Từ đầu tới giờ, ta đã mô trạng thái của hạt lượng tử bởi hàm trạng thái chỉ phụ thuộc biến số không gian và biến số thời gian.. Các sự kiện thực nghiệm chứng tỏ rằng có những loại hạt mà
Trang 1CƠ HỌC LƯỢNG TỬ
Nguyễn Văn Khiêm
Trang 2BÀI 15: SPIN
Trang 3Từ đầu tới giờ, ta đã mô trạng thái của hạt lượng tử bởi hàm trạng thái chỉ phụ thuộc biến số không gian và biến số thời gian
Các sự kiện thực nghiệm chứng tỏ rằng có những loại hạt mà trạng thái của nó không mô tả được một cách đầy đủ bằng loại hàm trạng thaí như vậy
ý nghĩa và nội dung của việc mở rộng như vậy sẽ được xem xét
và cụ thể hoá dần.
Do đó, cần xét cả loại hàm trạng thái phụ thuộc một vài “biến
số lạ”, phi không gian và phi thời gian
Trang 41.Trường hợp một biến số lạ với hai giá trị
Trường hợp quan trọng nhất của việc mở rộng như đã nhắc đến
là trường hợp hàm trạng thái phụ thuộc một biến số lạ s, và biến
số lạ này chỉ nhận hai giá trị khác nhau
Có thể hình dung hai giá trị này như hai điểm của một chiều không
gian vô hình Như vậy, hàm trạng thái có dạng:
( , , , ) (15.1)x y z s
ψ ψ=
(nếu bỏ qua sự phụ thuộc vào thời gian)
Trang 5Ta nêu ra yêu cầu sau:
Xác suất để hạt nằm trong ở trong vùng không gian A và trong
z y x z
Trang 6Chú ý rằng mỗi hàm f(s) với s chỉ nhận hai giá trị (s1 và s2) có
một hàm
),,
) , ,
( )
, ,
(
z y x
z y
x z
Trang 72 Toán tử spin
Giả sử
được gọi là toán tử spin, nếu các thành phần này thoa mãn
các hệ thức giao hoán sau;
Trang 8y x
z
x z
y
s i s
s
s i s
s
s i s
s
ˆ ˆ
, ˆ
ˆ ˆ
, ˆ
ˆ ˆ
, ˆ
(15.4)
Dễ dàng thấy (15.4) giống hệt các hệ thức giao hoán đối với các
thành phần của moment quỹ đạo đã xét trong bài 11
Chú ý rằng các chỉ số x, y, z ở ba toán tử này không nói lên rằng
chúng tác dụng lên các biến số x, y, z
ý nghĩa của các chỉ số sẽ được nêu sau
Trang 9Do sự “đồng dạng” của các toán tử sˆx, sˆy ,sˆz
TA CHẤP NHẬN MỘT TÍNH CHẤT CỦA sˆx, sˆy ,sˆz là: nếu toán tử
2 2
2
2
z y
x s s s
là các ma trận vuông cáp hai nên mỗi toán tử chỉ nhận cùng
lắm hai giá trị khác nhau
Trang 10Nhưng nếu l là số nguyên thi hoặc dãy (15.7) chỉ có một số (khi l = 0), hoặc có ít nhất ba số (l ≤ 0)
Dễ chứng tỏ rằng trường hợp l = 0 thực chất quy về trường hợp
hàm trạng thái không chứa biến số lạ (biến số lạ này từ đây ta gọi
gọi là biến số spin) nên ta sẽ không xét trường hợp này
Trang 113 Biểu diễn toán tử spin qua các ma trận Pauli
y y
x x
s s s
σ σ σ
ˆ 2 ˆ
ˆ 2 ˆ
ˆ 2 ˆ
x
y x
z
x z
y
i i
i
σ σ
σ
σ σ
σ
σ σ
σ
ˆ ˆ
, ˆ
ˆ ˆ
, ˆ
ˆ ˆ
, ˆ
2 2
Trang 12Có nhiều cách chọn các ma trận như vậy, và chúng mô tả cùng một
sự kiện vật lý Theo đề xuất của W Pauli, ta chọn:
0
13
1
01
i
i
σˆ (15.12)
Trang 13Bạn đọc hãy tự kiểm tra rằng, với cách chọn như trên thi
z y
Chú ý rằng, nếu mỗi hinh chiếu của toán tử spin có thể nhận các giá trị
từ dãy (15.7) thi ta nói hạt có spin bằng l Trong trường hợp ta đang
Trang 144 Electron với tư cách là hạt có spin 1/2.
