trường THPT đã có bài báo của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh và Nguyễn Thị

Thùy Trang “Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên trong tác phẩm thơ ca ở trường Trung học phổ thông” Các tác giả đã nghiên cứu

trên một thể loại – thơ ca, khảo sát và phân loại dựa trên trường nghĩa hiện tượng tự nhiên

Với đề tài Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Việt Nam ở trường Trung học phổ thông, chúng tôi sẽ phác họa một bức tranh toàn diện về hệ

thống THTM, cung cấp một sự đánh giá tổng quan những biểu hiện hình thức

và ý nghĩa của các THTM trong các tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở trường THPT

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu cách tiếp cận tác phẩm văn học Việt Nam ở trường THPT dựa trên những cơ sở lí thuyết về THTM, tiến hành khảo sát, phân loại

hệ thống THTM theo các trường nghĩa, sau đó tìm hiểu biểu hiện hình thức và biểu hiện ý nghĩa thẩm mĩ của chúng đặt trong tương quan với nội dung, chủ

đề, đề tài của tác phẩm Từ đó, chúng tôi mong muốn đóng góp một hướng tiếp cận mới trong việc phân tích, luận giải các hình tượng nghệ thuật văn học nói riêng và cảm thụ tác phẩm văn học nói chung

Trang 12

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn tập trung ở ba nhiệm vụ cụ thể như sau: Trước hết, chúng tôi hệ thống hóa những vấn đề lí thuyết về tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ (THNN), THTM, vấn đề trường nghĩa, ngữ cảnh

Tiếp đến, chúng tôi tiến hành khảo sát hệ thống THTM ở phương diện biểu hiện hình thức trong các văn bản văn học Việt Nam dựa trên các tiêu chí

về trường nghĩa

Dựa vào những biểu hiện hình thức của các THTM đã khảo sát và phân tích ở bước hai, chúng tôi tìm hiểu những biểu hiện ý nghĩa của các THTM để xem chúng vận hành và biến đổi như thế nào thông qua những tác phẩm văn học văn học khác nhau Từ đó, có cái nhìn và sự đánh giá khái quát về giá trị thẩm mĩ của các hình tượng văn học được đưa vào giảng dạy ở bậc THPT

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là hệ thống THTM trong các tác phẩm văn học Việt Nam ở trường THPT Dựa trên cơ sở lí thuyết về THTM, chúng tôi tiến hành khảo sát các tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn lớp

10, 11, 12 hiện nay theo chương trình chuẩn (đã được dạy học từ năm học

2006 – 2007 đến nay)

Việc lí giải, phân tích các THTM trong các văn bản thuộc văn học nước ngoài, văn học chữ Hán, văn học các dân tộc khác cần được cân nhắc đó là ngôn từ của tác giả hay của người phiên dịch Bởi vì, khi dịch sang tiếng Việt, những văn bản này ít nhiều có sự gia công, xử lí theo chủ quan người dịch Cho nên, những văn bản ấy sẽ nằm ngoài phạm vi khảo sát của chúng tôi

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã khảo sát 68 văn bản văn học Việt Nam trong chương trình hiện hành Cụ thể là các văn bản sau:

- Chương trình Ngữ văn lớp 10: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy; Tấm Cám; Tam đại con gà; Nhưng nó phải bằng hai mày; Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa; Ca dao hài hước; Cảnh ngày hè; Nhàn; Truyện

Trang 13

Kiều (Trao duyên; Nỗi thương mình; Chí khí anh hùng; Thề nguyền)

- Chương trình Ngữ văn lớp 11: Tự tình; Câu cá mùa thu; Thương vợ; Khóc Dương Khuê; Vịnh khoa Thi Hương; Bài ca ngất ngưởng; Lẽ ghét thương; Chạy giặc; Bài ca phong cảnh Hương Sơn; Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc; Chiếu cầu hiền; Xin lập khoa luật; Hai đứa trẻ; Chữ người tử tù; Hạnh phúc của một tang gia; Chí Phèo; Cha con nghĩa nặng; Vi hành; Tinh thần thể dục; Vĩnh biệt Cửu Trùng đài; Hầu trời; Vội vàng; Tràng giang; Đây thôn Vĩ Dạ; Từ ấy; Nhớ đồng; Tương tư; Chiều xuân; Về luân lí xã hội nước ta; Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức; Một thời đại trong thi ca

- Chương trình Ngữ văn lớp 12: Tuyên ngôn độc lập; Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc; Mấy ý nghĩ về thơ; Tây Tiến; Việt Bắc; Đất Nước; Tiếng hát con tàu;

Đò Lèn; Sóng; Đàn ghi ta của Lor – ca; Bác ơi!; Người lái đò Sông Đà; Ai

đã đặt tên cho dòng sông?; Những ngày đầu của nước Việt Nam mới; Vợ chồng A Phủ; Vợ nhặt; Rừng xà nu; Bắt sấu rừng U Minh Hạ; Những đứa con trong gia đình; Chiếc thuyền ngoài xa; Mùa lá rụng trong vườn; Một người Hà Nội; Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Nhìn về vốn văn hóa dân tộc

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích và miêu tả ngôn ngữ học là chủ yếu Trên cơ sở những tư liệu thu thập và xử lí, trên nền tảng số liệu khảo sát, chúng tôi miêu tả các hình thức ngôn ngữ, các bình diện nghĩa; phân tích ngữ nghĩa, ngữ cảnh; phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các mặt của từng đơn vị, giữa các bình diện, đặc biệt tìm sự đồng nhất và đối lập giữa các nghĩa trong hệ thống của các THTM đang nghiên cứu

Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thủ pháp thông kê, phân loại nhằm thống kê tần số xuất hiện của các THTM thuộc các trường nghĩa khác nhau trong các tác phẩm văn học Việt Nam được đưa vào giảng dạy; từ đó, sắp xếp chúng

Trang 14

vào nhóm tín hiệu có chung đặc điểm

7 Bố cục luận văn

Luận văn chúng tôi chia thành 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung của luận văn chúng tôi được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chúng tôi sẽ hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết như: lí thuyết về bộ ba Tín hiệu - THNN - THTM, lí thuyết về trường nghĩa của từ và vấn đề ngữ cảnh của THTM Đây là cơ sở để chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích biểu hiện hình thức và ý nghĩa của các THTM ở hai chương tiếp theo

Chương 2: Biểu hiện hình thức của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Việt Nam ở trường trung học phổ thông

Dựa vào cơ sở lý thuyết ở chương 1, chúng tôi khảo sát, thống kê biểu hiện hình thức của các THTM theo các trường nghĩa, nghiên cứu chúng trong các biến thể

Chương 3: Biểu hiện ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Việt Nam ở trường trung học phổ thông

Chúng tôi tập trung vào biểu hiện ý nghĩa của các THTM trong thực tiễn hành chức của văn chương, khám phá những nét nghĩa phái sinh đặc sắc trong từng ngữ cảnh của tác phẩm

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ

1.1.1 Tín hiệu

1.1.1.1 Khái niệm tín hiệu

Trong đời sống, để đạt hiệu quả giao tiếp, để trao đổi thông tin với nhau, người ta thường sử dụng các tín hiệu (TH) Do đó, một chuyên ngành khoa

học ra đời mang tên Tín hiệu học để nghiên cứu chuyên sâu về TH Vậy, TH

là gì?

