1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử giáo dục việt nam

222 14 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử giáo dục Việt Nam
Tác giả Bùi Minh Hiền, Nguyễn Quốc Trị
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử giáo dục
Thể loại Sách giáo trình
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 7,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Tư tưởng chủ đạo của nền giáo dục phong kiến Việt Nam (0)
  • 3. Hệ thống tổ chức của nền giáo dục phong kiến Việt Nam (0)
  • 4. Những hình thức giáo dục ngoài nhà trường (0)
  • 5. Chế độ khoa cử _--. 6. Một số nhà trí thức dân tộc tiêu biểu.........................................-.e 29 Câu hỏi ôn tập Chương T....................................ecseeHeHeeiiiiirrariinee 36 Chương 2: NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM (0)
  • 2. Chính sách giáo dục ngu dân của thực dân Pháp ở Việt Nam (44)
  • 3. Hậu quả của chính sách giáo dục ngu dân (55)
  • 1. Phong trào đấu tranh chống nền giáo dục nô dịch (57)
  • 1. Hoàn cảnh lịCh SỬ.................................. e2 HH ga gr1A11a01xasrsesrke 84 2. Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám đối với việc. xây dựng nền giáo dục mớii................................----s¿-ccscscressrrsasssrriresrrrrrsee 86 3. Những chủ trương đầu tiên của Trung ương Đảng và Chớnh phủ về giỏo dục....................................ô-----csecsssesvsessnrtrsrrssssrree 87 Câu hỏi ôn tập Chương 4..................................-.cecsetienerkriersrrsrrrsrrrrserrsssre 99 Chương 5: GIÁO DỤC TRONG THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 -1954) (85)
  • 1. Hoàn cảnh lịch: s Ử ..................................--- 2 vvd<dvE£2kkseEvSEEkvrvrrrvreoees 100 2. Giáo dục phục vụ kháng chiến kiến quốc (1946 - 1954) (101)
  • 3. Cuộc cải cách giáo dục năm 1950 ................................-..-cccsssseersssssrre 111 4. Bước đầu xây dựng và phát triển giáo dục mầm non (112)
  • 1. Hoàn cảnh lịch sử ơ wee 122 2. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) (123)
  • 3. Cuộc vận động xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ năm 1958.....................................-..cscccsserrsscee 125 (126)
  • 4. Chuyển hướng giáo dục phổ thông trong thời kì chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc (1965 - 1975) (129)
  • 6. Giáo dục đại học...... wees sesvesecessnnsnennssnnnseesesnnecssasscctes 133 7. Giáo dục bổ túc văn hoa (134)
  • 8. Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên ..........................................cseeierree 139 Câu hỏi ôn tập Chương 6 (140)
  • Chương 7: GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐẦU XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRÊN PHẠM VI CẢ NƯỚC (1975 - 1986) 143 1. Hoàn cảnh lịch sử we 143 2. GiGO AUC PNG thOM.eevseeessssssccsssssssscsssssseseccsssssersccsssssscccsssereesesensecssssaseses 146 3. Giáo AUC Dai HOC cessssssssscsesssssssssssssossssessessssssoseseseessssssssssesssseesssensessen 148 4. Giáo dục sư phạm ......................... ơ.....ễ 151 Câu hỏi ôn tập Chương 7 (10)
  • Chương 8: GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI KÌ ĐỔI MỚI (9)
    • 1. Những chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới giáo dục ...............................-..--...-.-csecre 2. Tình hình giáo dục trong những năm đầu thời kì đổi mới (156)
    • 3. Những thành tựu cơ bản và hạn chế của giáo dục trong thời kì đầu đổi mới 171 Câu hỏi ôn tập Chương 8 179 Chương 9: GIÁO DỤC VIỆT NAM (172)
    • 1. Bối cảnh []CH SỬ...................................e--scsscrserkekkxsrrsrenrrsdrieeeksessesee 180 2. Quan điểm chỉ đạo và giải pháp phát triển. giáo dục - đào tạo = „. 182 3. Tình hình giáo dục trong thập niên đầu của thế kỉ XXI (0)

Nội dung

Sơ lược về giáo dục Việt Nam thời kì dựng nước và giữ nước Bằng nhiều thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học như Khảo cổ học, Nhân chủng học, Ngôn ngữ học..., các nhà khoa học đã đi

Chính sách giáo dục ngu dân của thực dân Pháp ở Việt Nam

Đến cuối thế kỷ XIX (1898), thực dân Pháp ở Việt Nam cơ bản đã bình định đất nước, củng cố bộ máy cai trị và bắt tay vào khai thác thuộc địa trên phạm vi toàn quốc Song song với các chính sách bóc lột kinh tế vô cùng tàn khốc và sự đàn áp chính trị, thực dân Pháp còn thi hành một chính sách văn hóa – giáo dục nô dịch nhằm thực hiện âm mưu đồng hóa dân tộc Việt Nam.

