Ở Việt Nam những năm qua, nghiên cứu ngôn ngữ ca dao đã có nhiều thành tựu, đặc biệt là những công trình của các tác giả Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến… T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHAN THỊ CẨM TÚ
TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO
TÌNH YÊU ĐÔI LỨA
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 822 90 20
Người hướng dẫn: PGS TS VÕ XUÂN HÀO
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình
yêu đôi lứa” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dựa trên sự góp ý của
giáo viên hướng dẫn Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là xác thực, chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Bình Định, ngày 15 tháng 09 năm 2021
Tác giả luận văn
Phan Thị Cẩm Tú
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong Khoa -Khoa học Xã hội và Nhân văn Trường Đại học Quy Nhơn đã truyền đạt kiến thức
và tạo điều kiện học tập cho tôi trong suốt thời gian học ở trường
Nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp
đỡ, động viên và tạo điều kiện tốt để tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn
Bình Định, ngày 15 tháng 09 năm 2021
Tác giả luận văn
Phan Thị Cẩm Tú
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Đóng góp của luận văn 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 7
1.1.1 Tín hiệu 7
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 9
1.1.3 Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ 13
1.1.4 Một số vấn đề tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương – tín hiệu ca dao 15
1.2 Một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ 17
1.2.1 Tính nguồn gốc 17
1.2.2 Tính cấp độ 18
1.2.3 Tính hệ thống 19
1.2.4 Tính biểu hiện 21
1.2.5 Tính biểu trưng 22
1.2.6 Tính trừu trượng và cụ thể 23
1.3 Một số vấn đề ngữ cảnh của tín hiệu thẩm mĩ 24
1.4 Vài nét về ca dao trữ tình tình yêu đôi lứa 25
Trang 5Tiểu kết Chương 1 26
Chương 2 HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA MỘT SỐ TÍN HIỆU 27
2.1 Một số tín hiệu thuộc hiện tượng tự nhiên 29
2.1.1 Tín hiệu “gió” 30
2.1.2 Tín hiệu “mưa” 37
2.1.3 Tín hiệu “nắng” 43
2.2 Một số tín hiệu thuộc vật thể nhân tạo 48
2.2.1 Tín hiệu “áo” 51
2.2.2 Tín hiệu “yếm” 57
Tiểu kết Chương 2 63
Chương 3 GIÁ TRỊ BIỂU HIỆN CỦA MỘT SỐ TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA 64
3.1 Giá trị biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ thuộc hiện tượng tự nhiên 64
3.1.1 Tín hiệu “gió” 64
3.1.2 Tín hiệu “mưa” 72
3.1.3 Tín hiệu “nắng” 78
3.2 Giá trị biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa vật thể nhân tạo 81
3.2.1 Tín hiệu “áo” 81
3.2.2 Tín hiệu “yếm” 86
Tiểu kết Chương 3 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
NGUỒN TƯ LIỆU 103 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Tần số xuất hiện của các tín hiệu “mƣa, nắng, gió” trong ca dao 30
Bảng 2.2: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “gió” trong ca dao 31
Bảng 2.3: Các biến thể kết hợp của tín hiệu “gió” trong ca dao 34
Bảng 2.4: Các biến thể quan hệ của tín hiệu “gió” trong ca dao 36
Bảng 2.5: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “mƣa” trong ca dao 38
Bảng 2.6: Các biến thể kết hợp của tín hiệu “mƣa” trong ca dao 40
Bảng 2.7: Các biến thể quan hệ của tín hiệu “mƣa” trong ca dao 42
Bảng 2.8: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “nắng” trong ca dao 43
Bảng 2.9: Các biến thể kết hợp của tín hiệu “nắng” trong ca dao 46
Bảng 2.10: Các biến thể quan hệ của tín hiệu “nắng” trong ca dao 47
Bảng 2.11: Tần số xuất hiện của tín hiệu “áo, yếm” trong ca dao 50
Bảng 2.12: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “áo” trong ca dao 51
Bảng 2.13:Các biến thể kết hợp của tín hiệu “áo” trong ca dao 53
Bảng 2.14: Các biến thể quan hệ của tín hiệu “áo” trong ca dao 56
Bảng 2.15: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “yếm” trong ca dao 57
Bảng 2.16: Các biến thể kết hợp của tín hiệu „yếm” trong ca dao 60
Bảng 2.17:Các biến thể quan hệ của tín hiệu “yếm” trong ca dao 62
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con người Cho nên
dù ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chương Việt Nam chúng ta từ ngàn xưa là một quốc gia nông nghiệp, với hình thể chữ S mềm mại uốn cong ven bờ Thái Bình Dương Với cảnh vật thiên nhiên kì tú như cỏ cây hoa lá, như núi cả sông sâu, như lũy tre xanh, như đồng ruộng óng ả, Hòa với tâm tình và lịch sử của dân tộc, quê hương Việt Nam đã có một nền văn chương bình dân hay bác học hết sức phong phú, đầy nét vẽ chân thành pha lẫn những điểm tế nhị và sâu sắc Mỗi một dân tộc, mỗi một quốc gia nào trên thế giới đều có những nét riêng về bản sắc và nền văn hóa của mình Điều đó là một sự tự hào của dân tộc
Đối với Việt Nam ta, ca dao dân ca là một kho tàng văn hóa, được xem là viên ngọc lấp lánh, thời gian đi qua, viên ngọc càng thêm tỏa sáng Qua ca dao dân ca, giá trị truyền thống và tâm hồn được thể hiện và lưu giữ một cách rõ nét nhất Trong các chủ đề được ca dao dân ca đề cập đến thì tình yêu đôi lứa là một
đề tài rộng lớn và để lại nhiều ý nghĩa cho đến ngày nay Bằng tài hoa sáng tạo của các tác giả dân gian, họ đã sử dụng nhiều tín hiệu thẩm mĩ trong nghệ thuật biểu hiện, nhằm phản ánh một cách tinh tế những cung bậc tình cảm, chiều sâu tâm trạng và sự đa dạng muôn màu của cuộc sống Và nói đến tín hiệu thẩm mĩ
là nói đến vấn đề có liên quan đến nhiều chuyên ngành, vì vậy nó được xem xét
ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng trước hết và trực tiếp là ở góc độ ngôn ngữ học
và mối tương quan giữa ngôn ngữ học với văn học
1 Vấn đề tiếp cận văn học dưới ánh sáng của ngôn ngữ học đang trở
thành mối quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Từ góc độ ngôn ngữ, người nghiên cứu sẽ có những phương pháp hữu hiệu để biến những cảm nhận trực quan của người tiếp nhận văn học thành những phân tích khoa học
Trang 8khách quan và xác đáng Ở Việt Nam những năm qua, nghiên cứu ngôn ngữ
ca dao đã có nhiều thành tựu, đặc biệt là những công trình của các tác giả Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến…
Trong tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay, cách tiếp cận nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ được coi như một trong những con đường đến với những cái hay, cái đẹp cũng như những giá trị đích thực, muôn đời của ca dao
Việt Nam Con cò, con bống, hạt mưa, làn gió, hoa sen, hoa nhài, ngọn đèn
không tắt, chiếc áo rách, dải yếm đào, trầu cau, tấm gương mờ… là những tín
hiệu thẩm mĩ quen thuộc trong ca dao Đó là những hình ảnh có khả năng biểu trưng những ý nghĩa sâu xa, được dân gian chọn lọc trong sử dụng và thử thách qua nhiều năm tháng, thể hiện đậm nét những đặc trưng truyền thống
2 Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa
cho phép chúng ta không chỉ phát hiện ra những đặc điểm về hình thức và nội dung của tín hiệu thẩm mĩ, mà quan trọng hơn là qua đó có thể nhìn thấy cái
nó phản ánh, biểu hiện – đó chính là bối cảnh xã hội, hiện thực đời sống, môi trường tự nhiên, phong tục tập quán, tâm lý nhân vật Mặt khác, đây cũng là một trong những phương thức giúp cho người đọc hiểu được cái hay, cái đẹp, cái tinh tế trong văn học nói chung và trong ca dao tình yêu đôi lứa nói riêng
Có một nhà phê bình văn học đã từng nói: “Nói về ca dao tục ngữ Việt Nam
tôi không thể nói được, kỳ lạ lắm, thiêng liêng lắm, đời thường lắm” Cũng
bởi vì cái thiêng liêng, kỳ lạ, đời thường của ca dao đã thôi thúc tôi tìm hiểu
về nó, để biết và hiểu nhiều hơn về kho tàng văn học Việt Nam
Với lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tín hiệu thẩm mĩ
trong ca dao tình yêu đôi lứa”
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu trong
ca dao tình yêu đôi lứa Góp phần đưa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học nói chung và ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa nói riêng Chỉ ra cái hay, cái
