HỌC VIỆN TƯ PHÁP Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH Mã hồ sơ LS HC 12 Diễn án lần 2 Ngày diễn GVHD Thầy Họ.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH
Mã hồ sơ : LS.HC 12
Diễn án lần : 2
Ngày diễn :
GVHD : Thầy ………
Họ và tên :
Ngày sinh :
Lớp :
Số báo danh :
Nhóm :
Trang 2MỤC LỤC
I NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN 2
1 Nội dung vụ án 2
2 Đánh giá điều kiện khởi kiện 3
II.VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG 4
1 Văn bản luật hình thức 4
2 Văn bản luật nội dung 4
III KẾ HOẠCH XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA 5
IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI KHỞI KIỆN 6
V NHẬN XÉT BUỔI DIỄN ÁN 9
A Nhận xét về vai diễn (hình thức, nội dung) 9
B Nhận xét chung về buổi diễn án 12
Trang 3I NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN
1 Nội dung vụ án:
Bà Nguyễn Thị Tuyết (sinh năm 1982) là chủ hộ kinh doanh cá thể kinh doanh trong lĩnh vực “dịch vụ nhà trọ”, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể số 39A 8005684 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp lần đầu ngày 19 tháng 11 năm 2012
Vào ngày 23/12/2013, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và công an tỉnh G.L đã tiến hành kiểm tra đối với nhà trọ Hoàng Lan do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ Đoàn kiểm tra phát hiện phòng 11 nhà trọ Hoàng Lan có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy đang ở chung phòng xem ti vi; phòng
số 11 chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành Từ đó, đoàn thanh tra kết luận chủ cơ sở nhà trọ hoàng lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên và đã lập biên bản
vi phạm hành chính số 11/BB-VPCH
Ngày 29/12/2013, Bà Tuyết có bản tường trình đề nghị Thanh tra Sở bỏ qua và cam kết không tái phạm
Ngày 09/3/2014, Thanh tra sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm việc với bà Nguyễn Thị Tuyết và có kết luận: bà Tuyết không bổ sung được các giấy tờ cần thiết để chứng minh mình không vi phạm, đồng thời Bà Tuyết cũng đã nhận khuyết điểm và xin chịu mức phạt với khung thấp nhất
Ngày 10/3/2014 Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC xử phạt bà
Nguyễn Thị Tuyết số tiền 15.000.000 đồng theo khoản 1 Điều 25 Nghị định
167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ
Trang 4Sau khi phát hiện quyết định số 23/QĐ-XPHC có một số sai sót Thanh tra sở đã có Công văn số 02/2014/CV-TTr ngày 18/3/2014 gửi bà Nguyễn Thị tuyết và Kho bạc nhà nước tỉnh đính chính lại Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014
Ngày 24/3/2014 bà Nguyễn Thị Tuyết gửi Đơn khiếu nại đến Chánh thanh tra sở, Giám đốc Sở VH-TT-DL và Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ công an tỉnh G.L với nội dung không đồng ý với mức phạt trong quyết định
Ngày 07/4/2014, Sở VH-TT-DL có Công văn số 167/CV-VHTDL trả lời đơn khiếu nại ngày 24/3/2014 của bà Nguyễn Thị Tuyết
Ngày 11/4/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết tiếp tục có Đơn khiếu nại của gửi Chủ tịch tỉnh G.L, Giám đốc sở VH-TT-DL tỉnh G.L, Giám đốc công an tỉnh G.L
Ngày 20/4/2014, Thanh tra sở ra Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính của bà Tuyết ngày 24/3/2014, theo đó giữ nguyên quyết định số 23/QĐ-XPHC
Không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại nói trên, ngày 02/5/2014 bà Tuyết có Đơn khởi kiện yêu cầu hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đến Tòa án Nhân dân tỉnh G.L
2 Đánh giá điều kiện khởi kiện
a) Đối tượng khởi kiện: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014
- Căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật TTHC, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC là quyết định hành chính của Thanh tra trong quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao, du lịch là đối tượng khởi kiện
b) Yêu cầu khởi kiện:
Trang 5- Bà Tuyết Yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
c) Thẩm quyền giải quyết của tòa án:
- Căn cứ khoản 3 Điều 32 Luật TTHC 2015 thì bà Tuyết khởi kiện quyết định hành chính Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L là người có thẩm quyền cơ quan nhà nước cấp tỉnh nên thẩm quyền giải quyết thuộc UBND TP.H (tòa án trên cùng phạm vi địa giới hành chính với UBND)
d) Các đương sự trong vụ kiện
- Người khởi kiện: Căn cứ quy định tại khoản 8 điều 3 Luật tố tụng
hành chính và nội dung hồ sơ thì người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết, là người có quyền và lợi ích bị quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L xâm hại
- Người bị kiện: Căn cứ quy định tại khoản 9 điều 3 Luật tố tụng hành
chính và hồ sơ vụ án thì người bị kiện là Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
e) Thời hiệu khởi kiện
- Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính, thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
