Lê Huy Bắc trong Kí hiệu và Liên kí hiệu cũng đưa ra khái niệm về kí hiệu: “Kí hiệu tái hiện hiện thực nhân danh sự vắng mặt của nó… Kí hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự v
Trang 1-
HOÀNG THỊ LINH GIANG
TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ QUANG DŨNG
Trang 2Lời cam đoan
Tóm tắt đề tài bằng hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
7 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1 9
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 9
1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 9
1.1.1 Tín hiệu 9
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 10
1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ 12
1.1.4 Mối quan hệ giữa tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 15
1.2 Các đặc trưng cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ 16
1.2.1 Tính cấp độ 16
1.2.2 Tính hệ thống 17
1.2.3 Tính biểu hiện 17
1.2.4 Tính biểu trưng 17
1.2.5 Tính trừu tượng và cụ thể 18
1.2.6 Tính tác động 18
1.2.7 Tính biểu cảm 19
1.2.8 Tính truyền thống và cách tân 19
1.2.9 Tính đẳng cấu 20
1.3 Chức năng của tín hiệu thẩm mĩ 20
1.3.1 Chức năng biểu hiện 20
1.3.2 Chức năng tác động 20
Trang 31.4.1 Ẩn dụ 21
1.4.2 Hoán dụ 21
1.5 Các hằng thể của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật 22
1.5.1 Hằng thể từ vựng 23
1.5.2 Hằng thể kết hợp 23
1.6 Các cấu tạo của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật 24
1.7 Vài nét về thơ Quang Dũng 25
1.7.1 Cuộc đời và sự nghiệp 25
1.7.2 Phong cách thơ Quang Dũng 30
CHƯƠNG 2 33
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ QUANG DŨNG 33
2.1 Tín hiệu thẩm mĩ Mây 33
2.1.1 THTM Mây xét về cấu tạo 33
2.1.2 THTM Mây xét về dạng thức hằng thể 35
2.2 Tín hiệu thẩm mĩ Đôi mắt 37
2.2.1 THTM Đôi mắt xét về cấu tạo 37
2.2.2 THTM Đôi mắt xét về dạng thức hằng thể 38
2.3 Tín hiệu thẩm mĩ Mồ 41
2.3.1 THTM Mồ xét về cấu tạo 41
2.3.2 THTM Mồ xét về dạng thức hằng thể 44
CHƯƠNG 3 49
GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ QUANG DŨNG 49
3.1 Biểu trưng cho tình yêu và tuổi trẻ 49
3.1.1 Biểu trưng cho tuổi trẻ 49
3.1.2 Biểu trưng cho tình yêu lứa đôi, gia đình 53
3.1.3 Biểu trưng cho tình yêu quê hương, đất nước 59
3.2 Biểu trưng cho phẩm chất người lính 64
3.2.1 Biểu trưng cho sự hào hoa, lãng mạn 64
3.2.2 Biểu trưng cho khí phách người lính 72
3.2.3 Biểu trưng cho nghĩa tình người lính 76
Trang 43.3.1 Biểu trưng cho những mất mát, đau thương 80
3.3.2 Biểu trưng cho ý chí đấu tranh, tinh thần dân tộc 85
3.3.3 Biểu trưng cho khát vọng hòa bình 88
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 1 97
PHỤ LỤC 2 99
PHỤ LỤC 3 108
Trang 7TH : Tín hiệu THNN : Tín hiệu ngôn ngữ THTM : Tín hiệu thẩm mĩ HTTV : Hằng thể từ vựng HTKH : Hằng thể kết hợp CDT : Cụm danh từ CĐT : Cụm động từ CTT : Cụm tính từ Cụm C-V : Cụm chủ - vị
Trang 8I Bảng
Bảng 2 1 Các cấu tạo của THTM Mây 33
Bảng 2 2 Kết quả thống kê về số lần xuất hiện các cấu tạo của THTM Mây 33
Bảng 2 3 Các hằng thể của THTM Mây 35
Bảng 2 4 Kết quả thống kê về số lần xuất hiện các hằng thể của THTM Mây 35
Bảng 2 5 Các cấu tạo của THTM Đôi mắt 37
Bảng 2 6 Kết quả thống kê về số lần xuất hiện các cấu tạo của THTM Đôi mắt 38
Bảng 2 7 Các hằng thể của THTM Đôi mắt 38
Bảng 2 8 Kết quả thống kê về số lần xuất hiện các hằng thể của THTM Đôi mắt 40
Bảng 2 9 Các cấu tạo của THTM Mồ 41
Bảng 2 10 Kết quả thống kê về số lần xuất hiện các cấu tạo của THTM Mồ 43
Bảng 2 11 Các hằng thể của THTM Mồ 44
Bảng 2 12 Kết quả thống kê về số lần xuất hiện các hằng thể của THTM Mồ 46
II Biểu đồ Biểu đồ 2 1 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các cấu tạo của THTM Mây 34
Biểu đồ 2 2 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các hằng thể của THTM Mây 36
Biểu đồ 2 3 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các cấu tạo của THTM Đôi mắt 38
Biểu đồ 2 4 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các hằng thể của THTM Đôi mắt 40
Biểu đồ 2 5 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các cấu tạo của THTM Mồ 44
Biểu đồ 2 6 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các hằng thể của THTM Mồ 47
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ được tổ chức theo những nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên tắc tín hiệu
và nguyên tắc hệ thống, nói cách khác ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Điều đó cho thấy ngôn ngữ là một bộ phận của Ký hiệu học Xét ở góc độ này, ngôn ngữ được đào sâu nghiên cứu đã hơn một thế kỷ qua
Văn học – nghệ thuật của ngôn từ, chính chất liệu đặc thù nhằm truyền tải những thông tin thẩm mĩ, nhà văn lấy tín hiệu ngôn ngữ (THNN) làm phương tiện biểu đạt và tín hiệu thẩm mĩ (THTM) chính là chức năng biểu trưng nghệ thuật của tác phẩm Mọi THTM đều bắt nguồn từ THNN nhưng nằm ở cấp độ cao hơn bởi bản thân nó phải là nơi kí thác đặc sắc những tâm tư, tình cảm, tư tưởng của người nghệ sĩ Tác phẩm văn học là một hệ thống tín hiệu, mỗi yếu tố cấu thành sẽ là những THNN Tín hiệu thẩm
mĩ có thể là từ, ngữ, câu thậm chí là cả văn bản Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ là hướng nghiên cứu mới mẻ nhưng đa diện để hiểu trọn vẹn nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu (TH) được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật với chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp Là phương tiện của nghệ thuật, THTM phải tham gia vào quá trình tạo nghĩa liên tục, mang giá trị biểu trưng so với THNN thông thường Con đường nghiên cứu văn học dưới góc nhìn ngôn ngữ tín hiệu thẩm mĩ cũng chính là hướng tiếp cận cần được nghiên cứu
Mỗi người nghệ sĩ đều định hình cho mình một phong cách riêng và nhà thơ Quang Dũng cũng vậy Có thể nói Quang Dũng là một trong số những cây bút tiêu biểu
có vị trí quan trọng trong nền thơ hiện đại những năm chống Pháp với phong cách hào hoa, lãng mạn, một người nghệ sĩ đa tài với đầy đủ thơ, văn, nhạc, họa Chúng ta đều nhận thấy rằng trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại Quang Dũng là một hiện tượng
đặc biệt Ông nổi tiếng từ rất sớm với những thi phẩm tuyệt tác: Tây Tiến, Đôi mắt người
Sơn Tây, Đôi bờ Riêng đối với Tây Tiến, tác phẩm đã trở thành khúc tráng ca cho
những người lính nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc
Chính những điều đó thôi thúc chúng tôi lật lại những trang thơ hào hùng, lãng mạn và cũng đôi lần đau đến xé lòng ấy, chúng tôi chọn Quang Dũng Nhìn lại các công trình nghiên cứu, từ những bài phân tích, bình thơ Quang Dũng, những luận văn về thơ
Quang Dũng về ngôn ngữ thật sự chưa nhiều Vì thế chúng tôi chọn đề tài “Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng” với mong muốn góp phần làm rõ những đặc sắc của
thơ Quang Dũng về tín hiệu thẩm mĩ, khẳng định một lần nữa vị trí của Quang Dũng trên tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, góp phần cảm thụ và giảng dạy tốt hơn thơ Quang Dũng trong nhà trường phổ thông
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ
Từ những năm đầu thế kỉ XX, Charles Peirce (1839 – 1914) và Ferdinand de Saussure (1837 – 1913) đã đặt cơ sở cho Kí hiệu học như là khoa học về kí hiệu và các chức năng của nó trong đời sống xã hội Tất nhiên ý tưởng về Kí hiệu học được nhà triết học Anh là John Locke đưa ra từ thế kỉ XVII Cha đẻ của chuyên ngành Kí hiệu học: F.de Saussure và Ch Peirce – ông sử dụng thuật ngữ kí hiệu học theo quan điểm của logic học, theo đó, kí hiệu học được sắp xếp bởi một cấu trúc tam vị mà qua đó các thành
tố luôn có sự ảnh hưởng tương tác lẫn nhau
Tín hiệu thẩm mĩ là một nội dung nằm trong Lý thuyết Kí hiệu học Khi cuốn
sách Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F.de Saussure được xuất bản, người ta bắt
đầu chú ý đến khái niệm cũng như vai trò của Kí hiệu học Luận điểm của F.de Saussure
đề xuất: “Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, và ngôn ngữ học là một bộ phận của kí hiệu
học, xét theo một phương diện nào đó” hay “Ngôn ngữ học cũng chỉ là một phần trong khoa học về kí hiệu học nói chung; những quy luật được khám phá trong ký hiệu học sẽ được ứng dụng vào ngôn ngữ học, và sau cùng nó sẽ giới hạn rạch ròi tại một khu vực trong tổng thể các lĩnh vực của nhân học” Lý thuyết kí hiệu ngôn ngữ, kí hiệu học nhị
diện của F.de Saussure, cũng từ đây, được xem là tiền đề cho các công trình nghiên cứu
Kí hiệu học chuyên sâu về sau như “chức năng thi pháp” và tính đa chức năng của ngôn ngữ trong nghiên cứu R.Jakobson, “cấu trúc kí hiệu học biểu thị và kí hiệu học hàm thị” của R.Barthes; đặc biệt là các nghiên cứu về “lý thuyết kí hiệu học tam diện” của Ch.Pierce, lý thuyết “kí hiệu học văn hóa” của Yuri M Lotman, lý thuyết kí hiệu học của Umberto Eco, của Daniel Chandler Dựa trên những tiền đề lí luận này để tập trung làm rõ tín hiệu thẩm mĩ – một phương diện ứng dụng của kí hiệu học trong nghệ thuật
“Một trong những người đặt nền móng cho kí hiệu học hiện đại là Charles
Sanders Peirce đã chia nó thành ba loại hình cơ bản: Loại thứ nhất gồm những kí hiệu hình tượng, hay là các hình tượng (icons) Nền tảng của tính hình tượng là quan hệ tương tác giữa kí hiệu và đối tượng được nó biểu đạt Loại thứ hai đồng nhất kí hiệu với đối tượng được nó biểu đạt tạo thành các kí hiệu dấu chỉ, hay các dấu chỉ (indexes) Nền tảng của tính dấu chỉ là mối liên hệ thực tế trong không gian hoặc thời gian giữa
kí hiệu với đối tượng được nó biểu đạt Loại đồng nhất thứ ba gồm những kí hiệu biểu tượng, hay các biểu tượng (symbols), nền tảng của chúng là mối liên hệ võ đoán, thuần túy mang tính quy ước giữa kí hiệu và đối tượng của nó Nó có thể là sự thỏa thuận, là truyền thống, hay thậm chí chỉ là sự trùng hợp đơn giản… kí hiệu không thể đồng nhất với bản thân, không thể đồng nhất với đối tượng được nó biểu nghĩa, kí hiệu đồng nhất nhờ sự hỗ trợ của ý nghĩa của nó, tức là nhờ sự hỗ trợ của cái đối tượng không thể đồng nhất với nó Không có ý nghĩa, không có kí hiệu; không có kí hiệu, không có ý nghĩa”
[32, tr.376-377] Trên cơ sở phân loại các tín hiệu của nhà logic Ch Pierce, theo đó, Ch
Trang 11Morris xác định tín hiệu trong nghệ thuật là “tín hiệu miêu tả hoặc tạo hình, nó giống
với khách thể mà nó miêu tả về vẻ ngoài hoặc cấu trúc”
Nối tiếp khoa học nghiên cứu về kí hiệu, “Năm 1967, Y.M.Lotman tuyên bố
Nghiên cứu văn học phải trở thành khoa học Y.M.Lotman nhấn mạnh Văn học nghệ thuật nói bằng ngôn ngữ đặc biệt, nó là hệ thống thứ sinh được kiến tạo ở bên trên ngôn ngữ tự nhiên” [32, tr.7] M.M.Bakhtin gọi văn học là “nghệ thuật nói gián tiếp”, ở đó
tác giả đích thực được “bao bọc trong im lặng”, giữ quan điểm của người đứng ngoài Lotman cho rằng “văn bản là thông tin chí ít được hai lần mã hóa” R Barthes hoàn toàn
có cơ sở để nói về sự “đỏng đảnh” của kí hiệu, sự “lửng lơ”, “vô vọng” của “nghĩa” và
sự “mơ hồ” của hệ thống biểu nghĩa bằng phương thức nghệ thuật
Lý thuyết về Kí hiệu học cũng như về THTM được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam từ những năm 70 của thế kỉ XX Những công trình được xem là khởi đầu của khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn chương từ góc nhìn Kí hiệu học ở Việt Nam
phải kể đến là Từ ký hiệu học đến thi pháp học của Hoàng Trinh, Những luận điểm về
cách tiếp cận ngôn ngữ các sự kiện văn học của Đỗ Hữu Châu, Ngôn ngữ với văn chương
của Bùi Minh Toán, Ký hiệu và liên ký hiệu của Lê Huy Bắc…
Trong cuốn sách được xem là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu về kí hiệu của
Hoàng Trinh – Từ ký hiệu học đến thi pháp học, tác giả cho rằng: “Ký hiệu học là công
cụ của các khoa học, nó thâm nhập vào các ngành khoa học trong đó có ngôn ngữ” hay
“Ký hiệu học xử lý nhiều vấn đề thuộc chiều sâu có liên quan đến chất liệu ngôn ngữ
trong thơ, từ khái niệm cho đến những lí luận về thi pháp” [55, tr.31] đã khẳng định vai
trò và sự cần thiết của việc nghiên cứu Kí hiệu học, từ đó Hoàng Trinh đi sâu nghiên cứu thi pháp học bằng con đường kí hiệu học
Lê Huy Bắc trong Kí hiệu và Liên kí hiệu cũng đưa ra khái niệm về kí hiệu: “Kí
hiệu tái hiện hiện thực nhân danh sự vắng mặt của nó… Kí hiệu là hệ thống khái niệm mang nghĩa về các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, được con người sáng tạo,
mã hóa, để chuyển tải thông điệp, phục vụ giao tiếp thông qua một “hệ nghĩa” nhất định trong từng bối cảnh cụ thể” [4, tr.12] qua đó phân biệt hai khái niệm “tín hiệu” và
“kí hiệu”: “Tín hiệu là những biểu hiện như hình ảnh, cử chỉ, âm thanh… được phát ra