Đã có nhiều quan niệm khác nhau về TH Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chọn định nghĩa của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán trong cuốn giáo trình

Nhập môn ngôn ngữ học TH được định nghĩa như sau:

“Tín hiệu là dấu hiệu quy ước để truyền đạt thông tin Đó là một sự vật, một hiện tượng kích thích vào giác quan của ta, làm cho ta tri giác được, lí giải và nghĩ tới một cái gì đó ngoài sự vật, hiện tượng ấy” [10, 34]

TH là một dạng vật chất tồn tại trong tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra, mang tính quy ước nhất định và được tập thể xã hội thừa nhận TH tự nhiên là những sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan trong tự nhiên, độc lập

với ý muốn con người, ví dụ: mây đen, sấm chớp, trời ráng mỡ gà, đêm trời nhiều sao, chuồn chuồn bay thấp, hoa phượng nở…TH nhân tạo là một dạng

hình thức vật chất do con người tạo ra hoặc mượn để truyền tải một nội dung

thông tin, biểu hiện một ý niệm nào đó, ví dụ: tiếng còi tàu, trống trường, chuông nhà thờ, biển báo giao thông, …

Như vậy, một TH nhân tạo sẽ thường bao gồm 2 thuộc tính như sau:

Trang 16

Một tín hiệu thường có hai mặt: cái biểu đạt (signifiant) (CBĐ) và cái được biểu đạt (signifie) (CĐBĐ) kết hợp với nhau theo quan hệ võ đoán Sự gắn bó giữa CBĐ và CĐBĐ giống như hai mặt của một tờ giấy, hễ có một là

có cả hai, không thể tách rời được Có thể hình dung như sau:

hay

1.1.1.2 Phân loại tín hiệu

Các nhà nghiên cứu TH học đã phân các TH thành những phạm trù khác nhau K.Buhler chia các TH thành: symbole (TH chỉ ra sự vật, đối tượng); symptome (TH bộc lộ trạng thái tâm sinh lý, tư tưởng, tình cảm của người nói); signal (TH gây tác động tâm sinh lý cho người nghe)

Ch.S Pierce phân chia TH thành ba loại chính: hình hiệu (icones), chỉ hiệu (index) và ước hiệu (symbol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ mà F de Saussure đã đưa ra Theo đó, đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ CBĐ và CĐBĐ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được

Morris dựa vào mối quan hệ giữa TH với các loại sự vật mà chúng biểu thị để chia TH thành hai loại: chỉ hiệu (singel indexes) và định hiệu (singnes caracterisant) Tiếp theo, ông lại phân chia các định hiệu ra thành hình hiệu và biểu trưng (symbole)

Cấm hút thuốc

Trang 17

P Guiraud từ năm 1950 đã đưa ra bảng phân loại TH Ông phân chia TH dựa trên mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người Trong đó, tác giả quan tâm tới những TH biểu hiện (TH không giao tiếp) Những TH biểu hiện về bản chất là các hình hiệu và chức năng của chúng không phải là công

cụ giao tiếp mà là công cụ để phản ánh, miêu tả thực tế khách quan Chúng là sản phẩm của các loại hình nghệ thuật và thuộc đối tượng nghiên cứu của

Nghệ thuật học

P Guiraud tiếp tục phân chia TH thành TH tự nhiên và TH nhân tạo Trong TH nhân tạo, ông lại phân tích thành TH giao tiếp và TH không giao tiếp Ông còn dựa theo đặc tính thể chất của TH mà phân chia các TH thành

TH thị giác, TH thính giác, TH xúc giác Theo đặc tính chuyển mã hay chưa chuyển mã, ông chia các TH thành TH thứ cấp (còn gọi là ký hiệu) và TH sơ cấp P Guiraud cũng chỉ ra sự xâm nhập lẫn nhau của các loại TH

Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa ra bảng phân loại TH theo quan điểm riêng của mình Theo ông, TH là một thực thể đa diện cho nên căn cứ vào các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phân loại Những tiêu chí phân loại mà tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra là: 1) Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2) Dựa vào nguồn gốc của TH, 3) Dựa vào mối quan hệ giữa các biểu hiện và cái được biểu hiện, 4) Căn cứ vào chức năng xã hội của

TH [3, 715-718]

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản nhất và quan trọng nhất, đó là chức năng tư duy và chức năng giao tiếp Để thực hiện hai chức năng này, ngôn ngữ được tổ chức theo hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tín hiệu và nguyên

tắc hệ thống Nói cách khác ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu

Dựa trên lí thuyết TH học, mỗi TH luôn có hai mặt là CBĐ (hình thức)

Trang 18

và CĐBĐ (nội dung), F de Saussure xác định THNN như sau: “THNN kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh Hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này sẽ có cái kia Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu đạt và hình ảnh âm thanh được gọi là cái biểu đạt” [27, 121] Bản chất của THNN

luôn có tính hai mặt, quan hệ khăng khít, gắn bó, không thể tách rời

thức âm thanh và chữ viết như thế nào hoàn toàn do sự quy ước lâu đời của dân tộc ấy, quốc gia ấy, không thể giải thích xác đáng

THNN có tính hình tuyến Không như những TH khác có thể xuất hiện đồng thời trong cùng không gian, thời gian; THNN lần lượt xuất hiện, lần lượt được lĩnh hội theo trật tự tuyết tính Người ta không thể cùng một lúc nói được nhiều tiếng mà phải phát âm lần lược từng tiếng theo dòng ngữ

lưu, hết cái này rồi tới cái khác; điều này hoàn toàn tương tự khi viết Tính

hình tuyến tạo nhiều ưu thế trong sáng tạo văn chương Nhờ đó, nhà văn thỏa sức đi sâu vào tâm lí nhân vật mà không lo bị giới hạn về thời gian Tuy nhiên, vì tính hình tuyến mà ngôn ngữ bị hạn chế khi muốn diễn tả

NHÀ

CBĐ

CĐBĐ

TH

Trang 19

những sự kiện hay trạng thái tình cảm, cảm xúc diễn ra đồng thời ở cùng thời điểm và không gian khác nhau