- Theo hồ sơ, Bà Tuyết nhận được Quyết định số 23/QĐ-XPHC vào ngày 17/3/2014, như vậy, thời hiệu khởi kiện của Bà Tuyết là 01 năm
kể từ ngày 17/3/2014 đến ngày 17/3/2015 Bà Tuyết làm đơn khởi kiện ghi ngày Đơn khởi kiện ngày 02/5/2014 và Ngày 13/5/2014, Tòa Hành
Trang 6chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm
số 01/2014/TL-HCST là phù hợp với quy định của pháp luật
II VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG
1 Văn bản luật hình thức
- Luật tố tụng hành chính năm 2015;
- Luật khiếu nại năm 2011;
- Nghị quyết 104/2015/QH13 về thi hành luật Tố tụng hành chính
2 Văn bản luật nội dung
- Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012;
- Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 07 năm 2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Pháp lệnh phòng chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003;
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình;
- Nghị định Số 73/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 07 năm 2010 quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn
xã hội;
- Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 09 năm 2009 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện;
- Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 quy định cụ thể điều kiện
về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện;
Trang 7- Nghị định số 71/2009/NĐ-CP 28 tháng 08 năm 2009 về tổ chức và hoạt động của thanh tra văn hóa, thể thao và du lịch;
- Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 06 tháng
6 năm 2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở văn hoá, thể thao và du lịch thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phòng văn hoá và thông tin thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện;
- Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
III KẾ HOẠCH XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA
1 Hỏi người bị kiện
- Biên bản vi phạm hành chính đối với nhà trọ Hoàng Lan được Đoàn kiểm tra Sở VH-TT-DL lập vào nào?
- Đoàn kiểm tra căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào để kết luận
bà Tuyết có hành vi vi phạm?
- Người bị kiện cho HĐXX biết Nghị định 158/2013/NĐ-CP có hiệu lực ngày tháng năm nào không?
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP được ban hành ngày nào?
- Việc gia hạn thời gian ban hành Quyết định có được thực hiện bằng văn bản hay không?
- Đoàn kiểm tra dựa vào căn cứ pháp luật nào để ban hành Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP
- Nghị định 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực ngày nào?
- Ông Thường, bà Lành, ông Phan, bà Thùy có thừa nhận họ có hành vi mua bán dâm tại nhà trọ Hoàng Lan không?
Trang 8- Theo Ông (bà), Chánh Thanh tra sở văn hóa thể thao du lịch có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP không?
2 Hỏi người khởi kiện
- Bà cho Hội đồng xét xử biết bà nhận được Quyết định số 23/QĐ-XPHC vào thời gian nào?
- Công văn số 02/2014/CV-TTr đính chính Quyết định số 23/QĐ-XPHC
và Quyết định 23/QĐ-XPHC đã chỉnh sửa vào thời gian nào? Bà nhận được vào thời điểm nào?
- Vì sao bà không đồng ý với quyết định xử phạt?
- Từ khi lập biên bản vi phạm hành chính cho đến khi ra quyết định xử phạt, Sở VH – TT – DL có mời bà lên làm việc không?
IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI KHỞI KIỆN
Kính thưa Hội đồng xét xử;
Thưa đại diện viện kiểm sát;
Thưa Luật sư đồng nghiệp!
Tôi tên là …… , thuộc Văn phòng luật sư PT và Cộng sự, thuộc đoàn Luật sư TP HCM Tôi tham gia phiên tòa này với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện như sau:
Qua phần trình bày của phía người khởi kiện, người bị kiện và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án ngày hôm nay Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung tranh chấp trong vụ án này
Nội dung người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là tuyên hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa Thể thao và
Du lịch tỉnh G.L (sau đây gọi tắt là Quyết định 23)
Trang 9Tôi cho rằng yêu cầu như trên của phía người khởi kiện là hoàn toàn có
cơ cở chấp nhận bởi lẽ Quyết định 23 ban hành không đúng với quy định của pháp luật thể hiện ở 04 nội dung chính sau đây:
- Quyết định số 23 được ban hành đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt
vi phạm hành chính
- Hành vi vi phạm và hành vi bị xử phạt là không đồng nhất với nhau,
bà Tuyết không có vi phạm theo như nội dung Quyết định xử phạt
- Quyết định 23 được ban hành bởi người không có thẩm quyền
- Thời gian bàn giao quyết định 23 là trái pháp luật
Sau tôi tôi trình bày phân tích cụ thể, chi tiết để chứng minh các nội dung như trên
Thứ nhất: Quyết định số 23 được ban hành đã hết thời hạn ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính.