Trang 9đẹp của ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa Từ đó, khẳng định những giá trị văn hóa đặc trưng, nét đẹp dân gian của ca dao Việt Nam
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỉ XX với các công trình của M.B Khrapchenco Ở Việt Nam, có các công trình, bài viết của Hoàng Trinh Trần Đình Sử, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai,
Các luận án, luận văn triển khai theo hướng ngôn ngữ học khi đi vào phân tích tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học đã xuất hiện nhưng không
nhiều Với luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không
gian trong ca dao (1995), tác giả Trương Thị Nhàn đã vận dụng những
phương pháp và kiến thức ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu một phương diện của văn học – phương diện tín hiệu thẩm mĩ, góp phần đưa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học và xử lý tín hiệu thẩm mĩ trong văn học; đồng thời, luận án cũng tiến hành nghiên cứu thi pháp ca dao cũng như đưa ra cách tiếp
cận mới đối với ca dao Trong luận văn Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ tình
Xuân Quỳnh (1990), tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh đã ứng dụng phương pháp
nghiên cứu ngữ nghĩa học vào việc phát hiện và khẳng định giá trị của một số tín hiệu thẩm mĩ có tần số xuất hiện cao trong thơ tình Xuân Quỳnh, từ đó góp cơ sở cho việc tìm hiểu những đặc sắc và sáng tạo về nội dung cũng như nghệ thuật của phong cách thơ Xuân Quỳnh Gần đây nhất là các luận văn sau
đại học Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu thuộc trường nghĩa tự
nhiên trong thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trước Cách mạng tháng Tám
(2008) của Phùng Thị Cảnh Trang, luận văn Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học (2008) của Nguyễn Ngọc Bích… Các tác giả luận văn đã sử dụng
phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để làm sáng rõ giá trị của các tín hiệu thẩm mĩ được khảo sát
Trang 10Nhiều công trình đã vận dụng khái niệm “biểu trưng”, “biểu tượng” để
nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học, song thực chất đó cũng là nghiên
cứu về tín hiệu thẩm mĩ Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án Biểu
tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt (2002) đã tiến hành
phân loại, miêu tả và tìm hiểu hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao
từ nhiều phương diện như: nguồn gốc và con đường hình thành biểu tượng,
sự vận động của biểu tượng trong từng chỉnh thể đơn vị hoặc nhóm đơn vị
ca dao Tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa trong luận án Sự phát triển ý nghĩa
của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (2005) đã
phân loại và phân tích sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong các giai đoạn thơ ca khác nhau dưới ánh sáng của lý thuyết về biểu tượng Đó là những công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc và đạt được nhiều thành tựu
Nhiều công trình nghiên cứu thơ ca dân gian cũng đã sử dụng các khái niệm tín hiệu thẩm mĩ, biểu trưng, biểu tượng Vấn đề nghiên cứu biểu tượng trong ca dao và một số biểu tượng con cò, con bống… đã được nhà nghiên
cứu Vũ Ngọc Phan chú ý ngay từ khi ông công bố lần đầu tuyển tập Tục ngữ,
ca dao, dân ca Việt Nam của mình Sau đó, Cao Huy Đỉnh, Phan Đăng Nhật,
Hà Công Tài, Trương Thị Nhàn, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến… cũng đã có các bài nghiên cứu về biểu tượng, biểu trưng, tín hiệu thẩm mĩ trong thơ ca dân gian ở những góc độ khác nhau Hà Công Tài
đi sâu khảo sát biểu tượng “trăng” trong ca dao Nguyễn Xuân Kính chỉ ra
đặc sắc riêng của một số biểu tượng ca dao trong tương quan với văn học viết
Với “Lối đối đáp trong ca dao trữ tình”, tác giả Cao Huy Đỉnh đã đề cập đến các cặp tín hiệu như: “trúc – mai”, “mận – đào”, “thuyền – bến”… Từ đó,
tác giả chỉ ra nét độc đáo của các tín hiệu trong ca dao trữ tình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận tác phẩm văn học nói chung và thơ ca dân gian nói riêng dưới ánh sáng lý thuyết của ngôn ngữ học
Trang 11như: lý thuyết về tín hiệu, lý thuyết về hệ thống, lý thuyết về biểu tượng, trường nghĩa… và đã có những đóng góp nhất định Trong bối cảnh của sự gặp gỡ, giao thoa giữa hai ngành nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, chúng tôi
lựa chọn một đề tài nghiên cứu ngôn ngữ học liên quan đến văn học “Tín hiệu
thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa” Tiếp thu thành tựu của những công
trình đã công bố, đồng thời để tránh trùng lặp với người đi trước, luận văn tập
trung vào một số tín hiệu thẩm mĩ chưa được khai thác hoặc mới chỉ được nói
đến một cách sơ lược Đó là các tín hiệu: mưa, nắng, gió, áo, yếm
4 Đóng góp của luận văn
Về mặt lí luận, trên cơ sở kế thừa những nguồn tài liệu và các công trình nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ nói chung, luận văn sẽ làm rõ thêm một số vấn đề liên quan đến tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa nói riêng
Do vậy, ở mức độ nào đó, kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ góp phần làm phong phú thêm lí luận về tín hiệu thẩm mĩ trong ca trữ tình
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở khảo sát một số tín hiệu thảm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa Luận văn nêu được đặc điểm nhận dạng tín hiệu thẩm
mĩ, khảo sát và miêu tả chi tiết về tín hiệu thẩm, giải thích một số tín tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa Đồng thời, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên và những ai quan tâm đến tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ học là chủ yếu Trên cơ sở những tư liệu được thu thập và xử lý, trên nền tảng những con số được thống kê và phân tích, chúng tôi đưa ra những nhận xét mang tính khái quát về vấn đề cần nghiên cứu
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thao tác thống kê, phân loại để được tần số xuất hiện của các tín hiệu, sắp xếp chúng vào nhóm tín hiệu có chung đặc điểm Đồng thời, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp phân tích ngữ
Trang 12cảnh kết hợp với các yếu tố giao tiếp để khai thác các tầng nghĩa biểu trưng của tín hiệu
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu trong ca dao tình yêu đôi lứa
- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn tư liệu mà chúng tôi chọn để khảo sát là các bài ca dao trong cuốn “Ca dao Việt Nam” (2003) của Vũ Dung, Vũ Thúy Anh sưu tầm và biên soạn Chúng tôi chọn nguồn tư liệu này vì đây là một công trình tiêu biểu và được đánh giá cao Đồng thời chúng tôi cũng thu nhập thêm tư liệu từ một số tuyển tập ca dao khác
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Hình thức biểu hiện của một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa
Chương 3: Giá trị biểu hiện của một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ
1.1.1 Tín hiệu
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín hiệu, liên quan đến những cách
hiểu rộng hẹp khác nhau của các tác giả Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ
vựng, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa tín hiệu của P Guiraud: “Một tín hiệu… là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác” [6, tr.51] Còn A Schaff lại định nghĩa tín hiệu thẩm
mĩ theo nghĩa hẹp: “Một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện
tượng thực tế sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm” [6, tr.51]
Định nghĩa của A Schaff hẹp ở chỗ chỉ thừa nhận những sự vật hiện tượng là tín hiệu khi nó được sử dụng có ý thức trong phạm vi một hệ thống
có tư cách như một ngôn ngữ để trao đổi tư tưởng, tình cảm giữa người với người, còn những tín hiệu giao tiếp không ý thức của động vật không được thừa nhận là tín hiệu