mà con người có thể tri nhận nhưng chưa hiểu, kí hiệu thì ngược lại là những biểu hiện được hiểu trong cộng đồng người Tín hiệu là những biểu hiện tự nhiên và xã hội tự thân chưa được con người mã hóa để giao tiếp… Tín hiệu là những sự vật hiện tượng mang nghĩa tự nhiên, nghĩa bản năng ngược lại kí hiệu xuất hiện trong các quy ước giao tiếp xã hội… Kí hiệu có quy ước, tức mã hóa, giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng hoặc cộng đồng này với cộng đồng khác” [4, tr.15]
Trong bài viết “Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương”,
Bùi Minh Toán đề cập đến “Tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ đó là cái biểu hiện và
cái được biểu hiện” Mai Thị Kiều Phượng, trong công trình “Tín hiệu thẩm mĩ trong
ngôn ngữ học” cũng nêu ra các đặc điểm của THTM trong ngôn ngữ nói chung
Trang 12“Tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn
học” của tác giả Trần Văn Sáng cũng đồng thời đưa ra cách hiểu về tín hiệu thẩm mĩ:
“Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành
nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực và tâm trạng được lựa chọn, xây dựng và sáng tạo trong tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ; trong đó cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ là những yếu tố thuộc hệ thống phương tiện vật chất (chất liệu) được sử dụng trong các ngành nghệ thuật và cái được biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ là những nội dung tinh thần mang tính thẩm mĩ” [39, tr.16]
Với bài viết “Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao người Việt” tác giả Lê Đức Luận đi
sâu khái quát THTM, chỉ ra các đặc trưng cơ bản của THTM và đi vào phân tích những THTM trong ca dao tình yêu với tín hiệu sóng đôi, tín hiệu biểu thị cặp đôi đồng nhất,
tín hiệu đối sánh đơn nhất để từ đó đi đến nhận xét “Cấu tạo tín hiệu thẩm mĩ phần lớn
là các cặp tín hiệu đơn tiết, một số ít có cấu tạo đa tiết Cấu tạo đa tiết phần lớn biểu thị ở dạng thức tín hiệu cặp đôi đồng nhất”
Từ những công trình lớn của Hoàng Tuệ, Hoàng Trinh, Phan Ngọc, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Trương Thị Nhàn… trong công tác nghiên cứu văn học nhìn từ góc
độ ngôn ngữ tín hiệu thẩm mĩ ta cũng bắt gặp một số công trình nghiên cứu của các Thạc
sĩ như “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ tình Xuân Quỳnh” (1990) của tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh, “Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu thuộc trường nghĩa tự nhiên
trong thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trước Cách mạng tháng Tám” (2008) của Phùng
Thị Cảnh Trang, luận văn “Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học” (2008) của Nguyễn Ngọc Bích…
Từ kết quả của các công trình đi trước, đồng thời trong bối cảnh của sự gặp gỡ, giao thoa giữa hai ngành nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, chúng tôi lựa chọn một đề
tài nghiên cứu ngôn ngữ học liên quan đến văn học “Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng” để tiếp nối chặng đường nghiên cứu văn chương nhìn từ ngôn ngữ học
2.2 Tình hình nghiên cứu về thơ Quang Dũng
Nhắc đến Quang Dũng chúng ta đều nhớ ngay đến con người tài hoa, lãng mạn, nghệ sĩ nhưng cũng rất “đời” Nghiên cứu về thơ Quang Dũng đã có hàng chục bài viết, trong đó có nhiều cây bút tên tuổi, uy tín như Xuân Diệu, Hoài Thanh, Vân Long, Trần
Lê Văn, Mai Hương, Lưu Khánh Thơ, Hoài Việt Cả những cây bút trong văn nghệ miền Nam trước năm 1975 như Viên Linh, Viễn Di, Lê Hoàn Tân, Vũ Bằng, Xuân Vũ, Trần Hoài Thư Những đánh giá về thơ Quang Dũng cũng phong phú, phức tạp và trải qua nhiều bước thăng trầm như chính cuộc đời nhà thơ vậy Bài thơ nổi tiếng nhất nhưng cũng là bài thơ “tai tiếng” nhất khi các nhà nghiên cứu như Tố Hữu, Hoài Thanh đều cho rằng thơ Quang Dũng bị rơi rớt tinh thần tiểu tư sản “Ngày 4-6-1958 Tố Hữu còn mang ra phê bình cái “tư tưởng sa đọa”, “văn hóa suy đồi”, “Sơn La gái đẹp, sông Mã cọp gầm” [52, tr 251] Dẫn lại lời Tố Hữu, Hoài Thanh cũng cho rằng hình ảnh như thế
“nhất định không phải là hình ảnh chân thật của cuộc kháng chiến Việt Nam” vì thơ
Trang 13Quang Dũng “đều bắt nguồn trong một mối chung tức là con người cá nhân, trong cái
tôi lẻ loi, nhỏ bé của con người tư sản, tiểu tư sản cũ” Ta nhận thấy rằng, các ý kiến
bàn về thơ Quang Dũng giai đoạn đầu đều thiên về phê phán vì mang sự lệch chuẩn thẩm mỹ của thời đại
Nhưng rồi, những bông hoa ít được chú ý là những bông hoa đẹp nhất, trải qua những thăng trầm, thơ Quang Dũng được nhìn lại theo đúng giá trị mà nó vốn có Trước
nhất là nhờ những người bạn của nhà thơ Năm 1986, sau khi tập Mây đầu ô ra đời, Trần
Lê Văn – người bạn tri kỉ của Quang Dũng đã cho rằng: “Đến Tây Tiến Quang Dũng
mới bắt đầu tự khẳng định được mình, bắt đầu sự bộc lộ hình thành một phong cách thơ, một diện mạo thơ” Vậy thì chính những điều làm người ta băn khoăn và tranh cãi
nhất lại là những điều làm nên con người đa cảm và hào hoa Quang Dũng Các bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Văn Long, Vũ Tuấn Anh, Đặng Anh Đào, Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Lai Thúy cũng nói nhiều hơn về thơ Quang Dũng để một lần nữa nhắc lại cái tên ấy với một góc nhìn mới, khẳng định vị trí của thơ Quang Dũng trong nền thơ kháng chiến
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Quang Dũng, người thơ khẳng định: “Chỉ có
lòng chân thật tuyệt đối, chân thật với cảnh, với người và nhất là với chính lòng mình mới có thể tạo ra được những câu thơ vừa giản dị, mộc mạc, vừa táo bạo, mới lạ như thế” [29, tr.19] Nghệ thuật tổ chức chất liệu ngôn từ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng của Nguyễn Đăng Điệp cũng có ý kiến: “Tây Tiến (1948) quả là nét son đẹp nhất trong đời thơ Quang Dũng Cả bài thơ hiện ra như một sự hòa điệu đẹp đẽ giữa thơ – nhạc – họa Về phương diện nghệ thuật, Tây Tiến còn thể hiện một trình độ tổ chức chất liệu ngôn từ xuất sắc với một cấu trúc thơ có thể nói đã đạt tới mức tối ưu” [14, tr.372]
Nguyễn Xuân Nam trong tập sách Lý luận phê bình văn học Miền Trung thế kỉ XX bày
tỏ tình cảm chân thành khi nhìn lại giá trị của tập thơ Mây đầu ô: “Tập thơ “Mây đầu
ô” “đã đưa đến cho chúng ta phần tốt đẹp nhất của tâm hồn” Quang Dũng… “ta trân trọng những bài thơ của anh như trân trọng tâm hồn của anh, một tâm hồn chân thật, khiêm tốn luôn luôn mang nặng tình đất nước quê hương, luôn luôn ước mơ… từ lúc còn trai trẻ đến lúc tóc đã ngã màu” [36, tr.467]
Đặng Tiến trong cuốn Thơ – thi pháp và chân dung đã dành nhiều trang để viết
về Quang Dũng với sự ngưỡng mộ chân thành: “Với khách yêu thơ, Quang Dũng đã đến
giữa lòng cuộc đời, dịu dàng như một nét hoài nghi, rồi anh lại đi nhẹ nhàng như một thoáng mơ phai Trên những âm thanh và cuồng nộ của nhân gian anh đến anh đi gần
xa trên gót sen vàng lãng đãng, hiện thực như khói mây mà lại mờ ảo như một kỉ niệm”
[52, tr.241] hay “Thơ Quang Dũng được truyền miệng từ trong thời kháng chiến chống
Pháp, rồi được phổ biến qua những người bỏ về thành, di cư vào Nam năm 1954 Họ nâng niu thơ Quang Dũng như những hoài niệm về một thời son trẻ hào hùng nào đó
mà họ vẫn còn tiếc nuối” [52, tr.243] Với Thơ như là mỹ học của cái khác, Đỗ Lai Thúy
nhìn nhận những đóng góp to lớn của nhà thơ Quang Dũng: “Quang Dũng đã đến được
Trang 14những con “chữ khảo cổ học”, qua đó không chỉ đi sâu vào các lớp tri thức văn hóa,
mà quan trọng hơn, một địa tầng tâm thức: một khảo cổ học tâm hồn” [51, tr.343]
Nghiên cứu về thơ Quang Dũng gần đây có các luận văn như “Thế giới nghệ
thuật thơ Quang Dũng” của Nguyễn Quang Minh (2007), “Hình tượng con người trong thơ Quang Dũng” của Đậu Thị Hoa Lê (2010) hay “Đặc điểm nghệ thuật thơ Quang Dũng” của Đinh Thị Quyên (2016) đã góp những tiếng nói mới vào công cuộc phân
tích, khám phá cái tôi trữ tình, giọng điệu thơ, cách sử dụng từ ngữ, hình tượng nhân vật trong thơ Quang Dũng
Trong các sáng tác của Quang Dũng, ta bắt gặp không ít những tín hiệu thẩm mĩ tuy nhiên điều quan trọng là chúng ta phải lựa chọn những tín hiệu thẩm mĩ có khả năng xác lập phong cách nghệ thuật thơ Quang Dũng cũng như tần số xuất hiện chiếm ưu thế trong các sáng tác của nhà thơ Chúng tôi xin phép được lựa chọn các tín hiệu thẩm mĩ
với các nét biểu trưng chính như Mây – Biểu trưng cho Tuổi trẻ (tự do, phóng khoáng,
ưa xê dịch), Đôi mắt – Nét tài hoa, lãng mạn, Mồ - Phần nhạy cảm trong thơ Quang
Dũng – Sự bi thương, khốc liệt của chiến tranh để tập trung làm rõ phong cách thơ Quang Dũng
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này là Tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng, qua đó góp phần khẳng định phong cách thơ ông trên thi đàn văn học
Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tất cả các bài thơ của Quang Dũng từ khi ông
bắt đầu sáng tác với tác phẩm Chiêu Quân (1937) cho đến khi ông mất Nhà nghiên cứu Vân Long từng nhận xét “Quang Dũng làm thơ không nhiều… Tinh hoa thơ ông hầu
như đã tập trung ở tập Mây đầu ô” Với tất cả sự cố gắng tìm tòi, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này qua các tập thơ Mây đầu ô (1986); tập thơ, văn Rừng biển quê
hương (1957) in chung cùng Trần Lê Văn cũng như các tập Tuyển tập Quang Dũng - Tác phẩm chọn lọc (NXB Văn Học, 1988) và Tuyển tập Quang Dũng (NXB Văn Học,
1999) được cô con gái út Bùi Phương Thảo của Quang Dũng tổng hợp lại, thêm bài
“Khóc sư phụ chùa Bồ Đà” được con gái tác giả công bố trong bài viết “Nhà thơ Quang
Dũng và mối duyên lành nơi cửa Phật” và bài “Nhớ chuyện xa” được Bùi Phương Thảo
công bố trong bài viết “Đi tìm bút tích (di cảo) của cha tôi” đăng trên trang của Hội Nhà
văn Việt Nam ngày 3-11-2019, vậy chúng tôi có tất cả 47 bài thơ của nhà thơ Quang Dũng
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những cơ sở lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi mong muốn tiếp tục thể nghiệm phương pháp nghiên cứu văn học dưới góc nhìn của tín hiệu học nói
Trang 15chung, tín hiệu thẩm mĩ nói riêng, đồng thời đóng góp tiếng nói khẳng định thêm những thành công của thơ Quang Dũng, qua đó khắc họa phong cách ngôn ngữ của thi sĩ này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào các vấn đề sau:
- Giới thiệu lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ trong văn học
- Đôi nét về tác giả Quang Dũng
- Khảo sát, thống kê, phân loại nguồn ngữ liệu
- Tập trung phân tích một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng trên phương diện kết cấu và ý nghĩa
- Rút ra được những nhận xét về phong cách nghệ thuật từ phương diện sử dụng
từ ngữ tạo nên tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.2 Các phương pháp khác
Ngoài ra, trong quá trình viết, luận văn còn sử dụng phương pháp của các ngành
khoa học khác: tổng hợp, phân tích, quy nạp, diễn dịch…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Về mặt lí luận
Luận văn góp phần tìm hiểu thêm về một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng Đây là tín hiệu đặc biệt được sử dụng rất nhiều lần trong ngôn ngữ nghệ thuật, tạo nên những giá trị đặc sắc cho những tác phẩm văn chương, ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ của tác giả trong đó có Quang Dũng nói riêng Việc tìm ra những
ý nghĩa biểu trưng của một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng nhằm giúp bổ sung kiến thức về tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương được đầy đủ, toàn diện hơn
6.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể giúp nhiều người trong việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong các nhà trường trung học phổ thông theo hướng khám phá, tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ nghệ thuật; góp phần nâng cao chất lượng của mỗi giờ dạy Văn; khơi gợi khả năng cảm thụ văn học và tạo hứng thú cho học sinh Kết quả của luận văn góp phần vào việc tìm hiểu thơ của Quang Dũng một cách sâu sắc và toàn diện hơn, cũng như thấy được sự tài hoa của ông trong việc xây dựng các tín hiệu thẩm mĩ mới lạ
và độc đáo này
Trang 167 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, các phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng Chương 3: Giá trị biểu đạt của một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ
1.1.1 Tín hiệu
Là một khái niệm nằm trong ngành nghiên cứu kí hiệu học, trước hết ta cần hiểu
“kí hiệu” là gì? Trong bài Về kí hiệu quyển, Lotman cho rằng chúng ta đang sống trong