Những điều ta vừa trình bày ở trên sẽ không có nội dungvật lý nếu không có loại hạt nào được mô tả bởi hàm trạng thái với toán tử spin
như trên
Rất may là có tồn tại những hạt như vậy;
đó là các hạt electron, proton và neutron
Do các proton và neutron còn tham gia vào một loại tương tác đặc biệt, dó là tương tác mạnh (tương tác giữ cho hạt nhân bền vững) nên
việc mô tả chúng rất phức tạp
Còn đối với electron thì việc mô tả chúng bằng các hàm trạng thái
Trang 15Điều này cũng có nghĩa là loại hàm trạng thái mà ta đã xét ở các bài trước (không chứa biến số spin) không thể mô tả đầy đủ electron,
nhất là trong tương tác với từ trường
Việc khẳng định bằng thực nghiệm sự tồn tại spin của electron ngày nay
không còn là vấn đề gây tranh cãi nữa
Tuy vậy, cũng cần nói về một trong những thí nghiệm đơn giản và
nổi tiếng dẫn đến khái niệm spin: thí nghiệm Stern-Gerlach
Hai ông này đã cho một chùm mguyên tử hydrogen, tất cả đều
có cùng mức năng lượng và đề ở trạng thái s, tức là có moment
quỹ đạo bằng 0, đi qua một từ trường dạng đặc biệt
Hai ông này đã cho một chùm mguyên tử hydrogen, tất cả đều
có cùng mức năng lượng và đề ở trạng thái s, tức là có moment
quỹ đạo bằng 0, đi qua một từ trường dạng đặc biệt
Trang 16Kết quả dự đoán là chúng phải đi theo những quỹ đạo như nhau
Tuy nhiên, trên thực tế thì chúng bị tách thành hai chùm, giống như là chúng có hai giá trị moment từ khác nhau, tức là có hai giá trị moment
xung lượng khác nhau
Diều này cùng rất nhiều sự kiện thực nghiệm khác đã dẫn G Uhlenbeck
và S Goudsmit tới gia thuyết là electron có moment riêng, không liên quan gi tới chuyển động không gian, và hinh chiếu của nó trên một trục bất kỳ trong không gian đều nhận đúng hai giá trị
2
±
Trang 17Moment riêng đó chính là đại lượng sˆ mà ta vừa xét ở trên, và như vậy,
z y
x s s
Việc một toán tử tác dụng lên biến số phi không gian lại có hình
chiếu trên các trục không gian không có gì là lạ
Nếu nó không thể hiện tác dụng trong không gian ba chiều thì không
có gì để nhận biết được nó, và sự tồn tại của biến số phi không gian cũng trở nên vô nghĩa
Trang 185 Moment từ riêng
Kèm theo moment cơ học riêng (spin), hạt cũng có moment từ riêng Thực nghiệm cho thấy hai loại moment riêng này liên hệ với nhau bởi công thức:
s c
Như vậy, giá trị tuyệt đối của hệ số tỷ lệ giữa moment cơ học
riêng và moment từ riêng là bằng hai lần hệ số tương ứng trong
trường hợp moment quỹ đạo
Điều này một lần nữa cho thấy không thể giải thích sự tồn tại của spin như hệ quả của chuyển động không gian, cho dù đó là chuyển động quỹ
đạo hay sự quay chung quanh một trục riêng
Trang 19Chính sự tồn tại của một trục quay riêng như vậy cũng vô nghĩa, vì
electron không có vị trí và hình dạng xác định
Như vậy, cần thừa nhận rằng spin là đặc trưng riêng của một loại hạt, giống như khối lượng hoặc điện tích, chứ không phải do tương tác gây
ra
Tuy nhiên, nó thể hiện qua tương tác và năng lượng tương tác phụ
thuộc vào cả các yếu tố bên ngoài
Trang 20e H
s c
e H
mˆ. ˆ ˆ. ˆ ˆ. ˆ σˆ . ˆ σˆ . ˆ σˆ . ˆ
µ
σ µ
5 Phương trình Pauli
và điện tích là q chuyển động trong điện từ trường cho bởi thế vô
Trang 21A c
q p
q p
q qV
A c
q p
(trong đó σ = σˆ ).
Trang 22Đối với electron, (15.17) trở thành
c
e eV
A c
e p
e eV
A c
e p
PHƯƠNG TRÌNH (15.19) GỌI LÀ PHƯƠNG TRÌNH PAULI.
Trang 23Thí nghiệm Stern-Gerlach về sự tách chùm nguyên tử hydrrogen
Cả hai sự kiện này đều xảy ra trước khi cơ học lượng tử chính thức được xây dựng
Năm 1927, Wolfgang Pauli, nhà vật lý lỗi lạc người Thuỵ sĩ
(1900-1958) đã phát biểu lại giả thuyết spin theo ngôn ngữ cơ học
lượng tử và biểu diễn toán tử spin qua các ma trận mang tên ông
Wolfgang Pauli cũng là người đề xuất nguyên lý cấm (hay nguyên
lý Pauli), theo đó hai hạt có spin bán nguyên không thể tồn tại trong
cùng một trạng thái
Trang 24Nguyên lý này cũng được nêu ra trước khi có cơ học lượng tử
(cuối năm 1924) và nó đã đem lại cho Wolfgang Pauli giải
thưởng Nobel vào năm 1945
Wolfgnag Pauli còn là tác giả của một loạt công trình quan trọng khác trong Vật lý lượng tử
Trang 284