THNN không riêng lẻ, rời rạc mà nằm trong hệ thống nhất định F de

Saussure cho rằng: “Thường người ta không nói bằng tín hiệu riêng lẻ, mà bằng từng nhóm tín hiệu, từng khối có tổ chức, vốn cũng là tín hiệu.” [27, 221] Chẳng hạn trong văn chương, một số TH đi theo từng cặp như: mận – đào, thuyền – bến, hoa – bướm,…

Thuyền đi để bến đợi chờ

Tình đi, nghĩa ở bao giờ quên nhau Chẳng nên tình trước nghĩa sau

Bến này dãi bóng, trăng thâu đợi thuyền

(Ca dao)

Trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu coi ngôn ngữ là hệ

thống tín hiệu sơ cấp được xây dựng với những thể chất tinh thần và vật chất Ông lưu ý về đặc tính đa chức năng của các THNN so với các TH khác nói chung và TH mang chức năng giao tiếp nói riêng Nếu các TH khác trong hệ thống chỉ mang chức năng TH học thì THNN không thuần túy là chức năng giao tiếp, đồng thời còn là công cụ tư duy, để tổ chức xã hội, để thỏa mãn những nhu cầu thẩm mĩ,…Vì vậy, THNN vừa là phương tiện giao tiếp, công

cụ để nhận thức, biểu hiện, …

Từ các phương diện, chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định

ý nghĩa TH của chúng trên tất cả những đơn vị mang ý nghĩa (tức đơn vị có hai mặt): từ, cụm từ, câu, đoạn, văn bản Mỗi một THNN vừa mang những thông tin về sự vật, hiện tượng được nói đến, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phương, lối sống, sinh hoạt, trạng thái tâm lí của con người Chẳng hạn, khi đọc những câu ca dao sau:

Cây đa, bến nước, con đò

Trang 20

Biết rằng bạn cũ còn chờ ta không

Ví dù hết đợi hết trông

Cây đa còn đó, tấm lòng còn đây

Cây đa, bến nước, con đò đã trở thành những hình ảnh thân thuộc của mỗi làng quê Bắc Bộ Việt Nam Ngoài ý nghĩa sự vật, hình ảnh cây đa – bến nước còn mang ý nghĩa biểu tượng Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là

sự trường tồn, sức sống dẻo dai Cùng với sự trường tồn ấy, cây đa – bến nước thường là không gian sinh hoạt văn hóa văn nghệ của người dân làng, là nơi chuyện trò, tâm tình của những đôi trai gái yêu nhau, …

Mỗi THNN đều bao hàm một hình thức ngữ âm và một nội dung ngữ nghĩa tương ứng Giá trị của THNN do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định Tuy nhiên, ngôn ngữ là một hệ thống TH phức tạp bao gồm nhiều yếu tố đồng loại và không đồng loại, số lượng không xác định Do

đó, nó sẽ tạo ra những hệ thống lớn và nhiều hệ thống con khác nhau Mỗi hệ thống con sẽ bao gồm các yếu tố tương đối đồng loại Chẳng hạn:

Hệ thống THNN tồn tại nhiều kiểu quan hệ tương đối phức tạp F de Saussure đã nêu ra hai loại quan hệ chung nhất, đó là: 1) Quan hệ đồng nhất – đối lập và quan hệ khác biệt; 2) Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến Trong ngôn ngữ học hiện đại, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến các loại

Ngữ cố định Thành ngữ

Quán ngữ Ngữ pháp

Trang 21

quan hệ như: quan hệ tôn ti, quan hệ hiện thực hóa,…Chính các nguyên tắc đồng nhất và đối lập, kết hợp và liên tưởng, điển dạng và hiện dạng trong hệ thống ngôn ngữ sẽ là những cơ sở lí thuyết để chúng ta lí giải về các THNN trong giao tiếp đời sống và cả giao tiếp văn chương

Đặc tính hai mặt của THNN đã được Đỗ Hữu Châu đặt trong chức năng

xã hội của ngôn ngữ, biểu hiện trong hoạt động của toàn bộ hệ thống, qua những mối quan hệ ngang (tuyến tính, ngữ đoạn, cú đoạn, khả năng kết hợp các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành một đơn vị cao hơn) và mối quan hệ giữa các cấp độ của hệ thống ngôn ngữ

1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ

1.1.3.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ

Thẩm mĩ (chữ Hán: 審美) nghĩa là “cái đẹp” Mỗi loại hình nghệ thuật tuy được tạo ra bằng những chất liệu và phương thức khác nhau nhưng nhìn chung đều có chức năng thẩm mĩ, biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng tình cảm, cảm xúc về cái đẹp

Ngôn ngữ đi vào trong văn chương sẽ được chuyển hóa thành một TH nghệ thuật, THTM, có chức năng tác động sâu sắc đến nhận thức và tình cảm con người, khơi gợi, bồi dưỡng những cảm xúc thẩm mĩ, hướng đến những giá trị nhân văn cao đẹp Vậy THTM là gì?

Theo tác giả Bùi Minh Toán: “Tín hiệu thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp

Nó cũng cần có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nhưng cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ.” [30, 139]

Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chọn khái niệm THTM của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh làm cơ sở lí thuyết Tác giả định

nghĩa như sau: “Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật nhằm biểu hiện nội

Trang 22

dung thẩm mĩ Tính thẩm mĩ của các tín hiệu thẩm mĩ biểu hiện ở sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng nằm ở cả nội dung và hình thức của tín hiệu.” [1, 20]

Cũng như mọi TH trong đời sống, THTM cũng có hai mặt là CBĐ và CĐBĐ Nhưng ở đây CĐBĐ của THTM chính là ý nghĩa thẩm mĩ Nghĩa là

TH hai mặt của ngôn ngữ tự nhiên chỉ là CBĐ của THTM

Mối quan hệ giữa THNN và THTM có thể hình dung như sau:

THTM CBĐ

(Tổng thể hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ)

CĐBĐ

(Ý nghĩa thẩm mĩ) CBĐ (hình thức ngôn ngữ) CĐBĐ (ý nghĩa ngôn ngữ)

Từ sơ đồ này, có thể thấy tổng thể CBĐ và CĐBĐ trong của một THNN

tự nhiên đã trở thành CBĐ của THTM mà CĐBĐ tương ứng chính là những ý nghĩa thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương Chính vì thế, trong văn học không được đồng nhất phương tiện văn học THTM và THNN thông thường được sử dụng làm chất liệu của tác phẩm văn học Sự khác biệt có tính vượt cấp này là

do vai trò trò quyết định của chủ thể sáng tạo Bởi thế, nói theo Ch.Bally, giữa cách dùng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không vượt qua được