một thế giới kí hiệu Kí hiệu học là khoa học nghiên cứu về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động của kí hiệu và hệ thống kí hiệu F.de Saussure quan niệm ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu nhiều tầng được người bản ngữ chấp nhận, ghi nhớ, hiểu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng Nếu mô hình: kí hiệu = cái biểu đạt + cái được biểu đạt của Saussure được xem là mô hình nhị phân thì Peirce thiết lập mô hình kí hiệu theo tương quan ba mặt gồm những yếu tố tồn tại trong sự tương tác lẫn nhau: đối tượng, kí hiệu,
sự diễn giải được gọi là mô hình tam phân Nếu Peirce xem một kí hiệu được tạo thành trong mối quan hệ của nó với đối tượng được thay thế thì Saussure xem một kí hiệu được tạo thành trong mối quan hệ của nó với các kí hiệu khác trong một hệ thống Trường phái kí hiệu học Moskva – Tartu mà đại diện tiêu biểu là Lotman đã phát triển
quan điểm kí hiệu học của Saussure Lotman cho rằng: “Kí hiệu học là bộ môn khoa học
có nhiệm vụ khảo sát sự tương tác giữa các hệ thống kí hiệu có cấu trúc khác nhau, khám phá sự vênh lệch, không đồng bộ tự bên trong của không gian kí hiệu học, nghiên cứu sự cần thiết phải hiểu biết nhiều ngôn ngữ văn hóa và kí hiệu học”
Theo Ch Peirce: “Chẳng có cái gì là kí hiệu nếu nó không được diễn giải như là
kí hiệu” Daniel Chandler cho rằng “Kí hiệu là một vật mang nghĩa được diễn giải như
là đại diện cho cái gì đó ngoài nó… Kí hiệu không có ý nghĩa tự thân và trở thành kí hiệu chỉ khi người dùng kí hiệu cấp cho chúng nghĩa thông qua việc quy chiếu dựa vào
mã được thừa nhận”. Umberto Eco lại đưa ra công thức để hiểu về kí hiệu: Kí hiệu +
Mã hóa= Tín hiệu thông tin
Trong Từ ký hiệu đến thi pháp học, Hoàng Trinh cho rằng: “Bản thân ký hiệu là
một hệ thống mà nội dung của nó đã được vận dụng để tạo ra một hệ thống thứ hai gọi
là siêu ký hiệu” [55, tr 42] Lã Nguyên trong Phê bình kí hiệu học nhận định: “Kí hiệu
là phương tiện duy nhất của mọi hoạt động biểu nghĩa, giải nghĩa, giao tiếp, của văn hóa nói chung, phương tiện duy nhất để lưu giữ thông tin và sản xuất thông tin… Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định kí hiệu học sẽ là khuynh hướng của phê bình văn học thế
kỉ XXI” [32, tr.404] Như vậy ta có thể kí hiệu là cái khởi thủy cho mọi khái niệm về
sau, trong đó có “tín hiệu” Tất nhiên theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán,
Lê Quang Thiêm… dùng “tín hiệu” với nội hàm như “kí hiệu”
Trang 18Bùi Minh Toán trong Ngôn ngữ với văn chương đã đưa ra cách hiểu về TH: “Tín
hiệu ngôn ngữ nói riêng và tín hiệu nói chung đều là những dạng vật chất tác động vào giác quan của con người để con người nhận thức và lĩnh hội được một nội dung ý nghĩa cần thiết về nhận thức, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc hay hành động” [54, tr.135] Mai
Ngọc Chừ khi phân tích về TH cũng đồng quan điểm với Đỗ Hữu Châu hay Bùi Minh
Toán khi cho rằng: “Tín hiệu là một sự vật (hoặc một thuộc tính vật chất, một hiện
tượng) kích thích vào giác quan của con người, làm cho người ta tri giác được và lí giải, suy diễn tới một cái gì đó ngoài sự vật ấy” [11, tr.9] và đưa ra ba yêu cầu để thỏa mãn
xem một sự vật là một tín hiệu khi: Thứ nhất, phải là một sự vật hoặc thuộc tính vật chất được cảm nhận qua giác quan của con người Thứ hai, phải đại diện cho một cái gì đó, gợi ra cái gì đó không phải chính nó Thứ ba, sự vật đó phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định để được xác định tư cách TH của mình cùng với các tín hiệu khác Tín hiệu là cái phải có hai mặt: mặt biểu hiện vật chất và mặt được biểu hiện
Qua các ý kiến trên, ta thấy TH là những vật mà ta có thể tri giác được, đơn giản
từ đèn giao thông, tiếng kẻng trong quân ngũ, tiếng trống trường, tiếng chuông báo thức, một cái vẫy tay, nụ hôn gió… tất cả đều được hiểu là tín hiệu Tất nhiên các tín hiệu này đều bao gồm hai mặt, mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện, hai mặt này có mối quan hệ qua lại, biện chứng với nhau
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ
“Ngôn ngữ cũng được xem là một bộ mã, tức một hệ thống những tín hiệu có tính
chất ước lệ (cũng là những biểu trưng) được xây dựng theo những liên hệ và cấu trúc rất chặt chẽ, theo những luật lệ vô hình, được “cam kết” một cách thống nhất tuyệt đối trong một cộng đồng ngôn ngữ” [55, tr 60] Xuất phát từ khái niệm TH, bản thân THNN
cũng được tri nhận tương tự như vậy Như đã nói ở trên, dù có nhiều cách để giao tiếp như cử chỉ, ánh mắt, hội họa, âm nhạc thì ngôn ngữ vẫn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, phản ánh đầy đủ, đa dạng nhất mọi biến thái tình cảm của con
người “Sự phát hiện bản chất tín hiệu của ngôn ngữ đã bóc trần tất cả cái vẻ huyền bí
của ngôn ngữ và cho phép ta đi con đường thênh thang của khoa học hiện đại bằng cách
sử dụng những kết quả của tín hiệu hiệu học, toán học…” [31, tr.21] Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt của Mai Ngọc Chừ, nhà nghiên cứu nhận định: “Tín hiệu ngôn ngữ là sự hợp nhất của cái biểu hiện với cái được biểu hiện cái biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ là âm thanh, còn cái được biểu hiện của nó là ý nghĩa, là khái niệm về
sự vật được phản ánh được gọi tên Hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ không bao giờ tách rời nhau, nhưng lại có quan hệ võ đoán với nhau” [11, tr.10] hay cuốn Nhập môn ngôn ngữ học: “Tín hiệu là dấu hiệu quy ước để truyền đạt thông tin…Trong hệ thống ngôn ngữ, tín hiệu có thể mang tính đa trị, tức là một cái biểu hiện tương ứng với nhiều cái được biểu hiện khác nhau, một cái được biểu hiện tương ứng với nhiều cái biểu hiện Tín hiệu ngôn ngữ còn có khả năng truyền đạt cả những cung bậc khác nhau trong tình cảm của con người” [12, tr.38]
Trang 19Tiếp thu thành tựu ngôn ngữ của F.de Saussure, Hoàng Trinh xác lập: “Cái biểu đạt là mặt vật chất của ký hiệu, nghe được, nhìn được và cái được biểu đạt là mặt tinh thần, im lặng ở bên trong Cái biểu đạt đóng vai trò biểu hiện (cũng như hình thức)
“hiện diện” qua đó cái được biểu đạt bộc lộ ra ngoài, tự truyền đạt ra ngoài (cũng như nội dung) Không thể xem cái nào nặng cái nào nhẹ vì cả hai cái đều không thể thiếu một để tạo ra nghĩa tức là giá trị cơ bản của ký hiệu” [55, tr.35] để từ đó đi đến cách
hiểu về THNN là một khái niệm “có nguyên do”: “Lúc đầu ký hiệu là võ đoán, sự kết
hợp giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là không nguyên do Nhưng những ký hiệu đầu tiên không nguyên do đó sau này đã được vận dụng như những “nguyên do” để tạo
ra thêm các từ và các nghĩa” [55, tr37]
Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng người đều xác lập cho mình ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ nào cũng mang tính hệ thống mà biểu hiện là ở nhiều đơn vị Điều quan trọng là chúng ta phải xác định được đơn vị nào là TH, đơn vị nào là không Theo Bùi Minh Toán, những đơn vị chỉ có mặt âm thanh (âm vị, âm tiết), những đơn vị không dùng được độc lập (hình vị) đều không thể xem là TH Như vậy, nghiên cứu THNN là nghiên
cứu đơn vị từ và trên từ Phan Ngọc cũng đồng quan điểm khi nhận xét: “Ngôn ngữ là
một hệ tín hiệu Sở dĩ hệ tín hiệu này, ngoài việc thông báo được cái nội dung được biểu đạt, còn thể hiện được cảm xúc, đặc biệt là cảm xúc thẩm mĩ, là vì ở đây người ta có thể thực hiện được mọi kiểu lựa chọn về từ, trật tự các từ, số chữ, vần, nhịp, thể loại khác nhau…” [31, tr.189] Hoàng Trinh có ý kiến rằng: “Các âm trong thơ dính liền với các đơn vị thơ đến mức khi ta đọc ngầm, dường như ta cũng nghe được những âm vang, những tiếng vọng của chúng” [55, tr.27] Từ đây, ta có thể hình dung rằng sự kết hợp
của các ngữ âm cũng có thể tạo ra các tín hiệu thẩm mĩ Như vậy, ở một số trường hợp, khi xem xét các tín hiệu, bên cạnh nghiên cứu đơn vị từ và trên từ, ta có thể xem xét sự kết hợp của các ngữ âm hàm chứa ẩn ý để từ đó làm rõ TH hơn
Trong cuốn Ngôn ngữ và văn chương của Bùi Minh Toán, THNN được nghiên
cứu khá kĩ khi nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm, sau đó đi vào phân tích các tính chất
cơ bản của THNN đó là:
+) Tín hiệu ngôn ngữ là tín hiệu nhân tạo
+) Tín hiệu ngôn ngữ là tín hiệu âm thanh, tiếp nhận bằng thính giác Khi thể hiện trên chữ viết, nó chuyển sang tín hiệu thị giác, tiếp nhận bằng mắt
+) Tín hiệu ngôn ngữ luôn có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt
+) Tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến
+) Tín hiệu ngôn ngữ mang tính đa trị
+) Tín hiệu ngôn ngữ có tính biểu cảm
+) Tín hiệu ngôn ngữ có tính hệ thống
Qua việc khái quát lại các tính chất của THNN, ta thừa nhận đó là kết quả nghiên cứu có cơ sở và đúng đắn, cho chúng ta cái nhìn trọn vẹn về khái niệm tín hiệu ngôn ngữ
Trang 201.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ
Xuất phát từ nghiên cứu về TH, về THNN, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ áp dụng
nó vào việc nghiên cứu văn học từ góc độ kí hiệu học mà ở đây là nghiên cứu về THTM
Lã Nguyên trong Phê bình kí hiệu học từng có ý kiến: “Văn học chính là kí hiệu học và
kí hiệu học là con đường duy nhất giúp tiếp cận hữu hiệu các hiện tượng văn hóa, bao gồm cả văn học nghệ thuật” [32, tr.6] Nhắc đến “thẩm mĩ” là nhắc đến cái đẹp, tức
nghiên cứu thuộc về phương diện “cái đẹp” của văn học: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt
và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp
Ngôn ngữ tự nhiên đã là một hiện tượng lí thú, ngôn ngữ trong văn chương lại
càng nhiều tầng bậc, cần được đào sâu, bởi vậy mới nói “văn học là nghệ thuật của ngôn
từ”. Nói như Bùi Trọng Ngoãn trong Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ
học hiện đại thì: “Ngôn ngữ vừa là công cụ lại vừa là chất liệu của văn học; ngôn ngữ
là nguyên liệu của văn học và cũng là sự tái tạo có tính thẩm mĩ để hình thành tác phẩm văn học” [30, tr.18] hay “Ngôn ngữ văn học không chỉ chớp lại một khoảnh khắc của cuộc sống như một bức tranh mà còn tái hiện đời sống trong trạng thái vận động như
nó vốn có Nhờ tồn tại trong chất liệu ngôn ngữ mà hình tượng văn học tồn tại trong hai chiều là không gian và thời gian” [30, tr.19] Trong ngôn ngữ học cấu trúc của Saussure,
ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, là trung tâm của mọi mô tả kí hiệu học Còn với kí hiệu học văn hóa, văn bản là trung tâm trong quan niệm kí hiệu học của nó Jan Mukarovxki đề cao việc vận dụng những thành tựu của lý thuyết ký hiệu học ngôn ngữ,
lý thuyết ký hiệu và chỉ ra đặc trưng quan trọng nhất của văn học là tính ký hiệu Nếu những kí hiệu thông thường luôn hướng đến cái khác bên ngoài, tới đối tượng mà nó biểu thị thì kí hiệu tác phẩm văn học là đối tượng thẩm mĩ, một hiện tượng tồn tại theo
phương thức tự trị như là một hiện tượng kí hiệu vì nó và tự nó Ông cho rằng: “Đặc
trưng của kí hiệu thẩm mĩ là không nói đến sự việc nào đó của thế giới, mà là khắc họa các sự việc; với kết cấu song hành, tương ứng, nó gợi ra cái ấn tượng không liên quan
cụ thể đến điều gì cả nhưng buộc người đọc phải liên hệ đến” Như vậy, đặc trưng của
văn học không phải mang tính hiện thực như lí thuyết phản ánh đã nhận định mà đặc trưng của nó là tính kí hiệu Đề cập đến tính kí hiệu của văn học, Lotman khi trình bày
khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật ngôn từ đã viết: “Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không
trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học có một hệ thống kí hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các kí hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng những phương tiện khác”. Văn học nghệ thuật không sử dụng ngôn ngữ tự nhiên để xây dựng hình tượng mà nó nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ có được xây chồng lên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai Các nhà ngôn ngữ học định nghĩa văn bản như là chuỗi kí hiệu trên câu, là một chỉnh thể thống nhất có tính trọn vẹn về
nội dung và hoàn chỉnh về hình thức “Trong bài Tính cộng đồng cấu trúc của các loại
hình nghệ thuật khác nhau trên tài liệu của hội họa và văn học, B Uspensky quan niệm
Trang 21văn bản là bất cứ một chuỗi liên tục kí hiệu nào được tổ chức về mặt ngữ nghĩa Nhà bác học Ba Lan Maria R Maienova trong cuốn Văn học Nga cho rằng bất cứ cấu trúc
kí hiệu nào truyền đạt một nghĩa toàn vẹn nhất định là một văn bản” [56, tr.109] Mai
Thị Hồng Tuyết trong bài nghiên cứu Văn học dưới góc nhìn kí hiệu học đã đưa ra quan điểm với sự so sánh lí thú: “Nếu xem văn bản văn học là một ngôn ngữ thì tác phẩm văn