Quan niệm của P Guiraud về tín hiệu rộng hơn vì nó bao hàm cả những tín hiệu hẹp, những tín hiệu nhận biết đối với thế giới sinh vật, cả những tín hiệu giao tiếp có tính chất bản năng của loài vật Theo cách hiểu này, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra những hình ảnh đều được coi là tín hiệu, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp… Một đám mây với khả năng gợi ra hình ảnh về cơn mưa trong nhận thức của con người Một giọng nói “tự nói lên” những đặc điểm về quê quán, về tuổi tác, nghề nghiệp, trạng thái tâm sinh lý… của
Trang 14người nói trong sự nhận thức của người nghe Một câu hỏi nhưng chính là
một lời tỏ tình của ca dao: “Tre non đủ lá đan sàng được chăng?” Một con
thuyền trong ý nghĩa của “người đi” mà ca dao vẫn thường nhắc đến… Các nhà nghiên cứu lý thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố mang tin Các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa
Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đã chỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật, hiện tượng, hay thuộc tính vật chất trở thành tín hiệu: 1 Phải có một hình thức cảm tính (cái biểu hiện); 2 Phải có một nội dung ý nghĩa (cái được biểu hiện); 3 Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng của thông tin); 4 Phải nằm trong một hệ thống nhất định Chúng tôi coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện tín hiệu trong đề tài Một tín hiệu là một yếu tố bao hàm hai mặt: “Cái biểu hiện” và “cái được biểu hiện”, đồng thời cũng là một yếu tố chỉ có thể xác định được trong mối tương quan với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà nó tham gia
Về phân loại tín hiệu, các tác giả cũng đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào những tiêu chí khác nhau Phân loại của C Peirce phân biệt ba phạm trù chính của tín hiệu: hình hiệu, dấu hiệu, biểu trưng C Morris đưa thêm vào hệ thống phân loại những phạm trù: chỉ hiệu, định hiệu Bảng phân loại của P Guiraud có sự phân biệt tín hiệu tự nhiên với tín hiệu nhân tạo, tín hiệu biểu hiện và tín hiệu giao tiếp Lấy bảng phân loại tín hiệu của P Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra nguyên tắc phân loại theo những tiêu chí khác nhau Căn cứ vào chức năng xã hội có thể phân loại các tín hiệu thành tín hiệu đạt có thể phân loại thành: tín hiệu thị giác, tín hiệu thính giác, tín hiệu xúc giác… Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo Căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể quy tín hiệu thành ba loại: dấu hiệu, hình hiệu và ước hiệu
Các phạm trù tín hiệu được kể ở đây tuy không đồng nhất trong quan
Trang 15niệm của mỗi tác giả và cũng không tương đồng với nhau trên cùng một tiêu chí phân loại nhất định nhưng có tác dụng cung cấp những khái niệm tín hiệu quan trọng trong việc nghiên cứu những đặc tính tín hiệu học khác nhau của các tín hiệu, làm cơ sở cho sự phân biệt tín hiệu được nghiên cứu trong đề tài Trong tất cả những phân loại kể trên, chúng tôi sử dụng bảng phân loại của Đỗ Hữu Châu mà ưu điểm là bao quát được tất cả những phạm trù – loại khác nhau của tín hiệu, đồng thời chỉ ra được mối quan hệ loại hình giữa các tín hiệu trên các tiêu chí khác nhau như: “1) Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2) Dựa vào nguồn gốc của tín hiệu, 3) Dựa vào mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện, 4) Căn cứ vào chức năng xã hội của tín hiệu” [9, tr.716-718]
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ
Tín hiệu ngôn ngữ nói riêng và tín hiệu nói chung đều là những dạng vật chất tác động vào giác quan của con người để con người nhận thức và lĩnh hội được một nội dung ý nghĩa cần thiết về hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, hành động, hay cảm xúc Rất nhiều tín hiệu xung quanh con người hiện nay đều thỏa mãn những yêu cầu chung đó: đèn giao thông hay các biển hiệu giao thông, tiếng trống, kẻng hay chuông báo hiệu giờ làm việc hoặc học tập, tiếng
“tút tút” báo giờ trên đài phát thanh, chữ nổi cho người mù, dấu hiệu bằng tay cho người câm điếc,
Trong số các tín hiệu mà con người sử dụng hiện nay, tín hiệu ngôn ngữ
có lịch sử lâu đời và diện phổ biến rộng khắp nhất Từ khi ra đời cho tới nay,
và ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, con người đều dùng các tín hiệu ngôn ngữ Có thể nói, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu phổ biến nhất, lâu đời và quan trọng nhất trong cuộc sống của con người
F de Saussure xác định tín hiệu ngôn ngữ: “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền
thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh, hai yếu tố này có gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái
Trang 16này phải có cái kia Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu đạt và hình ảnh âm thanh được gọi là cái biểu đạt”[38, tr.121] Nó như hai mặt của một
tờ giấy, hễ mất mặt này mặt kia không thể tồn tại, hay nói cách khác, tín hiệu ngôn ngữ là một tổng thể hai mặt không thể tách rời Từ đó F de Saussure đã chỉ ra hai đặc điểm của tín hiệu ngôn ngữ: tính võ đoán và tính hình tuyến Tính võ đoán, hiểu theo F de Saussure, là mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt hoàn toàn không có một lí do xác đáng nào Nghĩa là nếu không có cái biểu đạt này thì có thể sử dụng cái biểu đạt khác làm vỏ cho các đơn vị ngôn ngữ mà người ta vẫn có thể hiểu nếu như cấp cho chúng các thế đối lập cần thiết nhằm xác định giá trị của đơn vị đó
Ch.S Pierce cũng có quan niệm tương tự Ông cho rằng đại đa số tín hiệu ngôn ngữ thuộc loại ước hiệu, loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên
do Loại tín hiệu này sẽ mất tư cách là tín hiệu nếu không có cái lí giải
Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, tác giả Đỗ Hữu Châu coi ngôn
ngữ là hệ thống tín hiệu sơ cấp được xây dựng với những thể chất tinh thần và vật chất Đó là những âm thanh do bộ máy cấu âm của con người tạo ra Ông đặc biệt lưu ý vấn đề chức năng và đặc tính đa chức năng của các tín hiệu ngôn ngữ so với các hệ thống tín hiệu nói chung và tín hiệu mang chức năng giao tiếp nói riêng Nếu như các tín hiệu khác ở từng hệ thống chỉ thực hiện được một chức năng tín hiệu thì ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời là công cụ để tư duy, để tổ chức xã hội, duy trì sự sống của con người và còn mang chức năng thi pháp Trong đó, chức năng giao tiếp được coi là chức năng xã hội quan trọng nhất của ngôn ngữ
Vì vậy, tín hiệu ngôn ngữ vừa là tín hiệu giao tiếp, vừa có thể là tín hiệu nhận thức, tín hiệu biểu hiện Riêng đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt các chức năng khác nhau có liên quan đến các nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng
Trang 17phát ngôn, chức năng cú học
Từ các phương diện chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định
ý nghĩa tín hiệu của chúng trên tất cả những đơn vị mang ý nghĩa: từ, cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản Một từ hay một câu nào đó có thể vừa mang những thông tin về sự vật, hiện tượng được nói đến, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phương, nghề nghiệp và trạng thái tâm lí của người nói Chẳng hạn, khi đọc những câu ca dao sau:
“Khăn thương nhớ ai?
Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt trên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt”
Không phải tự nhiên bài ca dao này được người ta nhớ đến với tên gọi
“khăn thương nhớ ai” Hình ảnh chiếc khăn ấy không chỉ là biểu tượng cho
nỗi nhớ thương của cô gái mà còn là hình ảnh được lặp lại nhiều nhất với nhiều tình huống khác nhau Trong xã hội phong kiến, phụ nữ luôn là tầng lớp dưới, thấp cổ bé họng, kêu không ai nghe, than không ai thấu Bởi vậy họ chỉ biết gửi những dòng tâm sự, nỗi lòng ấy qua từng lời ca như xé ruột Dễ cho