Điều đáng chú ý ở đây là nếu mối quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ trong ngôn ngữ tự nhiên là võ đoán thì mối quan hệ hai mặt này của THTM là có thể giải thích được và thường là ý nghĩa lâm thời đặt trong ngữ cảnh cụ thể THNN tự nhiên muốn trở thành THTM trong tác phẩm nghệ thuật thì phải trải qua một quá trình khái quát hóa nghệ thuật mang tính biểu trưng để đạt đến ý

nghĩa thẩm mĩ Chẳng hạn, cùng là THTM hoa, nhưng qua cách sử dụng của mỗi tác giả, ý nghĩa thẩm mĩ của chúng lại không như nhau: hoa có khi là

người con gái đẹp:

Trang 23

Hoa này bướm nỡ thờ ơ

Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng (Cung oán ngâm khúc– Nguyễn Gia Thiều) Hoa trong trường hợp dưới đây lại là những đấng trượng phu, quân tử:

Phượng những tiếc cao diều hãy liệng

Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi

(Tự thuật - Nguyễn Trãi) 1.1.3.2 Đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ

- Đặc tính về nguồn gốc: THTM trong các tác phẩm văn chương, trước hết có nguồn gốc từ thế giới tự nhiên và xã hội, bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống xung quanh con người Những sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên thì muôn màu, muôn vẻ Khi sáng tác, tác giả sẽ dùng nhiều giác quan để quan sát, cảm nghiệm, phát hiện ra những ý nghĩa thẩm mĩ tiềm tàng trong đó Bắt nguồn từ một thực tế trong tự nhiên là những con sóng trên biển, lúc cao, lúc thấp, lúc cuộn xoáy, lúc lặng yên; Xuân Quỳnh đã tìm thấy sự tương

đồng giữa sóng và em trong tình yêu:

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

ta bắt gặp vô vàn những THTM có nguồn gốc từ kho tàng văn học dân gian,

Trang 24

văn học cổ trong và ngoài nước,…; ví dụ, những hình ảnh như: con đò, bến nước, sân đình vốn là những thi liệu quen thuộc trong thơ ca dân gian mang đậm hồn quê Việt đã đi vào sáng tác của một nhà thơ hiện đại:

Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

(Tương tư – Nguyễn Bính)

THTM còn có nguồn gốc từ những tưởng tượng logic hoặc phi logic của người nghệ sĩ Những cảm hứng bất chợt, những rung động tinh tế, những giây phút thăng hoa nghệ thuật của nhà văn nghệ sĩ đã tạo ra những THTM kì

lạ, phi thường mà lí trí logic thì khó lòng lí giải được

- Đặc tính cấp độ: Căn cứ vào sự tương ứng của THTM với các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực, tác giả Đỗ Hữu Châu đề xuất phân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản:

+ Cấp độ cơ sở: THTM ứng với một chi tiết, một yếu tố, một sự vật hiện

tượng thuộc thế giới khách quan: một con đò, một dòng sông đó là những TH

đơn (TH cơ sở) có chức năng tham gia cấu tạo nên THTM ở bậc cao hơn trong tác phẩm

+ Cấp độ xây dựng: THTM ứng với nhiều sự vật, hiện tượng, được xây dựng dựa trên những THTM đơn, nhưng ý nghĩa thẩm mĩ của nó không phải

là phép cộng đơn giản tất cả những THTM đơn Chẳng hạn trong hai câu ca dao sau:

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

TH thuyền chỉ người đi đồng hiện với TH bến chỉ kẻ ở tạo thành cặp THTM đôi thuyền – bến không những gợi sự chia li của người đi kẻ ở mà còn

Trang 25

biểu tượng cho tình yêu đôi lứa gắn bó, thủy chung Đó là THTM phức

(THTM xây dựng)

THTM được xét đến trong công trình này là những THTM đơn Mỗi TH

ứng với một yếu tố hiện thực (yếu tố của các hiện tượng tự nhiên như: trời, nước, gió, mây,…; yếu tố của các vật thể nhân tạo như: khăn, áo, đèn, thuyền,…) và được cụ thể, đa dạng hóa bằng những hình thức ngôn ngữ khác

nhau Nghiên cứu các hình thức biểu đạt này sẽ là cách thức để phát hiện ra các ý nghĩa thẩm mĩ của những THTM

- Đặc tính tác động: Đặc tính này của THTM được hiểu trên 2 khía cạnh Khía cạnh thứ nhất lấy cơ sở từ bản chất của tín hiệu như ý kiến của P

Guiraud: “Một tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [3, 706] Hiệu quả của sự tác động

này trước hết ở sự hình thành nên những hình tượng nghệ thuật, cùng với đó

là sự mở rộng đến vô cùng những ý nghĩa thẩm mĩ tiềm tàng trong những hình tượng nghệ thuật ấy Nói cách khác, sự tác động này biến những hình tượng “tự nó không được mở rộng” lại trở nên có ý nghĩa vô cùng to lớn, sâu

xa, hơn hẳn giá trị thực tế của chúng Chẳng hạn, bài thơ Cánh buồm nâu của

Nguyễn Bính:

Hôm nay dưới bến xuôi đò Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau Anh đi đấy, anh về đâu ?

Cánh buồm nâu , cánh buồm nâu , cánh buồm

Đoạn thơ trên đây chính là một “kích thích vật chất” có khả năng khơi gợi cả một trường liên tưởng, không chỉ về cánh buồm nâu và người anh

thương đang xa dần mà còn là khung cảnh một biển lớn dạt dào sóng gió, những bãi bờ xa vắng, cùng bao kỉ niệm yêu thương một đi không trở lại, bao

nỗi tiếc nhớ, xót xa của chủ thể trữ tình em,…

Trang 26

Đặc tính tác động của THTM, ở khía cạnh thứ hai còn được thể hiện ở chức năng giao tiếp nghệ thuật Sự tác động, kích thích mạnh mẽ của các TH

sẽ đem lại hiệu quả giao tiếp, làm mới, làm phong phú sự nhận thức về nghệ thuật, con người, thế giới của chủ thể tiếp nhận Ở khía cạnh này, vai trò của chủ thể tiếp nhận là vô cùng quan trọng Kinh nghiệm thẩm mĩ, năng lực phân tích, giải mã TH của chủ thể tiếp nhận sẽ khơi dậy, thổi bùng lên những giá trị thẩm mĩ tiềm tàng, khuất lấp, ẩn sâu trong các hình tượng nghệ thuật

- Đặc tính biểu hiện (tái hiện): Phản ánh hiện thực cuộc sống là chức năng chung của mọi loại hình nghệ thuật THTM cũng có chức năng này Nghĩa là THTM phải mang nội dung hiện thực, phải gắn với hiện thực Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, THTM phải ứng với một sự vật, hiện tượng nào đó trong thế giới hiện thực, phải có vật quy chiếu trong thế giới hiện thực Ví dụ