Căn cứ theo điều Điều 66 Luật xử lý VPHC quy định về thời hạn ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính:
1 Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản
vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.
2 Có thể gia hạn nhưng không quá 30 ngày
Căn cứ theo quy định pháp luật như trên thì thời hạn tối đa để Chánh thanh tra Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (Chánh thanh tra) ra Quyết định xử phạt đối với bà Tuyết (kể cả thời gian gia hạn) là 60 ngày
Thế nhưng bà Tuyết bị lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC vào ngày 23/12/2013 Căn cứ vào biên bản vi phạm này đến ngày 10/3/2014 bà Tuyết bị ban hành Quyết định số 23 xử phạt về hành vi vi phạm Như vậy kể từ ngày bà Tuyết bị lập biên bản vi phạm đến ngày bị ra quyết định xử phạt là 77 ngày
Trang 10Từ đó chứng minh rằng Chánh thanh tra ra Quyết định 23 xử phạt đối với
bà Tuyết đã là quá 60 ngày theo quy định tại Điều 66 Luật xử lý VPHC Quyết định số 23 đã vi phạm pháp luật về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Thứ hai: Hành vi vi phạm và hành vi bị xử phạt là không đồng nhất với nhau, bà Tuyết không có vi phạm theo như nội dung Quyết định xử phạt.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 quy định :“ Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”
Căn cứ theo biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC vào ngày
23/12/2013 thì bà Tuyết có hành vi vi phạm là “ tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy đăng ký kế hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng
số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy đăng ký kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi; tại thời điểm kiểm tra tại phòng số 11 chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành”.
Nhưng tại Quyết định số 23 lại ghi chủ nhà trọ Hoàng Mai có hành vi vi
phạm hành chính là “ thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”, để áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày
12/11/2013 của Chính phủ
Khoản 1 Điều 25 NĐ 167 quy định: “Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến
20.000.000 đồng đối với người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở cơ sở do mình quản lý”, căn cứ vào quy định này Chánh thanh tra đã ban hành quyết định số 23 xử
phạt bà Tuyết 15.000.000 đồng
Như vậy, hành vi vi phạm hành chính trong Biên bản vi phạm hành chính
và Quyết định xử phạt hành chính là không thống nhất Căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì không thể
xử phạt nếu không có hành vi vi phạm, do đó căn cứ và áp dụng pháp luật để
Trang 11xác định hành vi vi phạm hành chính và xử phạt đối với bà Tuyết theo như Quyết định số 23 là hoàn toàn chưa phù hợp
Mặc khác, qua kiểm tra phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng nhưng chính bản thân ông Thường tường trình cho biết ông Thường đang công tác tại Trung đoàn X và bà Lành là vợ chồng với nhau, ngày kiểm tra phát hiện là ngày
bà Lành xuống thăm ông Thường nên 02 người thuê nhà nghỉ để quan hệ với nhau là sự tự nguyện, hợp pháp của vợ chồng ông Thường, bà Lành, không có
sự mua bán dâm xảy ra ở đây
Đồng thời theo quy định tại khoản 5 Điều 3 pháp lệnh phòng chống mại
dâm quy định: “ tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc mua dâm, bán dâm” Phía người bị kiện không chứng minh được chủ
thể nào là người tổ chức, chủ thể nào bán dâm, chủ thể nào mua dâm…cho nên kết luận cho rằng chủ nhà trọ Hoàng Lan tạo điều kiện để tổ chức hoạt động mại dâm là chưa có căn cứ
Trường hợp qua kiểm tra phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy đăng ký kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi Ông Văn trình bày ông Văn và bà Thùy đã là bạn nhau từ trước, đã tổ chức đám hỏi nhưng chưa cưới, bà Thùy đang mang bầu Ông Văn, bà Thùy đến thăm nhau, thuê phòng trọ xem tivi, để nghỉ ngơi là chuyện bình thường, không vi phạm pháp luật Do đó nếu cho rằng chủ nhà trọ Hoàng Lan tạo điều kiện để tổ chức hoạt động mại dâm cũng là chưa có căn cứ
Trong trường hợp này chủ nhà trọ Hoàng Lan chỉ có hành vi vi phạm là
“không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành” nhưng hành vi vi phạm này bà Tuyết không bị xử phạt trong Quyết định số 23
Như vậy Quyết định số 23 xử phạt đối với bà Tuyết là “ thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” là hoàn toàn không đúng
sự thật, không có cơ sở, không có căn cứ