chúng ta thấy, khăn là vật dụng rất quen thuộc đối với con người, nhất là đối với người phụ nữ Đối với những đôi lứa yêu nhau, khăn là vật gần gũi, là vật trao duyên giữa đôi trai gái Ở đây, chiếc khăn là hình ảnh được nhân hóa, từ
vật thể vô hồn trở nên có tâm trạng, biết đau, biết nhớ, biết vui, biết buồn và
là đối tượng để cô gái thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình
Ở bất kì cấp độ nào, mỗi tín hiệu ngôn ngữ đều phải bao hàm một hình thức ngữ âm (cái biểu đạt) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (cái được biểu đạt) và ở bất kì cấp độ nào, giá trị tín hiệu ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định F de Saussure đã nêu hai
Trang 18loại quan hệ chung nhất, đó là: 1) Quan hệ đồng nhất – đối lập và quan hệ khác biệt; 2) Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến Ngôn ngữ học hiện đại lưu ý thêm các loại quan hệ: quan hệ tôn ti (giữa các cấp độ của ngôn ngữ)
và quan hệ hiện thực hóa (giữa bình diện trừu tượng và bình diện cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng của tín hiệu
Với mối quan hệ giữa hai mặt này của tín hiệu ngôn ngữ đã được Đỗ Hữu Châu đặt trong chức năng xã hội của ngôn ngữ Sự hiện thực hóa chức năng xã hội của ngôn ngữ được biểu hiện trong hoạt động của toàn bộ hệ thống qua những mối quan hệ ngang (tuyến tính, ngữ đoạn, tiếp đoạn cú đoạn: khả năng kết hợp các yếu tố ngôn ngữ với nhau để tạo thành một đơn vị cao hơn) và mối quan hệ giữa các cấp độ của hệ thống ngôn ngữ Trong các kết hợp cụ thể, mối quan hệ giữa hình thức ngôn ngữ (cái biểu đạt) và ý nghĩa (cái biểu đạt) rất khác nhau
Ví dụ: Tín hiệu sóng trong những kết hợp khác nhau về đối tượng được
nó biểu trưng
Nhà thơ Huy Cận thì sóng gợi lên một nỗi buồn mênh mang bất tận:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng ”
Với nhà thơ Xuân Diệu sóng là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu ào ạt
của người con trai:
“Anh xin làm sóng biếc
Hôn bãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi”
Còn với Xuân Quỳnh sóng là hiện thân cho một tình yêu nồng nàn, dạt
dào, tha thiết, cao vời, bền bỉ và vĩnh hằng của người con gái:
Trang 19“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể ”
1.1.3 Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ
Mỗi ngành nghệ thuật sẽ chọn cho mình một cách thức riêng để đưa tư tưởng vào tác phẩm nghệ thuật của mình Nếu tác phẩm điêu khắc là tổ chức của các hình khối; tác phẩm hội họa là sự biểu diễn của những đường nét, màu sắc; tác phẩm âm nhạc là sự hòa thanh Ví dụ: bức tranh dân gian vẽ một bầy gà, trong đó có một con gà mẹ và những con gà con Gà con quấn quýt bên chân gà mẹ, có con cưỡi trên lưng mẹ Bức tranh đó là một tín hiệu thẩm
mĩ Nó không chỉ mô tả cảnh sinh hoạt của đàn gà, mà còn thể hiện một tư tưởng thẩm mĩ cao đẹp: tình mẫu tử thiêng liêng đáng quý trọng
Còn trong nghệ thuật văn chương, chất liệu là ngôn ngữ Khi sáng tác, người nghệ sĩ dùng chất liệu ngôn ngữ để tạo ra các tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương
Mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ được thể hiện trong bảng sau:
Tín hiệu thẩm mĩ Cái biểu đạt (tổng thể hai mặt của tín hiệu
Âm thanh (chữ viết):
Trang 20Một số tác giả quan niệm về tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ hay có thể gọi là tín hiệu thẩm mĩ:
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã có những kiến giả cụ thể về tín hiệu thẩm mĩ
ngôn ngữ: “Tín hiệu thẩm mĩ là phương tiện sơ cấp của văn học Ngôn ngữ
thực sự của văn học là ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp – tín hiệu thẩm
mĩ Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức – cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ”.[6, tr.18]
Tác giả Nguyễn Thị Vân Anh đã đề xuất về tín hiệu thẩm mĩ: “Tín hiệu
thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật nhằm biểu hiện nội dung thẩm mĩ Tính thẩm
mĩ của các tín hiệu thẩm mĩ biểu hiện ở sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng nằm ở cả nội dung và hình thức của tín hiệu” [2, tr.20]
Theo tác giả Bùi Minh Toán: “Tín hiệu thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức
năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp
Nó cũng như mọi loại tín hiệu khác, cần có hai mặt: cái biểu đạt (cái biểu hiện) và cái được biểu đạt (cái được biểu hiện), nhưng cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ”.[33, tr.139]
Trong câu ca dao:
Thuyền về có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Tác giả dân gian dùng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường, mà mọi người Việt Nam đều biết Mọi người trưởng thành đều hiểu rằng: câu ca dao không chỉ nói chuyện thuyền bến, sông nước, mà cao đẹp hơn, nó thể hiện tình cảm thủy chung giữa một người con gái và một người con trai Thuyền
và bến gắn bó với nhau theo một mối quan hệ mật thiết mà sự tồn tại của cái này là lẽ tồn tại của cái kia: thuyền cần có bến, bến sinh ra để cho thuyền, không thể có thuyền mà không có bến, cũng như không thể có bến mà không
Trang 21có thuyền Nhưng có lúc thuyền và bến phải xa nhau, thuyền chuyển dời, mà
bến thì tĩnh tại một chỗ Tuy thế, không lúc nào bến không nhớ đến thuyền
Từ đó, những tín hiệu thuyền và bến đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ để biểu
hiện cho tình cảm của con người Người con gái và người con trai cùng sinh
ra và tồn tại trên cõi đời theo một mối quan hệ tương hỗ, chế định nhau và cũng có lúc họ tạm xa nhau Nhưng trong hoàn cảnh nào người con gái vẫn giữ tấm lòng thủy chung Đó chính là một ý nghĩa thẩm mĩ cao đẹp làm cho
thuyền và bến trong câu ca dao này trở thành tín hiệu thẩm mĩ
1.1.4 Một số vấn đề tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương – tín hiệu ca dao
- Với các ngành nghệ thuật khác, tín hiệu thẩm mĩ có thể cảm thụ một cách cụ thể trực tiếp như nhìn thấy một bức tranh, nghe thấy một bản nhạc Cái biểu đạt của tín hiệu hội họa, âm nhạc hay điêu khắc tự bản thể đã mang
ý nghĩa nên có khả năng tác động trực tiếp vào tư duy hình thành các lớp ý
nghĩa thẩm mĩ Chẳng hạn, với hội họa, cái biểu đạt – màu xanh thường diễn
tả cái được biểu đạt là những gì êm dịu, nhẹ nhàng, mang sức sống mới; cái
biểu đạt – màu đen thường được gợi ra cái biểu đạt là sự u ám, nặng nề, tang
tóc Trong khi đó, với các tín hiệu văn chương nói chung, tín hiệu ca dao nói riêng, ngay từ đầu mối quan hệ giữa cái biểu đạt – cái được biểu đạt đã mang tính ước lệ - gián tiếp nên ý nghĩa thẩm mĩ, hình tượng nghệ thuật chỉ hiện ra trong ý thức, trong trường liên tưởng của các chủ thể giao tiếp, chứ không hiện ra trực tiếp bằng chất liệu – bản thể như ở một số tín hiệu thẩm mĩ khác
- Về khả năng miêu tả những cái vô hình trong thế giới hữu hình, tín hiệu văn chương cũng tỏ rõ lợi thế hơn hẳn các tín hiệu thẩm mĩ khác Lợi thế này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của tín
hiệu mang tính võ đoán
- Là tín hiệu nghĩa nên tính thông tin của tín hiệu văn chương quan trọng hàng đầu Tín hiệu ca dao vừa mang những đặc điểm giống tín hiệu văn chương vừa mang những đặc điểm riêng biệt Tín hiệu ca dao là sự kết hợp
Trang 22giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, có cả “văn bản” tạo hình và văn bản biểu hiện Ca dao là sản phẩm của quần chúng, đó chính là điểm xuất phát để tín hiệu ca dao mang những đặc trưng riêng so với các tín hiệu văn chương khác Vì thế, nó có phần hồn nhiên, mộc mạc hơn
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, “Sự ngắn gọn của các tác phẩm ca
dao phản ánh đặc điểm, hoàn cảnh, điều kiện sáng tác và sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian Kết cấu một vế có phần vần, kết cấu hai vế tương hợp, kết cấu hai vế đối lập và trong khi sáng tạo lời mới, một dòng hoặc nhiều dòng ca dao có sẵn có thể được lắp ghép là những dạng kết cấu độc đáo và
là đặc điểm của ca dao”[24, tr.388]