đề tài quê hương đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào trong thơ Tế Hanh,

bằng những THTM như: bờ tre, mặt nước, con cá, bầy chim; tác giả đã tái

hiện cả một khung trời tuổi thơ đầy ắp những kỉ niệm ngọt ngào:

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

(Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh)

- Đặc tính biểu cảm (bộc lộ): Đặc tính này thể hiện chức năng thông báo của THTM trong mối quan hệ của nó với tác giả Để đạt đến một giá trị thẩm

mĩ nhất định, THTM không thể chỉ dừng ở nội dung đơn thuần tái tạo hiện thực mà còn thông tin về những cảm xúc, tâm trạng nhất định của người nghệ

sĩ với người đọc Chính vì vậy, nằm trong cấu trúc của THTM, tính biểu cảm

là một đặc tính quan trọng, mang dấu ấn chủ quan của người sáng tác Chẳng hạn, độc giả không khỏi xót xa, thương cảm cho một mối tình dang dở, đầy

Trang 27

khao khát, hi vọng, rồi hụt hẫng, đớn đau, tuyệt vọng trong thơ của T.T.Kh Nhà thơ nhận thấy sự tương đồng giữa vẻ đẹp của hoa ti gôn và tình duyên bẽ bàng, đổ vỡ:

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng, Trời ơi! người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

Tựa trái tim, phai tựa máu hồng ?

(Hai sắc hoa ti gôn – TTKH)

- Đặc tính biểu trưng: Tính biểu trưng là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ Đây là mối quan hệ có lí do, liên quan đến năng lực biểu trưng hoá của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM trong tác phẩm Tính biểu trưng là khả năng gợi ra một đối tượng khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực; mặt khác, là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này chính là tính có lí do trong THTM nói chung Đặc tính này còn cho thấy lối tư duy, quan niệm xã hội gắn với một cộng đồng nào

đấy Chẳng hạn, trong ca dao, nếu giường, chiếu, chăn, mâm, bát, …hay

những vật dụng gia đình nói chung là biểu tượng của hạnh phúc gia đình thì

đường, cầu, ngõ, vườn, … lại biểu tượng cho không gian hẹn hò, thề nguyền:

Gió vàng hiu hắt đêm thanh

Đường xa, dặm vắng, xin anh đừng về

- Tính hệ thống: Cũng như các THNN, THTM trong văn chương cũng có tính hệ thống Mỗi TH không tồn tại riêng lẻ, tách biệt mà có mối quan hệ

nhất định với TH khác Nói như F de Saussure: “Thường người ta không nói bằng tín hiệu riêng lẻ, mà bằng từng nhóm tín hiệu, từng khối có tổ chức vốn

Trang 28

cũng là tín hiệu” [27, 107] Và khi nói đến vấn đề tính có tổ chức ở lĩnh vực

này, ta không thể không nói đến tính hệ thống - một đặc tính làm nên bản chất

TH của ngôn ngữ Tính hệ thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh: khía cạnh nội tại (cấu trúc) với những quy luật thuộc cấu trúc tác phẩm, khía cạnh ngoại tại (chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo nghệ thuật

- Tính trừu tượng và cụ thể: Đây cũng chính là vấn đề hằng thể và biến thể của THTM Trong TH học, người ta phân biệt điển dạng (hay hằng thể) và hiện dạng (hay biến thể) của mỗi TH Điển dạng là TH trong tính trừu tượng bất biến của nó, còn gọi là hằng thể của TH Hiện dạng là TH trong tính cụ thể, khả biến của nó, còn gọi là các biến thể của TH Trên thực tế, người ta chỉ gặp các hiện dạng hay biến thể của TH với những biểu hiện không hoàn toàn giống nhau trong những lần xuất hiện

Đối với THTM cũng vậy Nghiên cứu các THTM trên thực tế chính

là nghiên cứu các biến thể của chúng Như vậy, có thể hiểu biến thể của THTM là THTM trong các lần xuất hiện của nó Ở mỗi lần xuất hiện, THTM được biểu đạt bằng một hình thức CBĐ - biến thể, mang một nội dung CĐBĐ - biến thể, đồng thời có những mối quan hệ mới với những yếu tố cùng xuất hiện trong hệ thống mà THTM tham gia, và được cảm nhận với cảm xúc mới,

1.2 Những vấn đề cơ bản của trường nghĩa

1.2.1 Khái niệm trường nghĩa

Lý thuyết trường nghĩa (Theory of semantic fields) là một lí thuyết nhằm chứng minh tính hệ thống của từ vựng do J.Trier (1934) đề xướng Ông

viết: “Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toàn thể Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, ngược lại, mỗi một từ có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với

Trang 29

nó” [11, 265] Mặc dù còn có những điểm chưa rõ ràng, cần tranh luận như sự

không phân biệt ý nghĩa của các đơn vị từ với khái niệm, chưa quan tâm đến việc sử dụng các từ trong ngữ cảnh, chưa chú ý đến hiện tượng đa nghĩa của

từ nhưng những đề xuất của J Trier thực sự là nền móng quan trọng cho những nghiên cứu về trường từ vựng – ngữ nghĩa sau này

Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đã phân biệt nghĩa với khái niệm, đã quan tâm đến hiện tượng đa nghĩa của từ, cho nên không thể đồng nhất trường nghĩa với trường khái niệm, trường nghĩa và trường từ vựng cũng có nội dung khác nhau, không thể thay thế cho nhau được Tư tưởng này thể hiện rõ trong

cuốn Nhập môn từ vựng học giải thích và kết hợp của Igor Mel cuk, André

Clas, Alain Polguèrel

Như ta biết, người sử dụng ngôn ngữ tiếp nhận từ vựng gắn bó chặt chẽ với việc tập hợp các đơn vị từ vựng theo từng nhóm có quan gần gũi về nghĩa

Trường nghĩa được các ông định nghĩa như sau: “Trường nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố nghĩa có giá trị nhận diện một trường nghĩa” [11, 267] Ví dụ: các từ yêu, ghét, vui, buồn, mừng, giận,… đều

có chung một thành tố nghĩa “trạng thái cảm xúc của con người”

Ở Việt Nam, lí thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào những năm

1970 Đến nay nó vẫn được coi là một trong những vấn đề thu hút mối quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Có rất nhiều công trình đã giới thiệu, vận dụng lí thuyết này vào nghiên cứu các trường nghĩa, nghĩa của từ như công trình của các tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Tu, Hoàng Văn Hành, Hoàng Phê, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Tồn, Bùi Minh Toán, Lý Toàn Thắng

Hệ thống từ vựng tiếng Việt vô cùng phong phú, khả năng biểu đạt ý

nghĩa của chúng cũng rất đa dạng, phức tạp Bởi vậy, “Yếu tố của nó sẽ không phải trực tiếp là từng đơn vị từ vựng nữa mà là từng hệ thống con, và quan hệ