học chính là một siêu kí hiệu Nếu văn bản văn học mới chỉ là những vệt đen trên giấy trắng, là chữ nghĩa mà chúng ta thấy xuất hiện trên mặt giấy thì tác phẩm văn học đã thực sự tham gia vào đời sống giao tiếp Bởi vì chỉ khi được người đọc tiếp nhận, hình dung về thế giới nghệ thuật trong đó, văn bản văn học mới trở thành tác phẩm văn học”
[56, tr.110] Về mặt cấu tạo, tác phẩm văn học là một siêu kí hiệu vì đó là một kí hiệu lớn, do những kí hiệu nhỏ hơn kết dệt tạo thành, đó là ngữ âm, từ vựng, cú pháp…Trần
Đình Sử cũng khẳng định: “Văn học nghệ thuật là một sáng tạo kí hiệu, không chỉ chi
tiết, biểu tượng có tính kí hiệu, mà các nhân vật dù là nhân vật hư cấu hay nhân vật lịch sử, hễ xuất hiện trong văn học tất cả đều có tính kí hiệu”
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là người khởi xướng dùng THTM để phân tích ngôn ngữ văn học Khái niệm THTM xuất hiện cùng với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật từ những năm giữa thế kỉ XX và được tiếp nhận vào Việt Nam
từ những năm 60-70 qua các công trình của Đỗ Hữu Châu, Hoàng Trinh, Hoàng Tuệ, Nguyễn Lai, Phan Ngọc…Mặc dù chưa một ai đưa ra khái niệm THTM thật cặn kẽ nhưng ai cũng thừa nhận bản thân THTM là một TH đặc biệt, có khả năng tác động trực tiếp và mãnh liệt vào cảm xúc, tinh thần người đọc Ta có thể hiểu đơn giản rằng THTM
là THNN mang ý nghĩa thẩm mĩ, tất nhiên để đến được với giá trị thẩm mĩ thì đó là cả một hành trình dài của THNN kia, nói đúng ra là quá trình “tạo nghĩa liên tục” mới cho
ra được THTM Nói như Hoàng Trinh thì “nghĩa đã sinh ra nghĩa, nghĩa đen nhường
chỗ cho nghĩa bóng, nghĩa nội hàm”. “Việc sử dụng đắt, thích hợp các từ ngữ, các hành
vi ngôn ngữ sẽ đem lại cho các yếu tố ngôn ngữ một ý nghĩa thẩm mĩ, một nghĩa hình tượng vượt ra ngoài bản thân của ngôn ngữ Đây chính là con đường biểu trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ, làm hình thành nên những yếu tố ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ trong văn học” [41, tr.682-683] Dựa trên chất liệu là tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, THTM
được tạo ra mang những giá trị “vượt chuẩn mực” mà nó vốn có, để từ đó đi vào văn chương, với một vai trò là “phương tiện nghệ thuật” Phương tiện ngôn ngữ của THTM theo Đỗ Hữu Châu được xác định gồm: ngữ âm, từ vựng, cú pháp, đoạn văn, đoạn thơ, văn bản
Nói đến phương tiện nghệ thuật là nói đến hai mặt thể chất và tinh thần Mặt thể chất chính là những hình thức vật chất được sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật (như: đường nét, màu sắc trong hội họa; hình khối trong kiến trúc; âm thanh, tiết tấu trong âm nhạc; ngôn ngữ trong văn học) Mặt tinh thần bao gồm nhiều loại nội dung ý nghĩ, nhiều tầng khái quát hoá, trừu tượng hoá có tính thẩm mĩ
Trang 22Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả Đỗ Hữu Châu đã giải thích cụ thể hơn về tín hiệu thẩm mĩ ngôn ngữ như sau: Tín hiệu thẩm mĩ
là phương tiện sơ cấp của văn học; Ngôn ngữ thực sự của văn học là ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp tín hiệu thẩm mĩ Tác giả Đỗ Hữu Châu, từ sự phân tích mặt thể chất
và mặt tinh thần cửa “phương tiện nghệ thuật” đã cho rằng THTM là “phương tiên sơ cấp” của văn học Ngôn ngữ (chất liệu) trong văn học chỉ là hình thức – cái biểu hiện của THTM, là “phương tiện sơ cấp”, là “ký hiệu” so với THTM Vì vậy, đi tìm THTM không chỉ căn cứ trên các hình thức ngôn ngữ thuần túy, với các ngữ nghĩa và ngữ pháp như của các hình thức ngôn ngữ thuần túy
Tín hiệu thẩm mĩ có thể bao gồm hai cấp độ: tín hiệu thẩm mĩ đơn và tín hiệu thẩm mĩ phức Các tín hiệu thẩm mĩ đơn tương ứng với các từ, các ngữ trong ngôn ngữ
tự nhiên Các tín hiệu thẩm mĩ phức là kết quả của sự tổ hợp nhiều tín hiệu thẩm mĩ đơn Các tín hiệu thẩm mĩ phức có thể bao trùm cả tác phẩm, có thể tương đương với các hình tượng nghệ thuật “Khi cả hệ thống tín hiệu trong văn bản biểu đạt một thông tin
thứ cấp thì bản thân nó, văn bản đó, là tín hiệu thẩm mĩ” [30, tr.38]
Trên cơ sở tiếp thu những tinh hoa từ lý thuyết của F.de Saussure, Trần Văn Sáng
trong Hệ thống tín hiệu thẩm mĩ – sóng đôi trong ca dao dưới ánh sáng của lý thuyết kí
hiệu học cho rằng: “Trong ngôn ngữ văn chương, hệ thống tín hiệu thẩm mĩ tồn tại và hoạt động theo những quy luật của tín hiệu và quy luật của tín hiệu ngôn ngữ Do vậy, tín hiệu thẩm mĩ được xác định là tín hiệu nhân tạo; tín hiệu thính giác; tín hiệu sơ cấp, chưa chuyển mã; tín hiệu giao tiếp có chức năng thẩm mĩ, chức năng bộc lộ, biểu cảm, chức năng hệ thống; và là tín hiệu – biểu trưng nghệ thuật” [42, tr.179] Lê Đức Luận
trong Tín hiệu thẩm mĩ về tình yêu trong ca dao người Việt lại làm rõ bản chất của THTM xét trong mối quan hệ với THNN: “Tín hiệu thẩm mĩ biểu thị mối quan hệ giữa
tín hiệu ngôn ngữ (cái biểu đạt) và ý nghĩa biểu trưng (cái được biểu đạt) Nếu cho rằng trong tín hiệu ngôn ngữ, giữa âm và nghĩa là võ đoán thì quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ là có lí do… Con đường xây dựng một tín hiệu ngôn ngữ thành một tín hiệu thẩm mĩ là phương thức tu từ các đơn vị từ vựng” [28, tr.3] Trương Thị
Nhàn khi bàn đến khái niệm THTM cũng chỉ rõ rằng: “Có thể hiểu, tín hiệu thẩm mĩ là
toàn bộ những yếu tố hiện thực, những chi tiết của sự vật, hiện tượng trong đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích nghệ thuật Trong tác phẩm văn học, tín hiệu thẩm
mĩ có thể tương ứng với những chi tiết nghệ thuật, những khách thể mang giá trị thẩm
mỹ (những sự vật hiện tượng tự nhiên, con người, đồ vật, những tác phẩm thuộc các thể loại mang nội dung xã hội - lịch sử… Trong hệ thống phân loại tín hiệu học, tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu - biểu trưng (symbol) Trong mối quan hệ với ngôn ngữ tự nhiên - chất liệu của văn học, tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu chưa chuyển mã, tín hiệu nguyên cấp (primaire)” [35, tr.1] Tín hiệu thẩm mĩ là cái được rút ra từ hiện thực nhưng phải được
lựa chọn biểu đạt bằng các từ ngữ gợi được liên tưởng Vì vậy, khi thực hiện chức năng thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học, các tín hiệu thẩm mĩ đều được cấu tạo lại, tổ chức
Trang 23lại trong mối quan hệ với các nhân tố của quá trình giao tiếp đặc biệt như một hoạt động sáng tạo
1.1.4 Mối quan hệ giữa tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ
Lotman từng nói chúng ta đang sống trong một thế giới kí hiệu, bản thân mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại mà chúng ta tri nhận được đều là những TH Tín hiệu bao gồm hai mặt: mặt vật chất (cái biểu đạt) và mặt tinh thần (cái được biểu đạt), giữa hai mặt này có mối quan hệ võ đoán với nhau, tức ý nghĩa của TH đó được cộng đồng người quy ước, mặc nhiên thừa nhận và sử dụng Tín hiệu ngôn ngữ nói đúng hơn là một nội dung, một thành phần nằm trong TH Tín hiệu ngôn ngữ cũng có tính hai mặt: cái biểu hiện (âm) và cái được biểu hiện (nghĩa) tất nhiên khi tiếp nhận bằng thị giác thì cái biểu hiện (chữ viết) và cái được biểu hiện (nghĩa) Tín hiệu ngôn ngữ lại là chất liệu tạo nên THTM thông qua quá trình tạo nghĩa liên tục nhờ sự sáng tạo của người nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của người đọc Tín hiệu ngôn ngữ có thể tồn tại ở tất cả các dạng văn bản nhưng THTM chỉ tồn tại trong những tác phẩm nghệ thuật thực thụ Đó là những
phương tiện nghệ thuật làm nên cái đẹp, truyền đạt cái đẹp đến bạn đọc “Khi đi vào tác
phẩm văn học, kí hiệu ngôn ngữ đã được tái mã hóa để trở thành ngôn ngữ nghệ thuật”
[56, tr106]
Kế thừa nhiều công trình của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như F.D.Saussure với chủ nghĩa cấu trúc, P.Guiraud với sự sáng tạo lại ngôn ngữ tự nhiên trong tác phẩm văn học và Hjelmslev với nghĩa liên hội, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm THTM: Tín hiệu thẩm mĩ hay tín hiệu ngôn ngữ văn chương được xây dựng trên cơ sở tín hiệu ngôn ngữ
tự nhiên, hệ thống thứ nhất được dùng làm phương tiện biểu đạt cho hệ thống thứ hai theo cơ chế sau:
Tín hiệu ngôn ngữ
Cái biểu đạt: ngữ âm
Cái được biểu đạt: ý nghĩa
Tín hiệu thẩm mĩ
Cái biểu đạt tín hiệu ngôn ngữ
Ngữ âm
Ý nghĩa Cái được biểu đạt: ý nghĩa thẩm mĩ
Ở đây, có một vấn đề cần bàn thêm đó là mối quan hệ giữa THTM với ngôn ngữ văn chương Ngôn ngữ văn chương có nguồn gốc từ ngôn ngữ thông thường nhưng nó không phải là ngôn ngữ thông thường, đó là “ngôn ngữ đặc biệt”, “ngôn ngữ vượt chuẩn”, ngôn ngữ thuộc hệ thống thứ hai Ta không thể đồng nhất ngôn ngữ tự nhiên
Trang 24đời thường với ngôn ngữ văn chương cũng như không thể cho rằng ngôn ngữ văn chương là tín hiệu thẩm mĩ
Xét về nét giống, bản thân ngôn ngữ văn chương hay THTM đều được cấu thành
từ chất liệu ngôn ngữ Ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn học vừa là chính nó, vừa là chất liệu cấu thành nên THTM Ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong việc
đi vào tác phẩm văn chương, việc lựa chọn một hình thức cái biểu đạt cho THTM để thể hiện ý nghĩa thẩm mĩ không phải tùy tiện như thế nào cũng được Có thể xem ngôn ngữ
là các biến thể của THTM, còn THTM lại là hằng thể đối với các biến thể đó
1.2 Các đặc trưng cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ
Về vấn đề các đặc trưng cơ bản của THTM, mỗi nhà nghiên cứu cũng có những quan điểm riêng, Bùi Minh Toán cho rằng THTM có bảy đặc trưng cơ bản là: tính hình tuyến, tính có lí do lí giải được, tính hàm súc, tính cá thể, tính dân tộc, tính biểu cảm và tính hệ thống Các tính chất đó hoà quyện với nhau để tạo ra tín hiệu thẩm mĩ trong văn
chương mang những giá trị đặc sắc Mai Thị Kiều Phượng trong Tín hiệu thẩm mĩ trong
ngôn ngữ văn học đưa ra đến mười chín đặc trưng của tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ nhưng
nhiều đặc trưng lại có sự gần gũi, nhập nhằng với nhau, thêm vào đó các đặc trưng là sự pha trộn của đặc trưng về TH, đặc trưng về THNN hay ngôn ngữ nghệ thuật
Chúng tôi theo quan điểm của tác giả Trương Thị Nhàn Trong bài viết “Một số
vấn đề và phân tích văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ” cho rằng
THTM có những đặc trưng sau:
1.2.1 Tính cấp độ
Bản chất THTM là THNN thì bản thân nó cũng mang những đặc trưng của THNN, trong đó có tính cấp độ tức: ngữ âm, một từ, một cụm từ, một cấu trúc ngữ pháp… Nói tính cấp độ có nghĩa là bất kì một từ, một cụm từ, một văn bản nào cũng có thể trở thành tín hiệu thẩm mĩ, chúng có thể có quan hệ đồng đẳng (giữ vai trò như nhau trong việc biểu đạt nghệ thuật) hoặc quan hệ bao hàm, tức THTM này nằm trong THTM kia Ta có thể hình dung trong một bài thơ thì bản thân một số từ vựng là tín hiệu bậc
hai, toàn khổ thơ là tín hiệu bậc ba…Bùi Trọng Ngoãn trong Tiếp cận tác phẩm thơ ca
dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại đưa ra hai cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ là: Các tín
hiệu thẩm mĩ bộ phận và các tín hiệu thẩm mĩ bao trùm tác phẩm Trước đó, tác giả Đỗ Hữu Châu đã đề xuất phân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản: Ở cấp cơ sở: THTM ứng với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan, ví dụ: mặt trời, con thuyền, nỗi nhớ… đó là những TH Ở cấp độ xây dựng (tín hiệu phức): THTM ứng với nhiều sự vật, hiện tượng được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản những tín hiệu thẩm mĩ đơn Loại tín hiệu phức được tạo ra để biểu hiện những ý nghĩa thẩm mĩ mới trong tác phẩm văn chương Thẩm
mĩ đơn hay tín hiệu thẩm mĩ cơ sở có chức năng tham gia cấu tạo nên những THTM ở cấp độ cao hơn trong tác phẩm
Trang 251.2.2 Tính hệ thống
Tác phẩm văn chương vốn là một thể thống nhất được cấu thành từ nhiều hệ thống, THTM nằm trong tác phẩm văn chương cũng thuộc về một hệ thống nhất định, bởi vậy nó chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong cùng hệ thống thông qua những quan hệ nhất định Tính hệ thống có thể hình dung là một đơn vị khi nằm riêng lẻ chúng không có giá trị nhưng khi đặt trong một hệ thống thì chúng lại trở nên có ý nghĩa, cùng với các đơn vị khác làm nên giá trị của tác phẩm Hoặc tính hệ thống cũng có thể xuất hiện ở cấp độ lớn hơn đó là giữa những tác phẩm của cùng một tác giả Tức phong cách tác giả chi phối đến nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm tạo thành một thể thống nhất