- Quá trình lưu truyền của ca dao có thể làm cho những tín hiệu ca dao sâu sắc hơn về nội dung, trau chuốt hơn về nghệ thuật ngôn từ nhưng cũng có thể làm cho chúng bị thay dổi, bị phá vỡ Như vậy có thể thấy, từng năm tháng, từng địa phương, từng nhóm người, từng cá nhân tiếp thu, ghi nhớ và lưu truyền tín hiệu ca dao đều “in dấu ấn” vào nó, làm cho nó biến đổi
- Không phải tín hiệu ca dao nào cũng được coi là tín hiệu thẩm mĩ Theo định nghĩa về tín hiệu thẩm mĩ, những tín hiệu được lựa chọn nghiên
cứu là những tín hiệu thẩm mĩ có những đặc trưng sau: “Phản ánh chân thực
cuộc sống Xây dựng được những điển hình phong phú, những biểu tượng nghệ thuật đẹp nhiều tầng, nhiều lớp nghĩa, biểu hiện cho nhiều cái được biểu đạt.Mang tính gợi mở, tính không bao giờ kết thúc; tác động vào tiềm thức của người tiếp nhận và “bắt” người tiếp nhận phải liên tưởng để tạo lập những cái được biểu đạt mới.Có nội dung biểu hiện cái đẹp, chứa những khát vọng vươn tới cái đẹp” [2, tr.30]
Ca dao do đặc trưng về tính cô đọng, hàm súc, giàu hình tượng đến từng câu chữ, nên khi xác định và phân tích tín hiệu thẩm mĩ trong các bài ca dao cần dựa vào các yếu tố có giá trị biểu trưng, nhưng từ ngữ “có khả năng kích thích mạnh mẽ tinh thần của chúng ta” Vì vậy, nói đến tín hiệu thẩm mĩ ca
Trang 23dao chính là đề cập đến những biểu tượng nghệ thuật trong ca dao
Biểu tượng trong ca dao là một biểu trượng nghệ thuật, được xây dựng bằng ngôn từ với những quy ước của cộng đồng Tuy cùng xây dựng các biểu tượng trên cơ sở là hiện thức khách quan, nhưng nhiều ý nghĩa của các biểu tượng trong ca dao khác hẳn so với các biểu tượng thuộc tín hiệu văn chương khác Những biểu tượng nghệ thuật ca dao vừa mang những đặc điểm nghệ thuật của biểu tượng nói chung, vừa mang những nét riêng đặc thù của nó do nghệ thuật tín hiệu ngôn ngữ ca dao quy định Trong từng thời đại, từng địa phương, hay với từng nghệ sĩ dân gian, có thể sử dụng, tiếp nhận những tín hiệu thẩm mĩ xây dựng nên những biểu tượng với những nét nghĩa phái sinh trên cơ sở những nét nghĩa ổn định
Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao vừa mang tính dân tộc sâu sắc vừa thể hiện tính địa phương độc đáo Vì thế, nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ cần đặt chúng trong nhiều mối tương quan để so sánh, đối chiếu nhằm phát hiện được trọn vẹn cái đẹp bản chất tồn tại trong từng tín hiệu thẩm mĩ
1.2 Một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ
Để có một cái nhìn toàn diện hơn về tín hiệu thẩm mĩ, cần tìm hiểu một
số đặc tính thường được nói tới của tín hiệu thẩm mĩ
1.2.1 Tính nguồn gốc
Tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc trước hết là từ thế giới hiện thực, bao gồm toàn bộ những chi tiết, những sự vật, hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ còn có nguồn gốc từ những liên tưởng logic hoặc phi logic của chủ thể sáng tác Đó có thể là sản phẩm của trực giác mà chỉ với những hiểu biết về thế giới thực tại thông thường sẽ khó lý giải được những tín hiệu thẩm mĩ loại này Bởi vậy, trước tiên ta phải xác định được là tín hiệu thẩm mĩ được quy chiếu từ nguồn gốc – hiện thực nào
Tín hiệu thẩm mĩ còn có nguồn gốc từ các sự kiện ngôn ngữ như từ địa
Trang 24phương, một đoạn đối thoại, các yếu tố ngôn ngữ như tiếng, âm, vần, thanh ; cấu trúc cú pháp câu như đảo trật từ từ, tỉnh lược, lặp từ ; cách trình bày văn bản Những yếu tố này đều có thể trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm với điều kiện chúng đều nhằm phục vụ cho một tư tưởng thẩm mĩ nhất định, được nhận thức bởi một chủ thể thẩm mĩ nhất định
1.2.2 Tính cấp độ
Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm gắn với các cấp độ trong tín hiệu ngôn ngữ Nếu quan niệm tín hiệu thẩm mĩ như một loại đơn vị hai mặt, có ý nghĩa thẩm mĩ, sẽ có các đơn vị tín hiệu thẩm mĩ tương ứng với các tín hiệu đơn “có ý nghĩa trực tiếp” và những tín hiệu mới được kết hợp từ nhiều tín hiệu đơn Theo
sự phân loại của Đõ Hữu Châu, tín hiệu thẩm mĩ được chia thành hai cấp độ: Cấp độ thứ nhất là cấp độ cơ sở (các tín hiệu đơn): Là những tín hiệu thẩm mĩ tương đương với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng thuộc thế giới
khách quan như: mây, mưa, gió, bão, mặt trời, con thuyền, bến nước…Nó
mang ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật tương đối hoàn chỉnh trong tương quan với những yếu tố khác cùng tham gia vào quá trình biểu trưng nghệ thuật Các tín hiệu cơ sở này có chức năng cấu tạo nên tín hiệu thẩm mĩ ở cấp độ cao hơn Thuộc phạm vi này, tín hiệu thẩm mĩ có thể tương đương với đơn vị từ
trong tín hiệu ngôn ngữ Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Phương tiện sơ cấp
của văn học là tín hiệu thẩm mĩ Rồi cái tín hiệu thẩm mĩ đó mới được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường” [9, tr.564]
Cấp độ thứ hai là cấp độ xây dựng (các tín hiệu phức): Là những tín hiệu thẩm mĩ tương đương với nhiều sự vật, hiện tượng… được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản các tín hiệu đơn Nó mang ý nghĩa thẩm mĩ mới có tính chất tổng hòa và tương đối độc lập so với ý nghĩa của từng tín hiệu riêng lẻ tham gia trong nó Ở cấp
độ này, tín hiệu thẩm mĩ có thể tương đương với các đơn vị câu, đoạn, văn bản trong hệ thống các tín hiệu ngôn ngữ Mỗi tín hiệu thẩm mĩ lúc này không
Trang 25còn là một yếu tố nào đó của hiện thực, mà là những sự kiện, những quá trình của đời sống hiện thực trong sự ghi nhận của tác giả
Trong luận văn này, tín hiệu thẩm mĩ được xét đến là những tín hiệu đơn Mỗi tín hiệu ứng với một yếu tố hiện thực (yếu tố tự nhiên, yếu tố con người) và được cụ thể, đa dạng hóa bằng các hình thức ngôn ngữ nhất định Nghiên cứu các hình thức biểu đạt này sẽ là cách thức để phát hiện ra các ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ
1.2.3 Tính hệ thống
Tính hệ thống là đặc tính quan trọng của tín hiệu thẩm mĩ nói chung và tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương nói riêng Là tín hiệu thẩm mĩ phải thuộc về một hệ thống, chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống Chỉ có thể hiểu được một tín hiệu thẩm mĩ khi đặt nó vào trong hệ thống – môi sinh của nó Hệ thống quy định chiều hướng tạo nghĩa cũng như chiều hướng luận nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ Theo đó, mọi cấp độ chuyển hóa tinh tế, phức tạp nhất giữa nội dung và hình thức trong tín hiệu thẩm mĩ mới được làm sáng
tỏ Nguyễn Lai đã nói tầm quan trọng của hệ thống: “Tính hệ thống không phải
là bản thân tín hiệu, nhưng nó khống chế và điều chỉnh làm cho phẩm chất vốn
có của tín hiệu (đặc biệt là tín hiệu ngôn ngữ) trở nên năng động hơn; đồng thời qua đó tạo ra được những trường hợp mới vô cùng đa dạng phản ánh nhận thức mới theo những phẩm chất khác nhau” [25, tr.32]
Hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ trước hết là tác phẩm được nó góp phần cấu thành Các mối quan hệ hệ thống tạo ra giá trị của nó bao gồm: các mối quan hệ trong văn bản tác phẩm văn học và các mối quan hệ bên ngoài văn bản tác phẩm văn học Giá trị của tín hiệu thẩm mĩ là tổng hòa ý nghĩa của các mối quan hệ nội – ngoại tại đó
(1) Những mối quan hệ trong văn bản tác phẩm văn học:
Mỗi tác phẩm văn học là một tổ hợp những tín hiệu thẩm mĩ Cấu trúc một văn bản tác phẩm văn học hình thành trên mối quan hệ điều chỉnh lẫn
Trang 26nhau của tín hiệu thẩm mĩ được sử dụng trong tác phẩm Những tín hiệu này, sau một quá trình lựa chọn, trở thành những yếu tố hiện diện trong tác phẩm
và bắt đầu cuộc sống của nó trong văn bản, chịu sự quy định của kết cấu văn bản: những quy tắc cú pháp, quy tắc về sự cộng hưởng ngữ nghĩa của các yếu
tố ngôn từ
Tuy nhiên, nếu chỉ xét tín hiệu thẩm mĩ trong mối quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ khác trong văn bản tác phẩm văn học thì chưa đủ để giải thích quá trình đưa một yếu tố hiện thực vào tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học