Trang 30

trong hệ thống từ vựng biểu hiện qua quan hệ giữa các hệ thống con đó Mỗi một hệ thống con là một trường từ vựng” [4, 34]

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Trường nghĩa là phạm vi những đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về nghĩa, trong đó đơn vị từ vựng có thể

là một từ vị hay một đơn vị thành ngữ (ngữ vị) Các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa phải có chung một thành tố nghĩa Sự phân tích các trường nghĩa sẽ bắt đầu sau khi phân xuất được chúng.” [11, 265]

Nguyễn Thị Ly Kha quan niện về trường nghĩa như sau: “Trường nghĩa là tập hợp những từ có nét chung về nghĩa Nói cách khác, một tập hợp

từ theo tiêu chí về nghĩa gọi là một trường nghĩa.”[16, 86]

Đỗ Hữu Châu là một trong những tác giả có công giới thiệu khái niệm “trường nghĩa” đối với ngôn ngữ học Việt Nam Ông định nghĩa về

trường nghĩa như sau: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.” [6, 171]

Quan niệm này lấy tiêu chí ngữ nghĩa làm cơ sở cho việc phân lập trường nghĩa Đây là quan niệm có tính chất định hướng cho các quan niệm về trường nghĩa của các nhà Việt ngữ học sau ông

Luận văn này chúng tôi lấy quan niệm về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu

1.2.2 Các loại trường nghĩa

Theo các tiêu chí nêu trên, hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của một ngôn

ngữ có thể được phân lập ra các loại trường nghĩa khác nhau Trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” F de Saussure đã chỉ ra hai dạng quan hệ:

quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) Từ hai dạng quan hệ ngang và quan hệ dọc mà F de Saussure nêu ra, Đỗ Hữu Châu đã phân chia trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và

Trang 31

trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) Đồng thời căn cứ vào loại ý nghĩa còn có sự phân biệt trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm

Để phục vụ cho đối tượng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chọn cách phân chia trường nghĩa như sau:

1.2.2.1 Trường nghĩa biểu vật

Một trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Từ điển hình của trường thường là các danh từ có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật Chẳng hạn, trường nghĩa về

“mùa xuân”, từ trung tâm khái quát mùa xuân sẽ tập hợp các từ có cùng hạt nhân ý nghĩa về mùa xuân: tết, tháng giêng, tuần tháng mật, lúa xuân, gió xuân hay như trường nghĩa “cây” sẽ tập hợp các từ có cùng hạt nhân nghĩa

về cây: liễu, thông, cỏ, lúa

Một trường biểu vật lớn lại có thể chia thành những trường biểu vật nhỏ hơn dựa vào sự đồng nhất và khác biệt ở nét nghĩa biểu vật nào đó Về số lượng, cách thức tổ chức các đơn vị, miền phân bố ở từng ngôn ngữ trong các trường biểu vật rất khác nhau, các trường đó có thể thẩm thấu vào nhau khi một số từ của trường này cùng nằm trong trường kia

Trên thực tế, do hiện tượng đồng âm nên một số từ vựng tiếng Việt lại thuộc nhiều trường nghĩa khác nhau Do vậy, muốn hiểu đúng nghĩa của từ,

chúng ta phải đặt từ đó vào ngôn cảnh Chẳng hạn từ “ngọt”:

Trường nghĩa

Trường biểu vật Trường biểu niệm Trường nghĩa

ngang

Trường liên tưởng

Trang 32

Bởi vì xét theo trường nghĩa không phải là một sự phân loại từ về mặt cấu tạo hay nguồn gốc nên không có tính chất tuyệt đối Điều này làm nên sự

đa dạng cho từ ngữ tiếng Việt, cũng là yếu tố gây “phong ba bão táp” cho những người nước ngoài học tiếng Việt

Quan hệ của các từ ngữ đối với một trường biểu vật không giống nhau

Có những từ gắn rất chặt với trường, có những từ gắn lỏng lẻo hơn Căn cứ vào tính chất, quan hệ giữa từ ngữ với trường,chúng ta có thể hiểu có một lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường, gồm những từ ngữ điển hình cho nó Càng xa lõi, liên hệ giữa từ ngữ với trường càng mờ nhạt

Ví dụ: Từ “heo may” nằm trong trường nghĩa gió với các từ như: gió mùa, gió bấc nhưng cũng có thể thuộc trường nghĩa mùa thu vì ở Việt Nam, gió heo may là một đặc trưng của mùa thu

1.2.2.2 Trường nghĩa biểu niệm

Cơ sở để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của từ

“Một trường nghĩa biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm” Cũng giống như trường biểu vật, trường biếu niệm lớn có thể

Ngọt

Trường mùi vị:

ngọt

Trường

âm thanh:

ngọt ngào

Trường thời tiết:

rét ngọt

Tính cách con người:

ngọt ngào

Trang 33

phân thành các trường biếu niệm nhỏ hơn với những “miền”, những mật độ khác nhau Ví dụ: Từ “nóng” có cấu trúc biểu niệm như sau:

Do từ cũng có nhiều nghĩa biểu niệm, nên một từ có thể đi vào những

trường biểu niệm khác nhau Các trường biểu niệm cũng “giao thoa” với

nhau, cũng có lõi trung tâm là các từ điển hình và các lớp ngoại vi là các từ

kém điển hình hơn

1.2.2.3 Trường nghĩa tuyến tính

Cơ sở xác lập trường tuyến tính là mối quan hệ trên trục ngữ đoạn của các đơn vị ngôn ngữ Trường tuyến tính trước hết xuất phát từ tính hình tuyến của THNN, các TH phải lần lượt kế tiếp thành một chuỗi chứ không thể đồng thời xuất hiện, do đó quan hệ ngữ đoạn còn gọi là quan hệ hàng ngang hay quan hệ tuyến tính Muốn có quan hệ ngữ đoạn với nhau, các yếu tố đó phải cùng thực hiện một chức năng về ngôn ngữ hoặc về nội dung giao tiếp Thông qua các kết hợp ngữ đoạn các từ sẽ bộc lộ các ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của chúng

Để xác lập nên trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành xác lập trường là mối quan

hệ trên trục ngữ đoạn của những chuỗi tuyến tính chấp nhận được trong ngôn

ngữ Ví dụ: trường tuyến tính của từ “giọng” là: cao, thấp, trầm, bổng, thanh, thé, khan