Tính hệ thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh với những quy luật thuộc cấu trúc tác phẩm: khía cạnh nội tại (cấu trúc) giữa TH với TH cùng xuất hiện và khía cạnh ngoại tại (chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo nghệ thuật, với hiện thực cuộc sống, với chủ thể sáng tạo, với chủ thể tiếp nhận…
1.2.3 Tính biểu hiện
Mỗi một TH đều phải mang một nội dung đó, đối với THTM thì yêu cầu này lại càng cần thiết Tín hiệu thẩm mĩ phải mang một giá trị thẩm mĩ nhất định Đây là đặc tính quan trọng liên quan đến sự thực hiện chức năng chung của nghệ thuật đó là chức năng phản ánh hiện thực Tín hiệu thẩm mĩ mang nội dung hiện thực nhất định
M.B.Khrapchenco cho rằng: “Tín hiệu thẩm mĩ phải có chức năng thay thế (thay thế
những hiện tượng trong thực tế)” Nguyễn Lai cho rằng: TH bao giờ cũng mang một nội
dung thông báo đến một đối tượng nào đó, nếu không mang một nội dung thông báo thì
TH không còn là TH Tương tự như vậy, Đỗ Hữu châu cũng nêu lên quan điểm THTM phải ứng với một sự vật, hiện tượng nào đó trong thế giới hiện thực, phải có vật quy chiếu trong thế giới hiện thực Trong văn học, THTM là những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm nhất định, gắn với hiện thực v.v phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người Mặt khác, sự biểu hiện của THTM còn liên quan đến quá trình liên tưởng ở chủ thể tiếp nhận Bản thân người đọc có sự liên tưởng gần gũi, tư duy lo gic, khả năng thẩm thấu những giá trị thẩm mĩ cao thì TH đó lại càng có giá trị Bên cạnh chủ thể tiếp nhận là đặc trưng văn hóa của mỗi vùng miền, mỗi đất nước cũng là hệ quy chiếu lên các tín hiệu thẩm mĩ
1.2.4 Tính biểu trưng
Tính biểu trưng là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện Đây là mối quan hệ có lý do, liên quan đến năng lực biểu trưng hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM trong tác phẩm Vậy thì tính biểu trưng cũng chính là tính có lí do, lí giải được theo cách gọi của Bùi Minh Toán Xét về mặt biểu hiện thì đó là những đối tượng tồn tại trong cuộc sống thực, và ý nghĩa, giá trị của nó vốn được cả cộng đồng người chấp nhận Tính
Trang 26quy ước đó chính là tính có lí do trong THTM Qua đặc trưng này ta thấy được tư duy, quan niệm xã hội, phong tục tập quán và hơn cả là nền văn hóa của cả một dân tộc
Vì tính biểu trưng phụ thuộc vào sự quy ước của một cộng đồng mà ở mỗi cộng đồng đối tượng đó lại có giá trị biểu trưng khác nhau Vì vậy, khi ta xét tính biểu trưng của một tín hiệu thẩm mĩ nào đó chính là ta đang phát ngôn những giá trị văn hóa của bốn nghìn năm văn hiến trên dải đất hình chữ S này
1.2.5 Tính trừu tượng và cụ thể
Trong tín hiệu học, người ta phân biệt điển dạng (hay hằng thể) và hiện dạng (hay biến thể) của mỗi tín hiệu Điển dạng là TH trong tính trừu tượng bất biến của nó, còn gọi là hằng thể của TH Hiện dạng là TH trong tính cụ thể, khả biến của nó, còn gọi là các biến thể của TH Trên thực tế, người ta chỉ gặp các hiện dạng hay biến thể của TH với những biểu hiện không hoàn toàn giống nhau trong những lần xuất hiện Đối với THTM cũng vậy, nghiên cứu các tín hiệu thẩm mĩ trên thực tế chính là nghiên cứu các biến thể của chúng Như vậy, có thể quan niệm biến thể của THTM là THTM trong các lần xuất hiện của nó Ở mỗi lần xuất hiện, THTM được biểu đạt bằng một hình thức cái biểu hiện - biến thể, mang một nội dung cái được biểu hiện - biến thể, đồng thời có những mối quan hệ mới với những yếu tố cùng xuất hiện trong hệ thống mà THTM tham gia, và được cảm nhận với cảm xúc mới v.v…Quan hệ hằng thể - biến thể giữa THTM với mỗi lần xuất hiện của nó như bao hàm cả quan hệ giữa cái biểu hiện hằng thể với cái biểu hiện biến thể, giữa cái được biểu hiện hằng thể với cái được biểu hiện biến thể, giữa THTM với những biến thể do quan hệ, do cảm xúc…
Ngoài ra có thể xác định mối quan hệ hằng thể - biến thể giữa các tín hiệu thẩm
mĩ – sự vật hiện tượng mang tính khái quát, chung, với các tín hiệu thẩm mĩ - sự vật hiện tượng mang tính cụ thể, riêng so với chúng
1.2.6 Tính tác động
Tính tác động của THTM có thể được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất là sự tác động của THTM trong bản chất của một “kích thích vật chất” tác động lên kí ức của chủ thể tiếp nhận tạo nên hình ảnh của một kích thích khác như ý kiến của P Guiraud Như vậy có thể hiểu hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của thế giới tinh thần được THTM lấp đầy trong thế giới chủ thể tiếp nhận Hiểu đơn giản khi nắm được giá trị một tín hiệu thẩm mĩ, tri thức của người đọc cứ thế nâng dần lên
Khía cạnh thứ hai của tính tác động liên quan đến sự thực hiện chức năng giao
tiếp nghệ thuật của THTM, ở đó có “những tín hiệu đặc biệt có khả năng kích thích
mạnh mẽ thế giới, tư tưởng của chúng ta, do đó trở thành những yếu tố kích thích của
sự điều chỉnh sống động những tâm trạng xã hội khác nhau” Tính tác động thể hiện ở
khả năng đối thoại của tác phẩm với các chủ thể tiếp nhận Và cứ như thế, mỗi một chủ thể tiếp nhận, thậm chí một chủ thể tiếp nhận trong những lần đối thoại khác nhau thì nội dung, tư tưởng, giá trị của THTM đó lại được lấp đầy
Trang 271.2.7 Tính biểu cảm
Khác với các sản phẩm của các loại hình nghệ thuật khác, văn chương yêu cầu cao về giá trị biểu cảm Tức tác giả thể hiện thái độ, tư tưởng, tình cảm qua tác phẩm; người đọc khi tiếp nhận tác phẩm lại được khơi gợi, bồi dưỡng những cảm xúc Tất cả
phụ thuộc vào THTM là chủ yếu M.B.Khrapchenco đã chỉ ra rằng “có một hệ số cảm
xúc nhất định, một cơ cấu cảm xúc thuộc cấu trúc tín hiệu thẩm mĩ” Theo tác giả, “cảm xúc vừa là cái để truyền đạt trong tín hiệu thẩm mĩ vừa là cái xác định gián tiếp các đối tượng và hiện thực làm cơ sở cho việc hiểu một tín hiệu thẩm mĩ” Trong THTM cảm
xúc vốn là cái chủ quan của chủ thể sáng tạo, đã được khách quan hóa thành một phần quan trọng trong cơ cấu nghĩa của THTM Khi nói đến cảm xúc, cũng chính là nói đến những đặc điểm lịch sử, xã hội, tâm lý, văn học, cá nhân…chi phối cảm xúc cũng như
sự nhận thức – tiếp nhận cảm xúc từ hai phía chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận Cùng một nội dung hiện thực nhưng nếu với ý nghĩa biểu cảm khác nhau thì sẽ tạo nên cái mới, cái sinh động, cụ thể và riêng biệt cho THTM trong mỗi lần xuất hiện Điều này đòi hỏi rất cao từ hai phía, thứ nhất từ phía người nghệ sĩ, tính biểu cảm có tồn tại và nâng lên cao hay không là nhờ vào tài năng của những nghệ sĩ ngôn từ Thứ hai là khả năng cảm thụ văn chương đến từ phía người đọc, liệu chủ thể tiếp nhận đó có một cái tâm thật sáng hay không, có sự hiểu biết sâu rộng hay không khi tiếp xúc với những giá trị biểu cảm được thể hiện trong tác phẩm
Trong Ngôn ngữ và văn chương, Bùi Minh Toán có nói thêm về “biểu cảm dương
tính” và “biểu cảm âm tính” Biểu cảm dương tính là THTM thể hiện được sắc thái tích
cực, khơi gợi ở người đọc những sắc thái tương ứng Còn biểu cảm âm tính là tạo ra những cảm xúc tiêu cực, nặng nề, đó là khi tác phẩm xây dựng những mặt trái của cái đẹp, cái phản thẩm mĩ, cần lên án
1.2.8 Tính truyền thống và cách tân
Tính truyền thống và cách tân cũng được xem là một trong những đặc trưng cơ
bản của THTM Theo Đỗ Hữu Châu: “Truyền thống và cách tân là hai phương diện
biện chứng của tín hiệu thẩm mĩ” Nói đến tính truyền thống là nói đến tính cố định, tính
lặp lại, tính kế thừa, có sẵn của THTM trong kho tàng nghệ thuật của một dân tộc Còn nói đến cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc sử dụng THTM của mỗi tác giả, mỗi tác phẩm… Không có sự cách tân thì THTM sẽ trở nên bị mài mòn, bị mất
đi giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc Nhưng nếu không có truyền thống thì THTM sẽ
bị mất đi những điều kiện nhất định về mặt liên tưởng giúp ích cho việc lĩnh hội THTM trong tác phẩm Cái mới trong cách sử dụng THTM của các tác giả có thể được thể hiện
ở việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cách tân các tín hiệu thẩm mĩ, ở việc đổi mới các tín hiệu thẩm mĩ có sẵn trong truyền thống, mang lại cho chúng những ý nghĩa mới, nhưng chỉ có được thông qua sự sáng tạo của người nghệ
sĩ Điều cốt lõi là người nghệ sĩ phải biết cân bằng giữa tính truyền thống và cách tân
Trang 28trong sáng tạo THTM, có như vậy THTM vừa là tiếng nói chung vừa mang những nét riêng mà chúng ta hay gọi là cá tính, là phong cách của người nghệ sĩ
thống nhất của ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ trong các ngành nghệ thuật: “Rất nhiều tín
hiệu thẩm mĩ được sử dụng trong văn học, hội họa, điện ảnh, âm nhạc…như những tín hiệu đồng nghĩa (có thể đồng cảm xúc) Chỉ khác nhau ở sự thể hiện bằng các chất liệu riêng của từng ngành”
Tính đẳng cấu có thể xét ở các nội dung sau: Thứ nhất, tính đẳng cấu của THTM không chỉ biểu hiện qua các ngành nghệ thuật khác nhau mà còn qua từng hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của tín hiệu trong hệ thống Thứ hai, giữa chất liệu hiện thực và THTM cũng có quan hệ đẳng cấu Cuối cùng là sự đẳng cấu giữa các cặp tín hiệu thẩm mĩ Nghĩa của từng TH là khác nhau, quan hệ ý nghĩa giữa các TH trong từng cặp cũng khác nhau song xét trong cùng một hệ thống chúng lại có quan hệ
ý nghĩa cảm xúc giống nhau
1.3 Chức năng của tín hiệu thẩm mĩ
1.3.1 Chức năng biểu hiện
Là đơn vị tạo nên những giá trị nghệ thuật cho tác phẩm, THTM trước tiên phải xuất phát từ đời sống và tồn tại vì hiện thực Mọi vật thể, hiện tượng đều có thể đi vào văn chương, là chất liệu, là cái biểu đạt của THTM Chức năng biểu hiện chính là chức năng phản ánh thế giới hiện thực thông qua lăng kính của người nghệ sĩ
Thứ hai đó có thể là biểu hiện hiện thực tâm trạng của con người với muôn hình vạn trạng cảm xúc Trước nhất là những biến thái trong tâm trạng của người nghệ sĩ, tác phẩm là nơi để họ kí thác nỗi lòng của mình, phơi bày những góc khuất mà người đọc
sẽ là người kiến giải, khám phá Sau là nơi để người đọc nhìn thấy mình trong đó, để khơi gợi, để hòa nhập, để đắm chìm vào thế giới cảm xúc mà người nghệ sĩ tạo ra
1.3.2 Chức năng tác động
Về phương diện truyền tải những cảm xúc đẹp của THTM, đó chính là biểu hiện, bộc lộ những tư tưởng, tình cảm của con người Khi chủ thể tiếp nhận được tiếp xúc với những giá trị tinh thần đó sẽ khơi gợi, truyền cảm hứng, nuôi dưỡng trong mỗi người đọc những tình cảm đẹp Đó chính là giá trị to lớn của văn học nói chung và THTM nói riêng
Ví dụ trong câu ca dao: “Con cò lặn lội bờ ao/Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc
nỉ non” ta thấy được tín hiệu thẩm mĩ “con cò” có nguồn gốc từ đời sống thực với bản
chất hiền lành, chăm chỉ, chịu khó, dáng vẻ gợi sự cơ cực đã đi vào ca dao để nói về sự
Trang 29vất vả, cực nhọc, sự hi sinh lớn lao của những người vợ Qua tín hiệu thẩm mĩ đó, tác động đến tình cảm người đọc những cảm xúc yêu thương, trân trọng, tự hào, nhắc nhở bản thân biết coi trọng, vun đắp hạnh phúc gia đình, biết nâng niu những giá trị mang tên gia đình mà trong đó công lao lớn lao nhất thuộc về những người bà, người mẹ
1.4 Phương thức cấu tạo của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật
1.4.1 Ẩn dụ
Tín hiệu thẩm mĩ đã tận dụng hết những giá trị của hai phương thức chuyển nghĩa
cơ bản nhất là ẩn dụ và hoán dụ để làm bật lên những giá trị thẩm mĩ trong văn chương
Ẩn dụ là phương thức dựa trên sự tương đồng nào đó giữa đối tượng trong hiện thực
thông qua THNN với THTM Theo Hoàng Trinh trong Từ ký hiệu học đến thi pháp học thì: “Trong việc biểu hiện các dạng thái tình cảm, dựa vào “chiến lược” của ẩn dụ,
ngôn từ cũng phải tách khỏi chức năng miêu tả trực tiếp, để sự khám phá của nó thực
sự “hào hiệp” phản ánh được tất cả mọi diễn biến phức tạp và đa dạng của tình cảm con người trước mọi đối tượng” [54, tr.111] Ví dụ, hình ảnh “tấm lụa đào” từ cuộc sống
đi vào văn học với nét mỏng manh, mềm yếu nhưng rất đỗi quý phái, sang trọng để chỉ người phụ nữ có nhan sắc, có tâm hồn đẹp, hơn hết là sự long đong của số mệnh khi không tự định đoạt được tương lai mình như “tấm lụa đào” không thể lựa chọn được người mua
Bùi Minh Toán cho rằng với phương thức ẩn dụ, để xây dựng THTM, người nghệ
sĩ cần phải trải qua những công đoạn sau:
Bước 1: Quan sát, nhận thức, cảm nhận, phát hiện ra đối tượng hàm chứa sự tương đồng với ý nghĩa thẩm mĩ định thể hiện
Bước 2: Lựa chọn và sử dụng từ ngữ (tín hiệu ngôn ngữ) gọi tên đối tượng trong hiện thực
Bước 3: Chuyển hóa tín hiệu ngôn ngữ thành tín hiệu thẩm mĩ: giữ nguyên cái biểu đạt, nhưng chuyển cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ thành cái được biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ (ý nghĩa thẩm mĩ) [54]