và giá trị chân thực của nó trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung, cũng chưa đủ điều kiện để lĩnh hội hết tư tưởng nghệ thuật mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm văn chương
(2) Những mối quan hệ bên ngoài văn bản tác phẩm văn học:
Mỗi hệ thống, trong sự hành chức của nó đều có những hệ thống khác làm môi trường hoạt động cho nó Nói đến tác phẩm văn học, không thể tách
nó ra khỏi một hệ thống chỉnh thể lớn hơn nó, quy định giá trị của nó, là cả một quy trình sáng tạo nghệ thuật bao hàm các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: quy trình cuộc sống – chủ thể sáng tạo – tác phẩm văn học – chủ thể tiếp nhận Bởi vậy, tác phẩm văn học không phải là sản phẩm tùy ý của người viết mà là kết quả tổng hòa của các nhân tố giao tiếp, trong đó bao hàm cả người sáng tác, người tiếp nhận, cả cuộc sống với tư cách là nội dung được nói tới Những nhân tố đó chính là điều kiện chi phối quá trình lựa chọn một yếu tố hiện thực nào đó để đưa vào tác phẩm thành tín hiệu thẩm mĩ
Như vậy, hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học phải được hiểu là hệ thống bao gồm những nhân tố của quy trình sáng tạo Từ đó hình thành những liên hệ giữa một tín hiệu thẩm mĩ với các nhân tố của quá trình sáng tạo này Đó là: tín hiệu thẩm mĩ với toàn bộ những yếu tố còn lại trong văn bản tác phẩm văn học; tín hiệu thẩm mĩ với phạm vi cuộc sống mà tác giả lựa chọn vào mục đích thẩm mĩ; tín hiệu thẩm mĩ với hệ thống cảm
Trang 27xúc của chủ thể sáng tác; tín hiệu thẩm mĩ với những tín hiệu lĩnh hội của chủ thể tiếp nhận Tính hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ nằm ở mối quan hệ điều chỉnh lẫn nhau giữa các nhân tố để tạo nên giá trị thẩm mĩ của tín hiệu
1.2.4 Tính biểu hiện
Một trong những chức năng quan trọng của nghệ thuật là phản ánh hiện thực gắn với thuộc tính biểu hiện Sự biểu hiện trong ngôn ngữ văn chương cũng có nhiều cấp độ Cái cốt yếu mà ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện không chỉ là đặc điểm, thuộc tính, trạng thái của hiện thực đời sống mà còn là toàn
bộ thế giới cảm xúc và sự tri nhận về đặc điểm, thuộc tính, trạng thái ấy của một chủ thể nhất định Tuy nhiên, ngôn ngữ thông thường nhiều khi không thể chuyển tải hết được những điều đó, vì vậy đòi hỏi phải có một phương tiện nghệ thuật đặc biệt, chính là tín hiệu thẩm mĩ
Sự biểu hiện hiện thực của tín hiệu thẩm mĩ nói chung đều dựa trên khả năng miêu tả, thay thế, dẫn nhập các sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào tác phẩm Trong văn học, đó là những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực, phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người Mặt khác, nhận thức, cảm xúc của con người lại là thứ luôn vận động và biến đổi không ngừng, bởi vậy lượng thông tin biểu hiện trong tín hiệu thẩm mĩ cũng không phải nhất thành bất biến
Ví dụ: Trong thơ Hàn Mặc Tử, tín hiệu áo được đồng nhất với chủ thể, nhưng trong những ngữ cảnh gắn liền với vẻ đẹp của thiên tính nữ, áo trở thành một chất liệu phong phú để nhà thơ thể hiện khát vọng hướng tới cái đẹp:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra”
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
Áo trắng là biểu hiện cho giấc mơ hóa vô vọng của thi nhân Câu thơ nhẹ
như cánh hạc về trời nhưng nỗi đau làm tê dại cả tâm trí Cái thanh nhẹ xa vời
ấy tìm về một đường nét nhòe mờ của chi tiết trang phục “áo em trắng quá”
Trang 28Ánh sáng buông tỏa như một dải lụa bạch quấn riết lấy nỗi cô đơn Trong văn hóa phương Đông, màu trắng là màu của hư vô, nhưng trong thơ Hàn nó cũng
là màu áo em của anh, màu của giấc mơ, màu bạc mệnh Như vậy, trong giấc
mơ mang màu sắc trang phục của thi nhân, ánh sáng thăng hoa nhưng hóa sương khói Khát khao đã hóa vô vọng Chính vì thế, nó đã tiềm ẩn một dự cảm thắc thỏm về đau thương
Cũng là áo trắng trong thơ Hàn nhưng ở hai câu thơ sau áo trắng tinh lại
là một vẻ đẹp lý tưởng:
“Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi Chết rồi – xiêm áo trắng như tinh”
(Cô gái đồng trinh – Hàn Mặc Tử)
Màu xiêm áo trắng tinh chính là biểu tượng của khát khao được đến với
nước Chúa của nhà thơ Áo ở đây là vẻ đẹp của một bản thể tính nữ đậm ý vị tôn giáo của cá nhân Hàn Mặc Tử Nhà thơ hướng về Thánh nữ đồng trinh để ngưỡng vọng như là một biểu tượng sáng láng và mong cầu được chữa lành vết thương tâm trong nguồn ánh sáng kỳ diệu đó
Có thể thấy, trong mỗi ngữ cảnh cụ thể, tính biểu hiện của tín hiệu thẩm
mĩ cũng không đồng nhất Ngữ cảnh chính là yếu tố khơi gợi liên tưởng của người đọc về ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ, giúp người đọc đi đến tận cùng của sự giải mã tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương
ẩn gắn với những dự cảm cá nhân hay quan niệm của cộng động xã hội
Trang 29Pierce: “Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa
có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó một trong hoàn cảnh nào đó Nghĩa là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi”[9, tr.186]
Tính chất ước lệ này chỉ ra những lý do về mặt lịch sử xã hội trong việc
sử dụng các biểu trưng Một mặt, biểu trưng có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực Mặt khác,
là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận Ví dụ: trên hầu khắp
thế giới, hình ảnh con cò biểu trưng cho điềm lành, cho đức hiếu thảo Ở Nhật Bản, cò biểu trưng của sự bất tử Với người Việt chúng ta, hình ảnh con cò
gắn với những phẩm chất trong sạch, hiền lành của người lao động hay thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ
Cũng do tính biểu trưng, giá trị của tín hiệu thẩm mĩ còn phụ thuộc vào cách tri nhận của mỗi cộng đồng khác nhau Ví dụ:
Tồn tại từ ngàn năm cùng với cây cỏ thiên nhiên đất nước, hoa sen
không chỉ là người bạn thân thiết mà còn được xem như là biểu trưng văn hóa
bén rễ sâu trong tâm thức người dân Việt Sen biểu trưng cho những giá trị
đạo đức, phẩm cách thanh cao, thuần khiết, tinh thần vươn lên trong mọi nghịch cảnh của người Việt Đó thực sự là biểu trưng tiêu biểu nhất cho văn hóa và cốt cách nhân văn của người Việt Nam Tương đồng với nước ta, hoa sen trong văn hóa Nhật Bản cũng được hiểu theo ý nghĩa đạo đức, là một hình
ảnh đức hạnh, thanh khiết và nguyên vẹn Hoặc hình ảnh con rồng trong hội
họa Phục Hưng tượng trưng cho cái ác và sự hận thù, tuy nhiên với người Trung Hoa, rồng lại là hình tượng của Hoàng đế với quyền uy tối cao Còn với người Việt, rồng là biểu trưng cho sự linh thiêng, tôn quý
1.2.6 Tính trừu trượng và cụ thể
Trong cuốn Ngôn ngữ ca dao “Tín hiệu học có sự phân biệt điển dạng và hiện dạng của tín hiệu.Điển dạng là tín hiệu trong tính trừu tượng, bất biến của nó gọi là hằng thể của tín hiệu Hiện dạng của tín hiệu trong tính cụ thể,
Trang 30khả biến của nó gọi là biến thể của tín hiệu Trong thực tế, chỉ có thể bắt gặp các hiện dạng (biến thể) của tín hiệu, với những biểu hiện không hoàn toàn giống nhau trong các lần xuất hiện [28, tr.21]
Quan hệ hằng thể - biến thể xảy ra ở cả hai mặt tín hiệu: mặt hình thức cái biểu đạt và mặt ý nghĩa cái được biểu đạt.Tức là có biến thể về mặt hình thức biểu hiện và có biến thể về mặt ý nghĩa biểu hiện Bởi vậy, nghiên cứu tín hiệu biểu trưng (hằng thể) không thể không khảo sát qua các “lần xuất hiện” của nó Như trong câu ca dao sau:
“Em tưởng nước giếng sâu
Em nối sợi gầu dài
Ai ngờ nước giếng cạn
Em tiếc hoài sợi dây”
Qua bài ca dao hình ảnh chúng ta tiếp nhận đầu tiên là “nước giếng – sâu”,
“sợi gầu – dài”, tuy nhiên ở đây không đơn thuần là giếng nước sâu, sợi gàu
mà là những biểu hiện cụ thể của mỗi tín hiệu qua các hình thể ngôn từ có tính
miêu tả - cụ thể hóa: đó là khi cho đi “tình yêu – sâu sắc”, “tình cảm – thắm
thiết” nhưng nhận lại nỗi thất vọng cay đắng về tình yêu của con người
1.3 Một số vấn đề ngữ cảnh của tín hiệu thẩm mĩ