Nóng

Có nhiệt độ cao hơn so với nhiệt độ cơ thể người, hoặc

cao hơn mức trung bình: canh nóng, trời nóng,

Có sự mong muốn thôi thúc cao độ về điều gì: nóng

Trang 34

1.2.2.4 Trường nghĩa liên tưởng

Tác giả đầu tiên của khái niệm trường nghĩa liên tưởng là nhà ngôn ngữ

học Pháp Ch.Bally Ông cho rằng: “Mỗi từ phát ra có thể làm trung tâm của một trường liên tưởng ngữ nghĩa.” Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với

từ trung tâm Như vậy, cơ sở xác lập trường nghĩa liên tưởng là “hệ thống ngữ nghĩa mới của từ nảy sinh do liên tưởng khi từ đi vào hoạt động hành chức”

Ví dụ: Cũng là từ mặt trời, khi nghe câu: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng (Viễn Phương) thì mặt trời được hiểu là một hành tinh trong thái

dương hệ, cách trái đất nhiều triệu năm ánh sáng, hàng ngày xuất hiện ở hướng Đông và biến mất ở hướng Tây, ánh sáng của nó giúp con người nhìn

rõ mọi vật, duy trì sự sống trên trái đất Nhưng trong câu: Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ (Viễn Phương) thì từ mặt trời lại không mang nghĩa trên mà

biểu thị Chủ tịch Hồ Chí Minh - người mang lại sự sống, niềm hạnh phúc cho toàn dân tộc, công ơn của Người tỏa sáng bao la

1.2.3 Ngữ nghĩa của trường nghĩa

Ngữ nghĩa của trường nghĩa được xem là ngữ nghĩa chung, khái quát nhất của các từ trong trường Qua việc phân loại các trường nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng các nghĩa của từ trung tâm đều chi phối ngữ nghĩa của các từ

“thành viên” trong trường Như vậy, từ trung tâm sẽ thể hiện những đặc tính phổ quát của trường, là tâm điểm để tập hợp các từ vào một trường

Các nghĩa vị trong hệ thống cấu trúc của từ đều bị chi phối bởi những nghĩa vị là những thuộc tính thường trực thuộc nghĩa cơ bản Thành tố nghĩa này, lí luận TH điển hình gọi là nghĩa hạt nhân mang đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản của TH Nó xuyên suốt hệ thống ngữ nghĩa, tồn tại trong mọi dạng thức kết hợp của TH

Trang 35

Như vậy, ngữ nghĩa của trường nghĩa thực chất là cấu trúc nghĩa vị và đặc điểm ngữ pháp đặc hữu của trường, tất cả đều do từ trung tâm, điển hình cho trường đại diện Như vậy dựa theo nghĩa hạt nhân, sẽ biết từ được xét thuộc về trường nghĩa nào, biết chiều hướng chuyển nghĩa của nó và hướng chuyển nghĩa của cả trường chứa nó

Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phân lập các THTM trong các tác phẩm văn học Việt Nam ở trường THPT thành những trường nghĩa: hiện tượng tự nhiên, vật thể nhân tạo, động vật và thực vật

1.3 Một số vấn đề về ngữ cảnh của các tín hiệu thẩm mĩ

Những vấn đề về trường nghĩa là những yếu tố thuộc cấu trúc ngôn ngữ Trường nghĩa vừa là một thực thể ngôn ngữ, vừa là một thực thể xã hội - văn hóa - tư duy Thế nên trong trường nghĩa ngoài yếu tố ngôn ngữ còn có những thông tin lịch sử, văn hóa được biểu thị trong các từ Những thông tin này cung cấp, bổ sung nét nghĩa cho từ Như vậy, có một bộ phận ngữ nghĩa của trường nghĩa nằm ngoài hệ thống cấu trúc song vẫn liên hệ mật thiết với

hệ thống cấu trúc, giúp lí giải ngữ nghĩa các yếu tố trong cấu trúc và ngược lại Đó chính là ngữ cảnh (context)

Trong công trình Dụng học (1997) của George Yule, ông đã nhắc đến ngữ cảnh (context) như là một loại môi trường phi ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ được sử dụng Các nhà ngôn ngữ học phân biệt hai loại ngữ cảnh: ngữ cảnh tình huống (context of situation) và ngữ cảnh văn hóa (context of culture)

Ngữ cảnh tình huống là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, là thế giới xã hội và tâm lí mà trong đó, ở một thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Ngữ cảnh tình huống có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thế của người nói và người nghe, sự hiểu biết về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp

Ngữ cảnh văn hóa bao gồm hàng loạt nhân tố văn hóa như phong tục,

Trang 36

tập quán, chuẩn tắc hành vi, quan niệm giá trị, sự kiện lịch sử, những tri thức

về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế

Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Hòa dịch thuật ngữ context là “ngữ cảnh”, tác giả Đỗ Hữu Châu dịch từ hai thuật ngữ context of situation và situtional context đều là ngữ

cảnh: “là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa” [5, 97] Khái niệm ngữ cảnh có nhiều

quan niệm khác nhau nên để đưa ra một khái niệm thống nhất là rất khó

Trong luận văn này, chúng tôi chọn quan niệm ngữ cảnh của tác giả

Nguyễn Thị Vân Anh làm cơ sở tác giả định nghĩa như sau: Ngữ cảnh là thế giới môi trường chi phối đến hoạt động cả bên ngoài lẫn bên trong của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, liên tục mở ra về không gian và thời gian Nó có thể rộng bao gồm các đối ngôn và các hợp phần hiện thực ngoài diễn ngôn hoặc

có thể hẹp là những từ đứng gần hay kèm một từ tạo cho nó tính xác định về nghĩa [3, 62]

Trang 37

CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN HÌNH THỨC CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Dẫn nhập

Nguồn ngữ liệu để chúng tôi nghiên cứu là bộ sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông (THPT) lớp 10, lớp 11 và lớp 12 hiện hành của tác giả Phan Trọng Luận làm tổng chủ biên (2015) Cụ thể, số lượng văn bản văn học Việt Nam trong chương trình THPT được chúng tôi khảo sát như sau:

Chương trình Ngữ văn 10 Ngữ văn 11 Ngữ văn 12 Tổng

Số lượng THTM trong các tác phẩm văn học khá nhiều, do đó chúng

tôi tiến hành phân lập chúng theo các trường nghĩa: trường nghĩa hiện tượng

tự nhiên (HTTN), trường nghĩa vật thể nhân tạo (VTNT), trường nghĩa thực vật (TV) và trường nghĩa động vật (ĐV)

Khảo sát 68 văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn ở trường THPT, chúng tôi được kết quả như sau:

bản

Tỉ lệ (%)