Pháp là một đế quốc thực dân già cỗi (Pháp đã từng xâm lược nhiều thuộc địa trên thế giới như Algerie, Tunisia, Maroc, Madagascar, Tay Phi, một phần Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Campuchia) và chỉ đứng sau đế quốc Anh về điện tích thuộc địa Kinh nghiệm lịch sử đã dạy cho chính phủ thực dân Pháp thấy rằng: Tuy đã khuất phục đối phương bằng quân sự, nhưng đó chỉ là biện pháp tạm thời Các dân tộc thuộc địa sẽ không ngoan ngoãn để cho chúng yên bề thống trị nếu không tiếp tục đầu độc, làm suy thoái tỉnh thần phản kháng và trỗi đậy lâu đài của dân tộc đó, nhất là đối với một dân tộc đã có một lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, có một nền văn hoá lâu đời hơn nước Pháp

Năm 1897, Paul Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương Vừa đến

Hà Nội gửi về Paris một bức điện mật ghi lại rằng nhân dân toàn xứ đã bị quật xuống dưới quyền thống trị của chúng ta, nhưng họ chưa thấm nhuần tính chất vĩnh viễn của nền đô hộ Pháp và họ sẵn sàng nắm lấy một thời cơ thuận lợi hay một giây phút yếu đuối của chúng ta để lật đổ ách nặng trên cổ.

Vì lẽ đó, sau khi những tên lính viễn chỉnh đã làm xong nhiệm vụ xâm lăng thì thực dân Pháp đặc biệt chú ý đến chính sách văn hoá giáo đục, xem giáo dục như là một công cụ chắc chắn nhất để thực hiện mưu đồ “chỉnh phục tâm hồn” những người dân thuộc địa Điều này được thể hiện rõ hơn trong tuyên bố ở Hội nghị thuộc địa Paris năm 1906: “Sau khi những tên lính viễn chỉnh đã làm xong nhiệm vụ bình định bằng quân sự thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ”

Chính sách ngu dân có nghĩa là làm cho dân ngu đi để đễ bề cai trị Làm cho dân ngu bằng rượu, bằng thuốc phiện và bằng chính sách giáo dục nô dịch phản động

Song, chính sách ngu dân này được nguy trang dưới những chiêu bài

Chấn hưng nền học của người bản địa thường bị núp dưới những luận điệu lừa bịp, giả danh mang ngọn đuốc văn minh đến để khai phá các dân tộc còn lạc hậu.

Thực chất của chính sách ngu dân là nhằm tấn công trực diện vào nền văn hoá dân tộc, hòng tiêu diệt ý chí độc lập, tự do, truyền thống vẻ vang bất khuất chống xâm lược của nhân dân ta nhằm nô dịch hoá, ngu dốt hoá, ban cùng hoá, gieo rắc tâm lí bệnh hoạn, tự tỉ, khiếp SỢ Uy quyền “Đại Pháp” Mục đích của chính sách này là làm cho các tầng lớp người Việt ngoan ngoãn, cúi đầu phục tùng sự thống trị của thực dân Pháp, thừa nhận sự cai trị của “nước mẹ” bảo hộ, thực hiện mưu đồ đồng hoá lâu dài dân tộc ta

Chính vì vậy mà thực dân Pháp tìm mọi biện pháp để ráo riết thi hành chính sách giáo dục ngu dân

2.2 Các chủ trương mới trong lĩnh vực trường học: Để nhanh chóng áp đặt tư tưởng nô dịch, thực dân Pháp đã nắm bắt công cụ sắc bén là trường học và các trung tâm sinh hoạt văn hóa – giáo dục, tiến hành sửa đổi và cải cách nhằm định hướng giáo dục và các hoạt động văn hóa phục vụ cho mục tiêu ngu dân Các biện pháp của họ mang tính hai mặt: vừa mềm dẻo, ru ngủ, mị dân bằng ngôn ngữ và tuyên truyền, vừa cứng rắn, cưỡng bách và đe dọa bằng vũ lực.