Những vấn đề về trường nghĩa là những yếu tố thuộc cấu trúc ngôn ngữ Trường nghĩa vừa là một thực thể ngôn ngữ, vừa là một thực thể thuộc bình diện xã hội – văn hóa – tư duy Cho nên trong trường nghĩa ngoài yếu tố ngôn ngữ còn có những thông tin lịch sử, văn hóa được biểu thị trong các từ Những thông tin này bổ sung “làm đầy” nét nghĩa Như vậy, có một bộ phận ngữ nghĩa của trường nghĩa nằm ngoài hệ thống cấu trúc song vẫn liên hệ mật thiết với hệ thống cấu trúc, giúp lí giải ngữ nghĩa các yếu tố trong cấu trúc và ngược lại Đó chính là ngữ cảnh
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Ngữ cảnh là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của
một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên
Trang 31nghĩa”[6, tr.97] Tác giả Nguyễn Văn Khang trong Ngôn ngữ học xã hội: Những vấn đề cơ bản :“Ngữ cảnh là vật chất và hoàn cảnh xã hội mà hành vi nói năng dựa vào đó để có thể hiểu Ngữ cảnh bao gồm hai loại: ngữ cảnh ngôn ngữ và ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ”[23, tr 261]
Hay để phù hợp với đối tượng nghiên cứu theo Nguyễn Thị Vân Anh
trong Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ, “Ngữ cảnh là
thế giới môi trường chi phối đến hoạt động cả bên ngoài lẫn bên trong của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ Nó là cái không hạn định, liên tục mở ra về không gian và thời gian Tùy từng trường hợp xem xét, nó có thể rộng bao gồm các đối ngôn và các hợp phần hiện thực ngoài diễn ngôn Nó có thể hẹp là những
từ đứng gần hay kèm một từ tạo cho nó tính xác định về nghĩa” [2, tr.38]
1.4 Vài nét về ca dao trữ tình tình yêu đôi lứa
Ca dao là một dạng của thơ và ở thời đại nào nó cũng chinh phục được người đọc Hơn nữa, những bài ca dao về tình yêu không cứng nhắc với những niêm luật phức tạp như thơ cổ điển Để hiểu rõ ràng hơn, đầu tiên ta thấy rằng tình yêu nam nữ trong ca dao được thể hiện rất trong sáng và lành mạnh Trong cái tình cảm đa dạng của dân tộc, tình yêu nam nữ đã vươn lên như cánh hoa nở trong vườn đời, tạo nên biết bao câu ca dao tình tứ, bao vần thơ truyền khẩu lãng mạn Tình yêu vẫn luôn là một đề tài muôn thuở của văn học ở mỗi giai đoạn Nói đến tình yêu là những lời tán tỉnh, hẹn hò, hạnh phúc, đau khổ, và muôn hình vạn trạng khác Với ca dao để phơi bày những tâm tình ấy, ta thường thấy những lời lẽ thể hiện chân thành, nhưng cũng không ít những lời bay bướm, hoa hòe mà sự điêu luyện đến mức tuyệt vời
“Em như hoa nở trên cành Anh như con bướm lượn vành bên hoa
Bây giờ anh lấy người ta Như dao cắt ruột em ra làm mười”
“Anh có thương em thì thương cho trót
Trang 32Có trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng làm theo thói ghe buồm Nay về, mai ở cho buồn dạ em”
Thơ ca về tình yêu đôi lứa như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt Nó như một món ăn tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn ta Các chàng trai, cô gái khi hát lên những tiếng hát về tình yêu thì những tiếng hát ấy là khát vọng, là những ước
mơ về cuộc sống hạnh phúc, đồng thời nói lên quan niệm của mình về cái đẹp
lí tưởng của con người Những sắc thái tình yêu được thể hiện trong ca dao dân ca muôn phần phong phú và ấn tượng Sẽ không thể nào nói hết được vẻ thi vị, ý nhị của tình yêu nam nữ được thể hiện trong những lời ca diệu vời Hãy để lòng mình được lắng lại, tìm về những câu ca dao dân ca ấy chúng ta mới thấy hết được những nét tinh tế và giá trị nhân văn sâu sắc của nó
Tiểu kết Chương 1
Ở chương 1, chúng tôi bày những vấn đề liên quan tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ và đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và cảm nhận các tầng ý nghĩa trong ca dao tình yêu đôi lứa Cụ thể, các vấn đề được trình bày gồm: những quan niệm, ý kiến, khái niệm, đặc điểm về tín hiệu thẩm mĩ Ngoài ra, chúng tôi tìm hiểu một số đặc tính cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ; vấn đề về ngữ cảnh của tín hiệu thẩm mĩ Bên cạnh đó chúng tôi đã khái quát sơ lược về ca dao tình yêu đôi lứa Tất cả những vấn đề này đều được xây dựng dựa trên những cơ sở có tính khoa học Đây sẽ là cơ sở lí thuyết làm xuất phát điểm cho việc tìm hiểu, nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa ở chương 2
Trang 33Chương 2 HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA MỘT SỐ TÍN HIỆU
THẨM MĨ TRONG CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA
Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các tín hiệu thẩm mĩ theo hai nhóm: các tín hiệu thuộc hiện tượng tự nhiên, các tín hiệu là vật thể nhân tạo và tập trung các tín hiệu thẩm mĩ có tần số xuất hiện nhiều
và là những tín hiệu thẩm mĩ đặc trưng
Khi tiến hành khảo sát các tín hiệu, chúng tôi tiến hành thống kê phân lập các dạng thức kết hợp của từ trung tâm (biến thể kết hợp, biến thể quan hệ) trong các câu ca dao, bài ca dao có từ trung tâm đang nghiên cứu Các dạng thức kết hợp ấy là các từ ngữ đứng trước và đứng sau từ trung tâm trong câu ca dao giúp biểu hiện ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp của tín hiệu thẩm mĩ
Ca dao tình yêu đôi lứa
Tín hiệu thuộc hiện tượng tự nhiên
Trang 34Có thể xét biến thể qua thể loại ca dao ở những biểu hiện sau:
Biến thể từ vựng là tên gọi khác của tín hiệu thẩm mĩ được nảy sinh
trong quá trình sử dụng, với ý nghĩa cơ bản không biến đổi Nói cụ thể hơn, biến thể từ vựng là những đơn vị đồng nghĩa, gần nghĩa, cùng trường nghĩa hoặc đồng sở chỉ với tín hiệu thẩm mĩ hằng thể Ví dụ như tín hiệu thẩm mĩ
“núi” trong thực tế sử dụng có thể thay thế bằng: núi, non, hòn, sơn
Biến thể kết hợp là những biến thể nảy sinh trong quá trình sử dụng của
một tín hiệu thẩm mĩ Nó được miêu tả, được cụ thể thêm bởi một số yếu tố phụ trợ cùng xuất hiện trên trục tuyến tính Trong ngôn ngữ, đây là kết quả của tính hình tuyến, cùng một tín hiệu thẩm mĩ nhưng nó có sự biến đổi ít nhiều trong quan hệ với từ ngữ đứng trước và đứng sau Khi xuất hiện trong những tổ hợp khác nhau, tín hiệu ít nhiều biến đổi để tạo nên những tình cảm,
cảm xúc khác nhau Ví dụ trong câu ca dao có tín hiệu mưa sẽ được kết hợp qua các biến thể như: mưa ngâu, mưa mau, như mưa,
Biến thể quan hệ là những biến thể nảy sinh trong sử dụng của một tín hiệu thẩm mĩ Cùng xuất hiện với tín hiệu thẩm mĩ, trong một dòng ca dao, một bài ca dao còn có những tín hiệu khác giữ vai trò bổ sung ý nghĩa cho nó,
đẳng cấu với nó trong một khung ngữ nghĩa chung Ví dụ hai tín hiệu mưa,
nắng trong bài ca dao sau:
“ Lạy trời đừng nắng đừng mưa
Hiu hiu gió thổi mà đưa người về”
Mưa và nắng cùng xuất hiện trong kiểu kết cấu đối xứng chỉ có một bộ
phận ở dòng thơ Có thể nói về các biến thể quan hệ của một tín hiệu thẩm mĩ
có số lượng vô cùng lớn và hết sức phức tạp Bởi vậy chúng tôi chỉ nghiên cứu những trường hợp có vai trò bổ sung ý nghĩa quan trọng đối với từng tín hiệu thẩm mĩ được xét
Như vậy, ở mỗi trường nghĩa thuộc hiện tượng tự nhiên và vật thể nhân tạo đều có các tín hiệu thẩm mĩ có tần số xuất hiện và giá trị thẩm mĩ không
Trang 35giống nhau Ở mỗi trường nghĩa, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những tín hiệu thẩm mĩ có tần số cao Chúng được coi là những tín hiệu thẩm mĩ cơ bản quan trọng đại diện cho một trường nghĩa trong ca dao tình yêu đôi lứa Sau đây là biểu hiện của các tín hiệu thẩm mĩ điển hình của mỗi trường nghĩa
2.1 Một số tín hiệu thuộc hiện tượng tự nhiên
Ca dao, dân ca Việt Nam không chỉ chứa đựng những nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách của dân tộc ta, nó còn phản ánh các quá trình biểu diễn của lịch sử xã hội và kho tài liệu phong phú về phong tục tập quán, là tiếng hát trữ tình của tình yêu lứa đôi
Từ thuở xa xưa, con người đã sống trong mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên Họ phải đối phó, tận dụng thế giới tự nhiên để sinh tồn, hay mượn những tín hiệu tự nhiên đó để thể hiện tình cảm với nhau Sự tác động qua lại