1 THTM thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên 56 82,35

2 THTM thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 54 79,41

Trang 38

Nghiên cứu các THTM theo tiêu chí trường nghĩa, chúng tôi trình bày biểu hiện hình thức của các THTM hằng thể, các hình thức ngôn ngữ diễn đạt các biến thể của THTM hằng thể đó với những THTM khác cùng xuất hiện, các hình thức kết cấu diễn đạt mối quan hệ giữa THTM hằng thể đó với THTM khác trong ngữ cảnh lâm thời của phát ngôn Đặc tính đó cũng chính

là vấn đề hằng thể và biến thể của THTM

Hằng thể và biến thể của THTM trong văn chương xét về mặt vật chất đều được biểu hiện bằng từ ngữ Hằng thể là dạng điển hình nhất, phổ biến nhất, nhưng cũng là dạng đơn giản nhất về hình thức (thường biểu hiện bằng một từ) Mỗi hằng thể thường tập hợp xung quanh mình hàng loạt các biến thể

để tạo nên hệ thống Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hằng thể các THTM, chúng tôi còn nghiên cứu các dạng biến thể của THTM Biến thể là dạng biểu hiện tuy khác biệt về hình thức biểu đạt nhưng có mỗi liên hệ mật thiết về ý nghĩa với hằng thể

Chúng tôi nghiên cứu những những THTM điển hình thông qua các biến thể như biến thể từ vựng (BTTV), biến thể kết hợp (BTKH) và biến thể quan hệ (BTQH) của chúng trong phạm vi kết hợp với những TH khác trong một dòng ngữ lưu - những TH có vai trò bổ sung ý nghĩa quan trọng đối với THTM đang tìm hiểu nghiên cứu

Có thể xét biến thể của THTM trong tác phẩm văn học qua những biểu hiện sau:

Biến thể từ vựng: là tên gọi khác của THTM được nảy sinh trong quá trình sử dụng, với ý nghĩa cơ bản không biến đổi Nói cụ thể hơn, BTTV là những đơn vị đồng nghĩa, gần nghĩa, cùng trường nghĩa hoặc đồng sở chỉ với THTM hằng thể

Biến thể kết hợp: cùng một TH nhưng lại có sự biến đổi ít nhiều về ý nghĩa thẩm mĩ khi kết hợp với những đơn vị ngôn ngữ trước và sau nó trên

Trang 39

trục tuyến tính BTKH của các THTM sẽ hiện diện trong một chuỗi phát ngôn; khi xuất hiện trong những tổ hợp khác nhau, ý nghĩa của THTM sẽ ít nhiều biến đổi để diễn đạt những cảm xúc, tình cảm khác nhau

Biến thể quan hệ (BTQH): là những biến thể nảy sinh trong sử dụng của một THTM Cùng xuất hiện với THTM, trong một ngữ cảnh nhất định còn có những TH khác giữ vai trò bổ sung ý nghĩa cho nó, đẳng cấu với nó trong một khung ngữ nghĩa chung Sự tương tác giữa các TH sẽ tạo nên những biến thể do quan hệ của TH

Các BTQH của một THTM có số lượng vô cùng lớn, có quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp hết sức phức tạp Bởi vậy, chúng tôi chỉ nghiên cứu những trường hợp có vai trò bổ sung ý nghĩa quan trọng đối với từng THTM được xét

Có thể nói, mối quan hệ giữa hằng thể và biến thể là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái trừu tượng và cái cụ thể, giữa cái bất biến và cái khả biến, cái vô hình và cái biểu kiến, phải thấy được mối quan hệ hai mặt này thì mới đánh giá thấu đáo được giá trị của THTM

2.2 Biểu hiện hình thức các tín hiệu thẩm mĩ điển hình qua trường nghĩa

2.2.1 Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên

HTTN và hiện tượng xã hội được phân biệt chủ yếu ở tiêu chí: có tồn tại độc lập hay không trong mối quan hệ với xã hội loài người Hiện tượng nào khi vượt ra ngoài xã hội, tách ra khỏi xã hội loài người mà vẫn tồn tại thì thuộc HTTN, còn hiện tượng nào khi vượt ra ngoài xã hội loài người mà không thể tồn tại thì thuộc hiện tượng xã hội HTTN bao gồm: các hiện tượng của thế giới tự nhiên và các hoạt động có tính chất bản năng sinh vật của con

người (ăn, ngủ, đi, đứng…) Ở nội dung này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những

hiện tượng của thế giới tự nhiên

HTTN là hiện tượng xuất hiện, tồn tại, hoạt động không tuỳ thuộc vào

Trang 40

ý chí, ý muốn của con người Chẳng hạn như các sự vật hiện tượng: biển, núi, nắng, mưa, gió, trăng, mây, ngày, đêm

Trong 68 văn bản được khảo sát, có 56 văn bản chứa THTM chỉ HTTN, chiếm 82,35 %, đây là một tỷ lệ cao nhất trong tương quan với các THTM thuộc các trường nghĩa khác trong các văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn THPT như trường nghĩa vật thể nhân tạo, trường nghĩa thực vật, trường nghĩa động vật

Sau đây là tần suất cụ thể của từng THTM thuộc trường nghĩa HTTN của văn bản văn học Việt Nam trong chương trình THPT:

Bảng 2.1: Bảng thống kê các THTM thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên

TT THTM Tần suất và tỉ lệ

THTM Tần

suất

Tỉ lệ (%)

Ngày đăng: 17/02/2022, 20:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thị Vân Anh (2016), Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung bộ, NXB Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Sư phạm
Năm: 2016
[2]. Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Thùy Trang (2020), Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên trong tác phẩm thơ ca ở trường trung học phổ thông, Từ điển học và bách khoa thư, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa hiện tượng tự nhiên trong tác phẩm thơ ca ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Thùy Trang
Năm: 2020
[3]. Nguyễn Thị Vân Anh (chủ biên) (2021) Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm thơ ca ở trường trung học phổ thông, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm thơ ca ở trường trung học phổ thông
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
[4]. Đỗ Hữu Châu (2015), Tuyển tập, tập một, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2015
[5]. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
[6]. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[7]. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập một, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
[8]. Đỗ Hữu Châu (1990), Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Tạp chí Ngôn ngữ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1990
[9]. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2000
[10]. Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2015), Nhập môn ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2015
[11]. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1999
[12]. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.Nguyễn Thiện Giáp (2012)
Năm: 2012
[13]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[14]. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[15]. Nguyễn Trọng Khánh (2006), Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường từ góc độ ngôn ngữ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường từ góc độ ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Trọng Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[16]. Nguyễn Thị Ly Kha chủ biên (2015), Ngữ nghĩa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học
Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2015
[17]. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1995), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[18]. Nguyễn Lai (1996), Từ một số luận điểm của Mác suy nghĩ về bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ một số luận điểm của Mác suy nghĩ về bản chất tín hiệu của ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Lai
Năm: 1996
[19]. Nguyễn Lai (1996), Tìm hiểu sự chuyển hóa từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự chuyển hóa từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng
Tác giả: Nguyễn Lai
Năm: 1996
[20]. Nguyễn Lai (1998) Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w