1.4.2 Hoán dụ
Nếu ẩn dụ dựa trên quan hệ tương đồng thì hoán dụ lại dựa trên mối quan hệ
tương cận “Quan hệ tương cận không chỉ là sự gần gũi về không gian, mà còn là mối
quan hệ gắn bó với nhau, luôn đi đôi với nhau, kéo theo nhau hay tồn tại song song với nhau” [54, tr.162] Hoán dụ biểu hiện qua nhiều mối quan hệ tổng thể như: bộ phận –
toàn thể, tên gọi – đặc điểm sự vật, chất liệu – sản phẩm, trừu tượng – cụ thể, vật chứa – vật bị chứa…
Ví dụ trong câu thơ: “Áo nâu liền với áo xanh/Nông thôn cùng với thị thành đứng
lên” của nhà thơ cách mạng Tố Hữu chúng ta thấy được mối quan hệ tên gọi – đặc điểm
sự vật qua hai tín hiệu thẩm mĩ áo xanh và áo nâu Trong nhân dân, tầng lớp hay mặc
áo nâu là nông dân, áo xanh lại chỉ màu áo của công nhân, vậy thì câu thơ chính là sự
Trang 30ngợi ca, tự hào về tình đoàn kết của liên minh công – nông trong công cuộc gìn giữ và bảo vệ Tổ quốc
Theo chúng tôi, để xây dựng THTM bằng phương thức hoán dụ cũng tương tự như bằng phương thức ẩn dụ, đó là cần đi từ bước quan sát, cảm nhận được mối quan
hệ gần gũi giữa các sự vật trong tự nhiên để từ đó đi vào văn học với đầy đủ vẻ đẹp thẩm
mĩ dưới bàn tay điêu luyện của người nghệ sĩ
Tất nhiên nói như Nam Cao “văn học không cần đến những người thợ khéo tay”
mà phải sáng tạo không ngừng, “khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì
chưa có”, phương thức ẩn dụ và hoán dụ khi đi vào văn học không phải bao giờ cũng
tách biệt mà đôi lúc có sự cộng hưởng, kết hợp với nhau Chính điều đó giúp cho hiệu
quả thẩm mĩ của THTM đó được cao hơn Theo Hoàng Trinh trong Từ ký hiệu học đến
thi pháp học thì: “Trong các hình thể từ ngữ mà ký hiệu học nghiên cứu, ẩn dụ, hoán
dụ, đề dụ đều được xem là những biểu trưng” [55, tr.88] Một ví dụ tiêu biểu cho sự kết
hợp giữa ẩn dụ và hoán dụ là những câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Viễn Phương:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ, Kết tràng hoa dâng bảy mươi chin mùa xuân
Nổi bật trong khổ thơ có lẽ là tín hiệu thẩm mĩ “mặt trời” được xây dựng bằng
phương thức ẩn dụ đó là dựa trên những nét tương đồng giữa mặt trời trong tự nhiên với Chủ tịch Hồ Chí Minh: duy nhất, vĩnh hằng, soi sáng, sưởi ấm, mang lại sự sống Tiếp
đó là tín hiệu thẩm mĩ “đi”, “thấy”, “dòng”, “tràng”, “dâng” được tạo ra từ phương thức ẩn dụ, “mùa xuân” từ phương thức hoán dụ đã cho thấy tình cảm nhớ thương, biết
ơn, tự hào của toàn dân tộc Việt Nam gửi đến Bác Hồ kính yêu
1.5 Các hằng thể của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật
Hai dạng thức tồn tại của THTM là hằng thể và biến thể Hằng thể là dạng điển hình, phổ biến, dạng đơn giản nhất, được biểu đạt và có ý nghĩa rõ ràng nhất Chúng ta
có hai loại hằng thể là hằng thể từ vựng và hằng thể kết hợp, trong hằng thể kết hợp có các dạng: hằng thể kết hợp danh từ/cụm danh từ (HTKH(DT/CDT)), hằng thể kết hợp động từ/cụm động từ (HTKH(ĐT/CĐT), hằng thể kết hợp tính từ/cụm tính từ (HTKH(TT/CTT)) và hằng thể kết hợp cụm chủ-vị (HTKH (cụm C-V))
Xung quanh hằng thể là hàng loạt biến thể tạo nên một hệ thống Có thể xem biến thể là các vỏ âm thanh khác nhau cùng biểu đạt một nội dung như hằng thể Ta có hai loại biến thể chính là biến thể độc lập và biến thể trong cấu trúc Giữa hằng thể và biến
thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, theo Trần Văn Sáng trong Mấy vấn đề cho việc
giảng dạy văn học dưới ánh sáng của lý thuyết ngôn ngữ - Tín hiệu thẩm mĩ thì: “Theo quan điểm hằng thể - biến thể, tín hiệu thẩm mĩ cần được coi là cái có tính chất trừu tượng, có thể chung cho nhiều biến thể, nhiều “lần xuất hiện” của nó trong hệ thống…Ý
Trang 31nghĩa biểu trưng dù có giãn nở đến đâu cũng không thể hoàn toàn tách ly, cắt đứt khỏi mối liên hệ với ý nghĩa cơ sở này” [41, tr 684]
Xét riêng trong các tác phẩm của nhà thơ Quang Dũng, biến thể hầu như hiếm gặp, chỉ tồn tại hai biến thể của THTM Mồ, vì vậy, với đề tài này, chúng tôi làm rõ hơn
về các hằng thể, đó là hằng thể từ vựng (HTTV) và hằng thể kết hợp (HTKH)
1.5.1 Hằng thể từ vựng
Qua cách gọi tên đã cho ta thấy chất liệu của HTTV là từ ngữ - những từ ngữ có nét tương đồng, gần nghĩa với hằng thể Khi nghiên cứu một HTTV tức chúng ta phải đặt nó trong mối tương quan về nghĩa với các hằng thể khác, giữa các hằng thể phải tồn tại một mối quan hệ, tức có nét chung về nghĩa Vậy thì các HTTV phải nằm trên cùng
một trường từ vựng nhất định Ví dụ với THTM Mắt cho ta các HTTV như: trường từ
vựng chỉ hành động: nhìn, thấy, khóc…; trường từ vựng chỉ trạng thái: lonh lanh, lưng
tròng, lấp lánh…
1.5.2 Hằng thể kết hợp
Hằng thể kết hợp cũng cùng chung một chất liệu với HTTV đó là từ ngữ nhưng
nó không nằm ở các cách gọi tên khác nhau mà HTKH là tất cả những từ ngữ cùng một trường nghĩa và có thể kết hợp theo trục ngang với hằng thể đó Về mặt từ loại, HTKH
có thể là danh từ, động từ, tính từ hoặc các cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ… Về mặt ý nghĩa, các HTKH tuy cùng trường nghĩa nhưng có những ý nghĩa đa dạng hơn từ
đó tạo nên tính đa dạng, nhiều màu sắc cho THTM đang được đề cập đến
Hằng thể của THTM thường xuyên xuất hiện trong cùng một tác phẩm văn chương tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật, vì vậy công cuộc tìm hiểu hằng thể, biến thể của THTM cũng chính là con đường phân tích văn chương cần được nghiên cứu Hằng thể và biến thể xuất hiện trong cùng một tác phẩm thậm chí là nhiều tác phẩm của cùng một tác giả, nhiều tác giả của cùng một thời đại, chính điều đó làm nên những giá trị to lớn mang tên những biểu trưng văn hóa của dân tộc mà nói như Trương Thị Nhàn trong
Một số vấn đề về phân tích văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ - tín hiệu thâm mĩ thì:
“Theo quan điểm hằng thể - biến thể, mỗi tín hiệu thẩm mĩ trước hết là một hằng thể
mang tính trừu tượng, chung cho nhiều lần xuất hiện, không chỉ trong một tác phẩm,
mà cả trong một thể loại, một nền văn học hay giữa các loại hình nghệ thuật khác nhau,
do đó có thể trở thành những biểu trưng văn hóa của dân tộc”. Trong mối quan hệ với THTM, ngôn ngữ - cái biểu đạt của THTM cũng chính là các biến thể của THTM; còn các biến thể chính là các giá trị ngôn ngữ - cái biểu đạt của THTM Trong trường hợp này, các biến thể được xem là đẳng cấu với cái trừu tượng – những THTM hằng thể, xuất hiện bất biến, cố định
Về HTKH chúng tôi đề xuất có những đơn vị trên ngữ cũng đồng thời có mối quan hệ với hằng thể như cụm C – V, câu thậm chí là cả văn bản Vì vậy trong quá trình khảo sát chúng tôi sẽ chia hằng thể thành các nhóm nhỏ để tìm ra tỉ lệ % giữa hằng thể
Trang 32và biến thể, giữa các hằng thể với nhau, từ đó đi đến phong cách riêng trong quá trình chọn lọc tín hiệu và tần suất sử dụng các tín hiệu của nhà thơ Quang Dũng
1.6 Các cấu tạo của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật
Về phương diện cấu tạo của một THTM, chúng tôi xét trên ba bình diện là: từ đơn, từ ghép và cụm từ
Từ đơn là những từ có một hình vị “Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành
những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” Đại bộ phận chúng ta đều cho rằng từ đơn chỉ có một âm tiết nhưng xét
kĩ sẽ có nhiều từ đơn nhiều âm tiết, tức lúc này chúng là các hình vị để tạo nên từ Ví dụ: bù nhìn, bồ hòn, cà phê, a pa tít… các hình vị này phải kết hợp cùng nhau, bản thân chúng không thể đứng riêng rẽ mà có nghĩa được
Từ ghép được sản sinh do sự kết hợp của hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau Các phương thức ghép có cách thức cụ thể khác nhau do đó sản sinh ra các loại từ ghép không giống nhau về mặt ngữ nghĩa Phân loại các từ ghép trong tiếng Việt thực chất là phát hiện ra các cách thức cụ thể mà phương thức ghép đã vận dụng để sản sinh ra các từ ghép cho tiếng Việt Theo Diệp Quang Ban,
từ ghép được chia thành hai nhóm lớn theo kiểu quan hệ giữa các từ tố (hình vị): từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ Từ ghép đẳng lập chia nhỏ thành: từ ghép gộp nghĩa, từ ghép lặp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa Từ ghép chính phụ được chia thành: từ ghép
dị biệt, từ ghép sắc thái hóa Với Đỗ Hữu Châu, “nếu căn cứ vào tính chất hình vị thì
các từ ghép của tiếng Việt được phân loại thành từ ghép hư và từ ghép thực Từ ghép
hư là những từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có”
Từ ghép thực được chia thành các loại: từ ghép phân nghĩa, từ ghép hợp nghĩa, từ ghép biệt lập
Theo Diệp Quang Ban, “cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự
do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)” Trong tiếng Việt vấn đề phân giới
cụm từ và từ ghép, nhất là từ ghép chính phụ Cụm từ và từ ghép thường có cách cấu tạo giống nhau, rất khó phân biệt Điều này dễ hiểu vì từ ghép có thể là kết quả của sự rút gọn và cố định hóa các cụm từ hoặc các câu
Ví dụ: xe máy < xe, máy < xe cộ và máy móc
Do đó không ít trường hợp cùng một tổ hợp có vỏ ngữ âm giống nhau mà ở chỗ này thì được phân tích như một cụm từ còn ở chỗ khác lại có tư cách một từ ghép
Ví dụ:
(1) Cà chua trồng ngoài vườn
(2) Cà chua quá!
Trong câu (1) cà chua là từ ghép nhưng trong câu (2) thì cà chua là cụm từ Tuy
có sự giống nhau bề ngoài như vậy, song ở đây chúng ta vẫn đối diện với hai thực thể
Trang 33khác nhau Từ ghép là đơn vị cho sẵn, bất biến, còn tổ hợp từ tự do, như đã biết, không
có những tính chất ấy Và vì tính chất cơ bản đó mà chúng ta phân biệt từ ghép và cụm
từ bằng cách thử chêm xen các đơn vị của từ hoặc từ vào, nếu được thì đó là cụm từ,
nếu không thì đó là từ ghép Ví dụ trong câu (2) ta có thể nói: Cà này chua quá!
1.7 Vài nét về thơ Quang Dũng
1.7.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988), tên thật trong khai sinh là Bùi Đình Diệm (còn gọi là Dậu vì sinh ra nhằm năm Dậu), người làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây Làng Phượng Trì mặt ngoài là phố buôn bán, mặt trong là làng, người dân
ở đây buôn bán cũng giỏi, trồng dâu chăn tằm cũng giỏi Đời ông nội của Quang Dũng nhà ở trong làng, đến đời ông thân sinh thì rời ra phố, bà mẹ mở gian hàng tạp hóa ngay căn nhà ven đê, nên gia đình ông vừa làm nông nghiệp vừa buôn bán nhỏ
Khi còn ở tuổi vị thành niên, Quang Dũng rất yêu thơ và hội hoạ, được bố mẹ dành cho một buồng riêng trong căn nhà gác thoáng rộng Căn buồng này, chính Quang Dũng tự trang trí lấy bằng nhiều bức tranh ông tự vẽ, cả những tranh vẽ trên toan, lồng khung treo lên, cả mấy bức ông vẽ thẳng vào tường (Người mẹ của Quang Dũng vẫn giữ gìn nguyên vẹn những bức vẽ đó suốt bao năm đằng đẵng sau này, khi Quang Dũng
đi kháng chiến) Căn buồng đó có cửa sổ, mở ra là trông thấy, gần thì nương dâu, bãi mía, xa xa là núi Ba Vì Những hình ảnh đó sau này vào thơ ông, nhất là thời kỳ kháng
chiến xa quê nhà: “Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt/ Chiều xanh không thấy bóng Ba
Vì”
Học đến bậc thành chung, Quang Dũng lên Hà Nội học Ban Trung học trường Thăng Long, theo nhà thơ Trần Lê Văn, một người bạn thân của Quang Dũng thì ông cũng có học trường Sư phạm ở Hà nội Ở trường Sư phạm ra, do có máu nghệ sĩ, ông không đi dạy học và cũng không làm viên chức như hầu hết thanh niên hồi đó, mà làm nhạc công, đánh đàn kéo nhị cho một gánh hát Cũng có lúc ông dạy học, nhưng làm
“cậu giáo” tư gia để khỏi bị gò bó, ông thực hiện ngay từ đầu đời ý thích giang hồ, xê dịch của mình, mở đầu kiếp mây đầu ô trong phố phường Hà Nội Mục tiểu sử, ở cả hai
cuốn Tuyển tập Quang Dũng Tác phẩm chọn lọc (NXB Văn Học,1988) và Tuyển tập
Quang Dũng (NXB Văn Học (1999), nhà thơ Trần Lê Văn, trong lời đầu sách sau khi
đưa sơ yếu lý lịch Quang Dũng như trên, đã kể tiếp: … “Khoảng đầu những năm 1940,
Quang Dũng thường giao du với những người bạn cùng lứa tuổi, có chí khí, có tinh thần yêu nước, đang cùng nhau “tìm đường”… Gặp và yêu cô Thạch ở Yên Bái, Dũng nhận làm thư ký ga Thị Cầu để được gần người yêu Nhưng chẳng bao lâu anh lại “Nhẹ nhàng thân gửi kiếp ra đi” Nhân có người bạn làm công nhân trên tuyến tàu chạy Vân Nam của Công ty Hỏa xa Vân Nam, anh làm một chuyến viễn hành sang đấy, cũng là để đi cho biết đó biết đây và để vẽ những cảnh đẹp mà anh vẫn thấy trong tưởng tượng qua thơ Đường, thơ Tống”. Có lẽ vì đam mê đó đây, vì lòng hăm hở nhiệt huyết cứu giúp
Trang 34cho đời mà những chuyến đi xa đó lại trở thành “cái lí lịch tai hại cứ theo đuổi ông ấy
mãi về sau này” mà Nguyễn Đăng Mạnh từng nói đến trong Quang Dũng, người thơ.