đó tạo nên nền văn hóa riêng ở từng vùng miền, quá trình này để lại nhiều dấu
ấn trong nếp nghĩ, lối sống Hình ảnh tự nhiên đã đi vào tâm thức ngôn ngữ người Việt với những nội dung biểu hiện phong phú Tìm hiểu các tín hiệu thẩm mĩ thuộc tự nhiên trong ca dao, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó Từ khảo sát, chúng tôi thu đượcmột số các tín hiệu thuộc tự nhiên
Các tín hiệu thuộc trường nghĩa tự nhiên bao gồm: bão, biển, cát, đá, đất,
gió, mây, mưa, nắng, núi, nước, rừng, sao, sóng, sông, suối, sương, trăng, trời,
Các tín hiệu thuộc trường nghĩa thực vật bao gồm: bầu, bèo, bí, cam, cành,
cau, cây, cỏ, dừa, hoa, lá, lúa, mai, măng, rau, rơm, sen, trầu, tre, trúc, tùng,
Trong nhóm này, một số tín hiệu tự nhiên có tần số xuất hiện cao và
được dùng với nghĩa biểu trưng rất phong phú, đó là các tín hiệu: cỏ, gió,
chim, hoa, lúa, mưa, nắng, núi, nước, sông, Trong khuôn khổ luận văn,
chúng tôi lựa chọn khảo sát ba tín hiệu: mưa, nắng, gió Đây là những tín hiệu
tự nhiên có tần số xuất hiện cao trong ca dao tình yêu đôi lứa, có sức ảnh hưởng, tác động lớn đến đời sống con người
Trang 36Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê tần số xuất hiện, tỷ lệ phân bố của
các tín hiệu tự nhiên mưa, nắng, gió trong bảng sau Kết quả khảo sát nhƣ sau:
Bảng 2.1: Tần số xuất hiện của các tín hiệu “mƣa, nắng, gió” trong ca dao
STT Tín hiệu
thẩm mĩ
Bài ca dao tình yêu đôi lứa Tổng số lƣợt từ
Tín hiệu thẩm mĩ
có trong ca dao tình yêu đôi lứa
Số bài Tỉ lệ
(%) Lƣợt từ Tỉ lệ
(%) Tần suất
Tỉ lệ (%)
2.1.1.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu “gió” trong ca dao tình yêu đôi lứa
Trong ca dao tình yêu đôi lứa, tín hiệu gió đƣợc cụ thể hóa bằng các tên
gọi – biến thể từ vựng sau:
- Gió đứng một mình (1 đơn vị - 289 lần): gió
- Gió đƣợc thay thế bằng các loại gió cụ thể (13 đơn vị - 56 lần): gió đông,
gió nam, gió bấc, gió mùa, gió đông nam, gió tây, gió chiều, gió thu, gió mai, gió heo may, gió may, gió nồm, gió xuân, gió bắc, gió thu, gió đông nồm
- Gió kết hợp với danh từ chỉ các thực thể khác (6 đơn vị - 14 lần):
trăng gió, gió trăng, mưa gió, dông gió, gió ngàn, gió mưa
- Gió nằm trong tổ hợp danh từ chung (1 đơn vị - 2 lần): ngọn gió
- Gió xuất hiện trong các thành ngữ (5 đơn vị - 8 lần): mưa hòa gió
thuận, gió mát trăng thanh, dãi gió mưa dầu, gió dập mưa vùi, mưa thuận gió đều, thuận buồm xuôi gió
Trang 37- Gió xuất hiện trong các điển tích (1 đơn vị - 1 lần): mưa Sở gió Tần
Ta có bảng thống kê các biến thể từ vựng của tín hiệu gió trong ca dao
tình yêu đôi lứa nhƣ sau:
Bảng 2.2: Các biến thể từ vựng của tín hiệu “gió” trong ca dao
13 đơn vị - 56 lần gió đông (21 lần), gió nam (11 lần), gió
bấc (5 lần), gió mùa (3 lần), gió đông nam (3 lần), gió tây (2 lần), gió chiều
(2 lần), gió thu (2 lần), gió mai (1 lần),
gió heo may (1 lần), gió may (1 lần), gió nồm (1 lần), gió xuân (1lần), gió bắc (1 lần), gió thu (2 lần), gió đông nồm (1 lần)
Gió kết hợp với danh
từ chỉ các thực thể
khác
6 đơn vị - 14 lần trăng gió (4 lần), gió trăng (4 lần),
mưa gió (3 lần), dông gió (1 lần), gió ngàn (1 lần), gió mưa (1 lần)
trăng thanh (2 lần), dãi gió mưa dầu (1
lần), gió dập mưa vùi (1 lần), mưa
thuận gió đều (1 lần), thuận buồm xuôi gió ( 1 lần)
Gió xuất hiện trong
các điển tích
Theo thống kê, dựa vào (bảng 2.1) và (bảng 2.2), tín hiệu gió đƣợc cụ
thể bằng 81 biến thể từ vựng Dựa vào ý nghĩa khái quát, chúng tôi đã phân
Trang 38lập những biến thể từ vựng này thành 6 tiểu nhóm trên
Có thể thấy tín hiệu gió không xuất hiện một cách đơn điệu Gió có thể được thay thế bằng các loại gió cụ thể như gió tây, gió xuân, gió đông, gió
nam, gió heo may trong những câu ca dao nghĩa tình:
“Anh mong cho cả gió đông
Cho thuyền tới bến, anh trông thấy nàng”
“Ai làm bầu bí đứt dây
Chàng nam thiếp bắc, gió tây lạnh lùng”
Khi gió kết hợp với các danh từ chỉ thực thể khác như: gió mưa, gió
trăng, giớ sương,
“Ra về lòng dạ nhớ thương
Cho mình quên cả gió sương lạnh lùng”
“Tay bắt tay than thở bậu ơi
Bạn có chồng xin nhớ những lời gió trăng”
Gió sương, gió trăng trong những câu ca dao trên không còn đơn thuần
là những hiện tượng tự nhiên của đất trời, mà chính là chứng nhân trải trên bước đường đời của con người
Gió cũng có xuất hiện trong điển tích:
“Trót lời hẹn với lang quân
Dẫu rằng mưa Sở, gió Tần cũng đi
Yêu nhau sớm đợi tối chờ
Dẫu rằng dãi gió dầu mưa mặc lòng.”
Có thể thấy hệ thống biến thể từ vựng phong phú của tín hiệu gió đã mở
ra những ranh giới quan trọng trong quá trình phân tích tín hiệu Đây sẽ là bước đệm để tiếp tục tiến hành những bước phân tích tín hiệu tiếp sau
2.1.1.2 Các biến thể kết hợp của tín hiệu “gió” trong ca dao tình yêu đôi lứa
Đối với các biến thể kết hợp của tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi lựa chọn cách phân chia vị từ của Cao Xuân Hạo Một cách phân loại khá chi tiết và
Trang 39đầy đủ có sức bao quát rộng, để có thể đáp ứng nhu cầu định vị hóa các
nhóm đối tượng Theo mô hình của Cao Xuân Hạo đưa ra là “mô hình phân
loại sự tình” [20, tr.432,433] Nhưng vì lõi của sự tình là khung vị từ, chính
tính chất của vị từ quyết định tính chất của sự tình, nên có thể áp dụng vào phân loại vị từ Căn cứ vào tiêu chí: [+/- Động], [+/- Chú ý], [+/- Tồn tại], tác giả đã chia thành ba loại nghĩa biểu hiện: câu tồn tại, câu chỉ sự tình động hay biến cố, câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình Từ các kiểu nghĩa biểu hiện này có thể suy ra cách phân chia vị từ trong tiếng Việt của tác giả Theo
đó, vị từ trong tiếng Việt sẽ được chia thành ba loại: vị từ tồn tại, vị từ chỉ biến cố và vị từ chỉ tình hình
Trong đó, vị từ tồn tại được chia thành hai loại nhỏ hơn: vị từ tồn tại [+định vị] và vị từ tồn tại [-định vị]
Vị từ biến cố có thể phân chia thành các bậc khác nhau với những tiêu chí khác nhau Dựa vào tiêu chí [+-chú ý], ta có sự phân loại thành vị từ hành động và vị từ quá trình Dựa vào tiêu chí [+-chuyển tác], ta lại có những tiểu loại vị từ nhỏ hơn Một hành động hay quá trình nếu không có tác động đến đối tượng nào thì chỉ là một hành động hay quá tình vô tác, còn nếu có thể tác động đến một đối tượng nào đó thì là chuyển tác
Trong các vị từ chỉ tình hình, có thể phân biệt vị từ trạng thái và vị từ chỉ quan hệ.Vị từ chỉ trạng thái là những vị từ chỉ tính chất (đặc trưng trường tồn)
và tình trạng (trạng thái nhất thời của đối tượng) Tùy theo tính chất thể chất hay tinh thần, vô sinh hay hữu sinh, hay nói cách khác là động vật và bất động vật mà ta có thể chia thành các tiểu loại vị từ nhỏ hơn
Áp dụng cách phân chia trên vào sự phân bố các vị từ kết hợp với tín
hiệu gió trong ca dao tình yêu đôi lứa, ta có bảng phân loại sau:
Trang 40Bảng 2.3: Các biến thể kết hợp của tín hiệu “gió” trong ca dao
Các vị từ kết hợp của “gió” Đơn vị biến thể
1 đơn vị - 1 lần khuyên
Vị từ hành động [-chuyển tác]
2 đơn vị - 3 lần tưởng (2 lần), trông (1
lần)
Vị từ quá trình [+chuyển tác]
3 đơn vị - 70 lần đưa (50 lần), thổi (13
lần), rung (7 lần)
Vị từ quá trình [-chuyển tác]
2 đơn vị - 20 lần đưa (9 lần), bay (11 lần)
Vị từ chỉ
tình hình
Vị từ trạng thái – tính chất thể chất
2 đơn vị - 27 lần mát ( 18 lần), lạnh (9
lần)
Vị từ trạng thái – tính chất tinh thần
2 đơn vị - 3 lần lạnh lụng (1 lần), ngọt
ngào (2 lần)
Vị từ trạng thái – tình trạng thể chất
0 đơn vị
Vị từ trạng thái –tình trạng tinh thầ
1 đơn vị - 1 lần não nề (1 lần)
Vị từ quan hệ 3 đơn vị - 6 lần Như (1 lần), vì (3 lần),
bởi (2 lần)
Nhìn vào bảng thống kê trên, có thể thấy trong số các vị từ đi kèm với
tín hiệu gió, chiếm ưu thế lớn nhất là vị từ quá trình [+chuyển tác] Khi kết hợp với vị từ quá trình chuyển tác, gió chủ yếu đóng vai trò chủ thể của lực tác động Gió thường xuất hiện trong thế chủ động, tác động lên đối tượng
Điều này có thể giải mã cho những giá trị biểu trưng của các hiện tượng tự nhiên khi đi vào ca dao (được đề cập ở chương 3 luận văn)