Vân Long có dịp phỏng vấn nhà văn Tô Hoài nhân đến đặt bài Tết cho tờ Sức
khỏe & Đời sống ông cộng tác đã được nhà văn kể rằng: “Quang Dũng hồi lãng du ở Quảng Châu, họp ở Liễu Châu với cánh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam Ông Dũng mê Nguyễn Tường Tam lắm! Sau thấy họ Nguyễn chỉ uống rượu khỏe, ông chán,
về đến Hà Nội là bỏ hẳn đám này về Sơn Tây học trường võ bị của ta” Vậy là sự xác
nhận của cụ Tô Hoài hai lần được in lên báo như trên đã cho chúng ta thấy con người
và cốt cách Quang Dũng
Theo hồi ức của nhà thơ Trần Lê Văn, một người bạn chí cốt của Quang Dũng:
“Họ sống gắn bó, nhường cơm xẻ áo cho nhau, chuyền tay nhau đọc những cuốn sách hay, những tờ báo tiến bộ Trong nhóm bạn bè anh hồi ấy, những người chí thân như
Lê Quang Thiệu, Lương Văn Trọng, Nguyễn Ngọc Chương có những người bị mật thám Pháp bắt và bị tù đày” Quang Dũng là người sống rất phóng khoáng, như cách
nói của Trần Lê Văn là có “cái máu giang hồ” Khi phát-xít Nhật nhảy vào Ðông Dương, chúng chiếm Hà Nội Quang Dũng đã rời Thủ đô, làm thư ký ga Thị Cầu một thời gian mới trở về Hà Nội và gặp lại những người bạn đồng chí hướng
Sau Cách mạng tháng Tám, khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, với tinh thần yêu nước sẵn có như bao thanh niên thủ đô khác, ông hăng hái gia nhập quân đội, công tác tại phòng Quân vụ Bắc Bộ, ông làm các công việc bảo vệ khí tài quân sự,
đi các nơi tìm mua súng đạn Kháng chiến bùng nổ, ông làm làm phóng viên tiền phương,
Chính trị viên phó Ðại đội vệ binh khu Trong Nhớ về Tây Tiến – Quang Dũng kể Vũ Văn Sĩ ghi: “Tôi nhập ngũ đúng vào ngày Cách mạng tháng Tám thành công Năm đó
tôi hai mươi sáu tuổi”…“Tôi yêu những con người Cô dắc dũng cảm, yêu tự do, sống phóng khoáng, gắn bó với thanh gươm, yên ngựa và những chiến công trên những thảo nguyên mênh mông như những chiến khu di động chống lại bọn phong kiến xâm lược bảo vệ nền độc lập của dân tộc Tôi thấy có một sự đồng cảm nào đó giữa mình với các nhân vật trong truyện” [45, tr.77] Sau đó, Quang Dũng được điều đi học trường Bổ túc
Trung cấp Quân sự Sơn Tây (1947), khi mãn khóa, ông được phân công làm Đại đội trưởng Tiểu đoàn 212, Trung đoàn 52 Tây Tiến, từng làm quân địch ở sân bay Cát Bi, Bạch Mai kinh hồn bạt vía và kiêm thêm vai trò Đoàn phó Đoàn Võ trang Tuyên truyền Việt - Lào Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm Trưởng ban Tuyên huấn của Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm Trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III Những năm sống và chiến đấu ở Trung đoàn Tây Tiến là khoảng thời gian oanh kiệt, hết sức ý nghĩa trong đời thơ Quang Dũng PGS.TS Vũ Nho cho biết một chi tiết thú vị đó là nhà thơ Quang Dũng luôn mang theo cuốn Tarax Bumba của nhà văn Gogol trong ba lô của mình, tác phẩm viết về những chiến binh Cô-dắc yêu tự do, yêu cái đẹp và sống ngang tàng
Trang 35Tháng 8 năm 1951, Quang Dũng xuất ngũ và tiếp tục công tác trong ngành văn nghệ Sau khi làm Biên tập viên báo Văn nghệ, nhà thơ Quang Dũng chuyển về làm việc tại nhà xuất bản Văn học Có một thời gian nhà thơ tham gia báo Nhân văn (1956) khiến cho ông bị nhiều hệ lụy như lời Đặng Tiến trong cuốn Thơ - Thi pháp và Chân dung:
“Quang Dũng từng dính vào vụ Nhân văn – Giai phẩm vào 1957 vì mấy bài kí Bờ hồ,
Xiếc khỉ nhưng bản án không nặng lắm” [52, tr.248]
Trong cuốn Văn học Việt Nam hiện đại của Hoàng Như Mai nhắc đên Tây Tiến
với sự phê phán “cái rớt tiểu tư sản” Sau này, khi Quang Dũng qua đời, nhà giáo Hoàng Như Mai có dịp xác nhận rằng: “Các bài Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ, Anh
lính râu ria… của Quang Dũng được quá nhiều người thích và truyền tụng quá nhiều,
vì thế ít nhiều anh bị “vạ vịt” vì chúng Rõ tội, chữ “tài” liền với chữ “tai”…” Có lẽ
vì hơn người hơn đời nên Quang Dũng đôi lần phải chịu những tai tiếng không đáng có trong hành trình thơ của mình Từ đầu những năm 1990, giá trị những bài thơ xuất sắc nhất của Quang Dũng đã được xác nhận
Sinh thời, những người quen biết với ông đều biết, Quang Dũng không chỉ làm thơ mà còn viết văn, vẽ tranh và sáng tác nhạc Ông từng vẽ nhiều tranh phong cảnh, và
đặc biệt là rất nhiều tranh ký họa Còn gia tài văn xuôi của ông thì có số lượng “nhiều
gấp mấy lần số trang thơ”, chủ yếu là truyện ngắn và bút ký về tình yêu cuộc sống, con
người và quê hương đất nước Ngoài tranh vẽ và một nhạc phẩm, Quang Dũng có tác
phẩm những tác phẩm tiêu biểu như Mùa hoa gạo (1950); Bài thơ sông Hồng (1956);
Rừng biển quê hương (1957); Nhà đồi (1970); Làng Đồi đánh giặc (1976); Gương mặt
Hồ Tây (Bút ký, in chung 1984); Mây đầu ô (1986); Quang Dũng (Tác phẩm chọn lọc,
1988)… Nhiều bài thơ hay của nhà thơ Quang Dũng được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ
nhạc: Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc); Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ nhạc và phát hành ở Paris, Pháp); Không đề (được 4 nhạc sĩ phổ nhạc: Việt
Dũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương, Quang Vinh) Trong đó, tuy số lượng thơ ông sáng tác không nhiều, nhưng Quang Dũng đã có những tác phẩm được coi là xuất sắc,
để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người yêu thơ như các bài: Tây Tiến, Đôi bờ,
Đôi mắt người Sơn Tây…
Năm 1984, nhà thơ Quang Dũng vào thăm con gái Bùi Phương Hạ làm giáo viên mẫu giáo ở vùng kinh tế mới Lâm Đồng Ông có ý định chơi lâu hơn, thu thập tài liệu
để viết về vùng đất mới này Chẳng may ông bị ngã, bị tai biến và được đưa ra Hà Nội cứu chữa Nhà thơ qua đời ngày 13 – 10 - 1988 sau nhiều năm đau yếu phải nằm bất động Năm 2001, Quang Dũng được truy tặng Giải thưởng Nhà nước phải chăng đã
đánh dấu chấm hết, xua tan đám mây mù nếu còn lởn vởn đâu đó về cuộc đời nhà thơ Quang Dũng? Trả lại vầng mây sáng cho lau sậy có linh hồn của thơ ông
Cuộc đời Quang Dũng có nhiều giai thoại Quang Dũng là người có vóc dáng to lớn, đôn hậu, hóm hỉnh, nhưng có tính nhát Ông Trần Lê Văn trêu bạn, vẫn định nghĩa:
Quang Dũng là người mở cửa sổ thì sợ gió lùa, đóng cửa thì sợ thiếu không khí Nhà
Trang 36văn Đỗ Chu, trong một lần họp mặt bạn văn kháng chiến đã bật mí về một quãng đời đầy chất lãng mạn của Quang Dũng Nhà thơ rủ một người bạn họa sĩ nổi tiếng ở Thủ
đô, tạo một chiếc xe trâu định hành phương Nam Trên đường đi, hai người định kiếm
ăn độ nhật bằng cách ghé vào những nơi phố xá, chỗ đông người vẽ tranh bán vì Quang Dũng cũng là một tay vẽ giỏi Đi giữa đường thì trâu bị bệnh, không kéo xe được nữa, hai người phải bán trâu và xe đi Ông bạn họa sĩ đồng hành nản lòng, bỏ về Bắc Quang Dũng một mình, sang xe lửa tiếp tục vào Nam Khi đến tận Sài Gòn, nhà thơ lại đáo sang Campuchia, rồi cuối cùng quay về Hà Nội Sau đó, vì mê cách mạng, Quang Dũng sang Trung Quốc để tìm cách mạng hoạt động nhưng cũng không xong nên đành trở lại quê nhà Với gia đình, vốn có thể lực khỏe mạnh, Quang Dũng gánh vác hết mọi công việc nặng nhọc trong nhà, lúc nào cũng thể hiện sự quan tâm và lòng yêu thương vợ con
Với bạn bè, nhà thơ Quang Dũng rất nể trọng và thường lui tới với các văn nghệ
sĩ nổi tiếng như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Trần Lê Văn, cô Xuân Quỳnh, họa sĩ Phan Kế An… Nhà cửa đơn sơ trang trí với vài bức tranh trên vách
do Quang Dũng vẽ bằng mực tàu Cả nhà thường ăn uống đạm bạc Theo lời người con gái út Bùi Phương Thảo, nhiều khi khách đến chơi nhà, chỉ có vài đĩa đậu phộng, đậu nành để tiếp khách nhưng mọi người vẫn trò chuyện vui như bắp rang
Nhà thơ Vân Long chia sẻ về kỉ niệm bài thơ Không đề của Quang Dũng: "Anh
Trần Lê Văn có nói khoảng những năm 70, sau khi Quang Dũng gặp lại “cô gái vườn ổi” – người tình xưa, thì Quang Dũng về nhà Trần Lê Văn Và không biết có phải vì e ngại không muốn viết những dòng ấy ở nhà không, nhưng ông đòi lấy sổ tay của Trần
Lê Văn, viết vào đó bài Vườn ổi và bài Không đề - có những lời như vừa rồi cháu Thảo hát Nhưng ngay hôm sau Quang Dũng đến và bảo: Ông Văn ơi, ông trả tôi mấy bài ấy
đi Trần Lê Văn: Không, sổ sách của tôi, trả sao được Quang Dũng: Thì ông xé ra ông trả tôi, tôi đốt nó đi ông ạ, tôi thấy nó trẻ con thế nào ấy Vậy là có những phút (Quang Dũng) nghĩ lại như thế Nhưng ý nghĩ đốt thơ của ông không phải chỉ một lần Ghi chép của người bạn thân Phan Thanh Hoài có nói lại rằng: Quang Dũng rất khổ tâm với chuyện Chiêu Dương - cái gì Quang Dũng viết hắn cũng giữ - nguy lắm vì không biết người khác đọc bằng con mắt khác thì sẽ như thế nào Một lần ông Phan Thanh Hoài
đi phố về thì thấy Quang Dũng đang đốt một cái gì đó ở nhà mình Ông Hoài hỏi: Ông đốt cái gì đấy? Quang Dũng bảo: Mình đốt mấy bài thơ ấy mà, giữ làm gì Ông Hoài bảo: không được, rồi lấy luôn cái ấm nước đang đun dở dội vào bản thảo thơ để cứu – một khối như thế mà đã cháy một nửa Không biết phần đã mất rồi, mất những gì nữa, nhưng có những phút người bạn cứu kịp Tôi được biết ít nhất là hai lần Quang Dũng định đốt thơ của mình”
Quang Dũng xuất thân từ một gia đình khá giả, nhưng cốt cách bình dân, một con người đẹp, dễ gần, hiền lành, sống vất vả nhưng không bao giờ bận tâm về sự vất vả đó
Bộ ba Quang Dũng, Trần Lê Văn và Ngô Quân Miện được xem là thế hệ những người cuối cùng trước cách mạng thu hút được tinh túy của văn hóa phương Tây và theo nhà
Trang 37thơ Vân Long, điều quan trọng nhất gắn kết ba người chặt chẽ đến vậy là do họ đồng
cấp về tinh thần và tâm hồn Trần Lê Văn ví ông bạn Quang Dũng của mình như “một
đám mây xương thịt hư ảo”, người sống nội tâm, nhẹ nhõm, vừa ảo vừa thực như chính
những câu thơ phiêu diêu của ông: “Cơn gió bóng mây qua đỉnh Việt/ Mà như lau sậy
có linh hồn”. Nhà thơ Trần Lê Văn trong lời nói đầu của Tuyển tập đầu tiên của thơ
Quang Dũng có nói: “Chúng tôi là những người bạn thân của nhau Chúng tôi học lẫn
nhau Người này tìm ra những cái ưu điểm của bạn để bổ sung cho mình Ví dụ Quang Dũng ưa tôi (Trần Lê Văn) ở sự cần mẫn, tôi ưa Quang Dũng ở sự phiêu diêu” Nhưng
ông phiêu diêu nhiều tới mức vô tâm cả với những tác phẩm mình đã sinh ra Cho nên
nhà xuất bản Văn học muốn in tuyển thơ văn về Nhà đồi chẳng hạn, cũng phải tìm khó như tìm tác phẩm của tác giả đã quá cố Mà tập Nhà đồi thì phần lớn cũng chỉ là những
bài đã in trên báo rồi, bài bút ký cũng chỉ mấy tháng trước đấy thôi, nhưng anh Dũng
không buồn giữ, nữa là thơ, là cái gì rất dễ “vương vãi” Rồi tập Mây đầu ô do anh Trần
Lê Văn là người thân nhất đứng ra để tuyển chọn, thì sưu tầm như sưu tầm của một người đã quá cố Thực ra cái sự rơi vãi của anh cũng dễ có địa chỉ để tìm, bởi vì anh rất tùy hứng trong việc viết, như trong chuyến ngao du giang hồ vặt trên phố, có nhà bạn thân tiện anh ấy sẽ ghé vào, sẵn bút giấy để viết, xong đến khi về cũng quên không mang
về May mà có những người bạn thân rất yêu quý từng chữ của nhà thơ Quang Dũng, nên khi cần sưu tầm thì ông Trần Lê Văn chỉ cần đến những địa chỉ mà Quang Dũng thường hay tới
Quang Dũng làm thơ từ tuổi niên thiếu, năm mười sáu tuổi đã có thơ đăng báo
Bài Chiêu Quân viết năm 1937, những câu thơ mang dấu ấn thời kỳ thơ mới phát triển
cao ở giai đoạn thứ hai, nhưng vẫn có một sắc thái riêng của Quang Dũng:
Tỳ bà lanh lảnh buốt cung thương Tang tình năm ngón sầu dâng lệ
Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang
Nhà thơ Vân Long khi nghiên cứu lại hành trình thơ Quang Dũng đã thốt lên rằng: “Sổ
ông chép là bài Chiêu Quân đề cuối bài QD 1937 Trời ơi! Quang Dũng làm thơ từ lâu thế ư? Vậy là năm sinh của ông 1921, ông làm bài này năm 16 tuổi Phải chăng tôi đã tìm được bài thơ đầu tiên của Quang Dũng? Cho đến nay, bạn bè và thân nhân của ông, chưa ai biết một bài thơ nào ông làm sớm hơn thế! Với Quang Dũng, người không biết lưu giữ bản thảo của mình thì phát hiện này quả là lý thú! (bài này được giới thiệu trên báo ngay sau đó, và mười năm sau, Tuyển tập Quang Dũng, 1999, Trần Lê Văn biên sọan đã xếp bài này (lần đầu in sách) ngay trang thơ đầu, mà Tuyển thơ Quang Dũng
1988 chưa có, vì chưa phát hiện)”
Nhờ những sưu tầm này, Vũ Quần Phương nhận ra được con đường đưa Quang
Dũng tới Tây Tiến, đỉnh cao của thơ Quang Dũng Ông bày tỏ sự tiếc nuối khi Quang Dũng không còn bài thơ nào vượt qua, hay chí ít là na ná được bài Tây Tiến Theo ông,
Trang 38thời thế cũng có phần trách nhiệm khi làm biến mất cái hướng đi độc đáo mà Quang
Dũng có được trong bài Tây Tiến Quang Dũng là một người sống nội tâm, mọi sự với ông đều hư ảo Ở ba bài thơ thành công nhất (Tây Tiến, Đôi bờ, Mắt người Sơn Tây),
Quang Dũng đã cho thấy tâm hồn lãng mạn một cách phiêu du nhưng mang đậm hơi hướng dân tộc
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên rất đồng tình với nhận xét của nhà thơ Vân
Long về sức lan tỏa mãnh liệt và từ trường của thơ Quang Dũng: “Nếu chọn top ten 10
bài thơ kháng chiến, mà rộng hơn nữa là 10 bài thơ hiện đại của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỷ 20, thì nhất định có Tây Tiến, 5 bài, vẫn có, mà rút xuống 3 bài, chắc vẫn
có “Tây Tiến” độc đáo, như một tượng đài, là một bài thơ có số phận rất kỳ lạ, mà kỳ diệu thì đúng hơn Một bài thơ được kỷ niệm 60 năm ra đời của bài thơ đó, một bài thơ làm sống dậy cả một trung đoàn Tây Tiến, để họ tìm lại gặp nhau, ngoài tình quân ngũ,
kỷ niệm gặp gỡ nhau, nhưng có khi không bền được như thế nếu không có bài thơ Tây Tiến; một bài thơ khiến chữ “Tây Tiến” trở thành tên đường, và địa danh Tây Tiến trở nên âm vang mãi trong lòng người dân Việt Nam ”
Đỗ Lai Thúy một lần nữa khẳng định giá trị thơ Quang Dũng: “Thơ Quang Dũng,
thoạt nhìn, chỉ là một sự nối dài của Thơ Mới Vẫn những câu thơ năm chữ hoặc bảy chữ đều đặn, được xếp vào từng khổ bốn câu, giầu vần điệu, nhiều câu thơ giàu chất thơ, đẹp, thậm chí đèm đẹp Nghĩa là thơ ông vẫn ánh lên trong ánh sáng của mỹ học Thơ Mới Bởi vậy, thơ Quang Dũng, nhất là Tây tiến và Mắt người Sơn Tây, được hâm
mộ rộng rãi trong những ngày đầu kháng chiến Nhưng sự cảm thụ cuộc sống có tính chất cá nhân, riêng tư, máu giang hồ lưu lạc, mặc dù có khi đã mượn lời cổ phong, cũng
đã dần dần không phù hợp với thời cuộc
Tuy nhiên, đọc sâu Quang Dũng, người ta thấy thơ ông có những chuyển động Hiện thực của Cách mạng Tháng Tám và những ngày đầu Kháng chiến đã tác động vào mỹ cảm Quang Dũng Điều này tạo ra ở thơ ông cái nhìn khảo cổ học tâm hồn Cái nhìn xuyên thời gian này chỉ có được khi hồn người và hồn đất (nước) rung lên trong những cơn địa chấn, mạch đất nứt toác để dung nham vô thức từ đáy thẳm phun trào lên Nhờ thế, thơ Quang Dũng không chỉ dừng lại ở Thơ Mới mà đã bắc được một nhịp cầu sang
bờ bên kia của thơ hiện đại”
1.7.2 Phong cách thơ Quang Dũng
Tác giả Nguyễn Sĩ Đại từng có nhận xét: “Con người Quang Dũng cũng phải là
lát cắt ngang thời đại, là một anh bộ đội thuần túy Mà còn là tráng sĩ thời phong kiến, còn là cái tráng khí nam nhi thời nào cũng có, thích gian khổ, ngang tàng; thích yêu đương lãng mạn Trai không có phong sương, không mơ mộng về một nàng; thơ không
có tình yêu, nó như không còn nó nữa! Quang Dũng còn là hồn văn chương dân tộc ở cách viết hiện thực lẫn trong ước lệ, trong những từ ngữ, hình ảnh có tính biểu tượng như đuốc hoa, xiêm áo, dáng kiều, viễn xứ, áo bào Nhịp điệu thơ cũng vừa Đường thi, vừa tự do Có lẽ đây là một kinh nghiệm cho những người làm thơ: biết làm mới trên
Trang 39nền cũ, không thể cắt đứt cái cũ” Là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất Việt Nam,
các tác phẩm của Quang Dũng được thừa nhận như là một sự khác biệt hoàn toàn trong phong trào Thơ mới những năm 1932-1945
Quang Dũng là nhà thơ có phong cách thơ gói gọn trong bốn từ: hồn hậu, tài hoa, phóng khoáng và lãng mạn Ông không viết thơ chính luận, không đưa triết lý cao siêu vào thơ Cái mạnh của thơ Quang Dũng, là cảm xúc mạnh và nồng ấm Ngôn ngữ thơ ông giản dị, mộc mạc; nhưng lấp lánh, hào hoa Thơ Quang Dũng là dòng thơ hướng nội Ông ít quan tâm đến cách tân hình thức, không chủ trương tạo sự cầu kỳ rắc rối ngôn từ Nhưng thơ ông vẫn trẻ, vẫn mới
Thơ Quang Dũng thường nghiêng về tả Qua tả, để giãi bày cái tình của mình Ông có biệt tài về tả Câu thơ Quang Dũng thường ngắn gọn, súc tích Ông là người ít chú ý đến vần điệu Nhưng thơ ông lại rất giàu hình ảnh Hình ảnh trong thơ ông luôn gợi mở tâm trạng Tâm hồn Quang Dũng khoáng đạt Tuy là người chỉnh chu hết mực với công việc, với gia đình, nhưng ông lại rất sợ sự gò bó, khuôn phép, máy móc Ông
là thi sĩ thích sự mênh mang, xê dịch Nếu nói thơ ca hay ở giá trị chân thiện mỹ, thì ta thấy thơ Quang Dũng đã hướng về những giá trị đó Ông sáng tác không chút vụ lợi Quang Dũng không viết giả dối, không làm xiếc trên các con chữ Ông viết bằng tấm lòng, bằng xúc cảm của ông Chính vậy, những tác phẩm của ông đã sống với thời gian, lắng sâu trong tâm trí người đọc
Tác giả Vân Long trên tạp chí Văn học số 1 năm 1997 nhận xét rằng: “Có một sự
giao lưu, hòa nhập lẫn nhau giữa những yếu tố hiện thực khắc nghiệt với tâm hồn lãng mạn của Quang Dũng Yếu tố hiện thực ấy đã tràn vào tâm hồn lãng mạn của nhà thơ làm biến đổi chất lãng mạn Đồng thời, tâm hồn lãng mạn ấy lại phả lên hiện thực cái màn sương khói lung linh, làm cho sự gian nan nhòe đi, có lúc thăng hoa thành những hình tượng kì vĩ, độc đáo”
Giọng điệu thơ Quang Dũng được Châu Hồng Thủy nhận xét là: “Thơ Quang
Dũng có hai kiểu giọng Một loại sống động, oai hùng, hào tráng như kiểu Nhớ Tây Bắc Một loại bâng khuâng, mơ hồ, phiêu diêu như Đêm Bạch Hạc Hai giọng thơ tưởng chừng đối lập lại tồn tại trong cùng một hồn thơ”
Nhà văn Thanh Châu nhận định: “Thơ văn anh thoảng mùi thơm quê mùa Đó là
văn phong một con người có nhiều dây mơ rễ má gắn mình với gốc rễ ông cha ở nông thôn” Đó cũng là ý kiến của Phong Lê: “Chưa ai khác ngoài ông, cho đến hôm nay, kể
cả Tản Đà, đã tạo nên được một sự rung động đến thế cho xứ Đoài nhiều mây trắng quê ông Con đường qua Cầu Giấy, lên Phùng, đến xứ Đoài, nhờ vào thơ ông mà trở nên thơ mộng hơn, mĩ lệ hơn, lưu luyến hơn, dẫu đất đai quê hương thì nơi đâu cũng có một
vẻ đẹp riêng”
Hoài Việt đánh giá thơ Quang Dũng: “Nhìn anh kĩ, đọc anh kĩ mới nhận ra một
chất nhân bản hồn hậu, nhân bản Việt Nam”
Trang 40Đỗ Lai Thúy khẳng định: “Tây Tiến (1948) và Mắt người Sơn Tây (1949) là hai
đỉnh Ba Vì trong thơ Quang Dũng… Với Tây Tiến, Quang Dũng đã xác lập được vị thế Sơn thần của mình Bởi lẽ, Tây Tiến là một trường hợp thơ chỉ một bước đã đi vào cổ điển Nó vượt qua sự lưỡng phân cũ/ mới, truyền thống/ hiện đại để đạt đến sự nhất nguyên của cái đẹp, một giá trị nằm ngoài thời gian”
“Tác phẩm văn học là một siêu kí hiệu vì nó là kí hiệu của một cá nhân độc đáo,
là kí hiệu đời sống văn hóa” [56, tr.110] và Quang Dũng đã tạo nên một phong cách cho
riêng mình, đó là một nghệ sĩ đa tài (làm thơ, viết nhạc, vẽ tranh, kéo đàn…) nhưng nổi bật hơn cả là làm thơ – một hồn thơ mộng mơ và đầy tinh tế Thơ Quang Dũng có sự kết hợp tài tình giữa chất hiện thực và chất lãng mạn cách mạng Thơ ông mang vẻ hào hoa của một tâm hồn nghệ sĩ lớn, một tâm hồn thơ tha thiết với cái đẹp, với quê hương, đất nước Bắt nguồn từ những giá trị chân phương nhất, là núi Ba Vì, là xứ Đoài mây trắng, là tâm hồn lãng du; Quang Dũng cho ra đời những tác phẩm đẹp cả hình thức lẫn
nội dung “Ngôn ngữ thơ ở cấp độ khác với ngôn ngữ hàng ngày Cái chất liệu ngôn
ngữ ở đây phải được triển khai ở mức tự do, khoáng đạt theo sự trào dâng của thi hứng trong phạm vi thực tại bao la đòi hỏi và phạm vi những quy cách sử dụng nhất định Chất lượng ngôn ngữ phải đạt được một cường độ thẩm mỹ, qua cái nghĩa thơ, qua những hành vi của suy tư và trí tuệ chứ không phải chỉ là trò chơi chữ” [55, tr.22] Với
con người tài tử, hào hoa, chân thành, lãng mạn theo chất riêng, ngôn ngữ thơ Quang Dũng cũng đẹp theo một cách riêng Vượt lên trên những khó khăn, gian khổ vật chất, thơ ông bao giờ cũng toát lên vẻ trẻ trung, yêu đời… của một tráng chí sẵn sàng hi sinh
vì nghĩa lớn
TIỂU KẾT
Chương 1 chúng tôi trình bày những vấn đề tổng quan về lí thuyết Kí hiệu học,
từ đó bắt rễ vào các nội dung nhỏ hơn, đó là tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ, sau đó đi đến nội dung đề tài là tín hiệu thẩm mĩ Chúng tôi đi sâu khái quát lại những nội dung nằm trong tín hiệu thẩm mĩ: khái niệm, các đặc trưng, các hằng thể, phương thức cũng như chức năng của tín hiệu thẩm mĩ
Mặt khác, chúng tôi cũng trình bày khái quát những vấn đề về thơ Quang Dũng,
về cuộc đời và sự nghiệp, về phong cách thơ để có cái nhìn xác đáng trước khi đi sâu tìm hiểu các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ ông, góp thêm một phần nhỏ trong hành trình nghiên cứu thơ Quang Dũng dưới góc nhìn Kí hiệu học
Những vấn đề chúng tôi trình bày ở chương này chủ yếu kế thừa những nghiên cứu của những người đi trước Từ những cơ sở lý thuyết ở chương này, chúng tôi áp dụng vào phân tích cấu tạo và giá trị biểu đạt của một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Quang Dũng