* Thực dân Pháp nắm lấy nhà trường với mục đích:

~ Đào tạo tay sai, nhân viên thực hành, đội ngũ công nhân chuyên nghiệp, thợ lành nghề phục vụ cho yêu cầu khai thác thuộc địa

— Thông qua nhà trường, phổ biến nền văn hoá giáo dục nô dịch phản động, thực hiện mưu đồ đồng hoá rat lâu đài đối với dân tộc ta, đặc biệt là việc đầu độc, đồng hoá thế hệ trẻ

Thông qua việc dạy học và giáo dục trong nhà trường, nhằm làm cho o> thế hệ trẻ hiểu nền văn minh Pháp, hiểu “ngôn ngữ đẹp đế” của nền văn chương và văn hoá Pháp Chúng hi vọng rằng học sinh bản xứ sẽ dần dần Pháp hoá, sùng bái văn chương Pháp, từ đó lãng quên hoặc coi khinh nền văn hoá cỗ truyền của dân tộc và sẽ trở thành người dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc

Như vậy, ở đây ta nhận thấy một mâu thuẫn căn bản: một mặt muốn kìm kẹp và giam hãm dân trong vùng ngu dốt tối tăm để dễ trị, đồng thời hạn chế việc mở trường học; mặt khác do nhu cầu đào tạo tay sai và phô biến văn hóa giáo dục nô dịch, lại buộc phải mở trường Sự đối lập này hé lộ bản chất của chính sách: vừa muốn kiểm soát bằng sự thiếu học, vừa phải thúc đẩy hệ thống giáo dục để phục vụ lợi ích của quyền lực.

Việc mở trường ở thuộc địa không phản ánh thiện tâm khai hoá của thực dân Pháp mà là một âm mưu nô dịch và đồng hoá, thi hành chính sách ngu dân và khai thác kinh tế, tài nguyên Đằng sau đó là nhu cầu đào tạo bộ máy tay sai, nhằm ru ngủ và đầu độc tinh thần thế hệ trẻ, phục vụ lợi ích địa chính trị và kinh tế của chế độ thực dân.

Các loại trường đào tạo tay sai cho bộ máy cai trị của chính quyền thực dân, đào tạo viên chức nhỏ, tuỳ phái, thừa hành được mở ra cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp trong thời kì này

* Đối tượng, thành phần được học:

Toàn quyền Paul Doumer thừa nhận rằng hiện nay các phương tiện giáo dục của chúng ta không thể phổ cập tới toàn thể quần chúng mà chỉ phục vụ một thiểu số, do đó phải có sự lựa chọn kỹ càng Giáo dục phải được coi là một tài sản quý giá, không thể ban phát cho bất kỳ ai mà chỉ dành cho những người được xứng đáng hưởng thụ Hãy chọn những học sinh từ những gia đình lao động và có ý chí vượt trội, ưu tiên con em của những người kiên nhẫn và có thành tích.

Hậu quả của chính sách giáo dục ngu dân

Việc thực hiện chính sách giáo dục nô dịch và ngu dân của thực dân Pháp sau 80 năm đô hộ đã để lại những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hoá tỉnh thần của nhân dân ta Từ một dân tộc có truyền thống hiếu học lâu đời, với quan niệm “nửa bụng chữ bằng một hũ vàng” dù nghèo đói đến đâu ông cha cũng cố gắng cho con em đi học với tâm nguyện “kiếm đăm ba chữ làm người` , thực dân Pháp đã thực hiện một nên giáo dục áp đặt, phụ thuộc vào nền giáo dục Pháp, đặc biệt trong đó là những yếu tô ngăn cản, làm thui chột nền văn hoá và giáo dục truyền thống của Việt Nam Thứ nhất, nền giáo dục Việt Nam mang nhiều hạn chế như tính phổ cập chưa cao (mức độ lan toả chủ yếu ở khu vực thành thị và nơi có ảnh hưởng của chính quyền bảo hộ Pháp; khu vực nông thôn, miền núi vẫn còn là khoảng trống của nền giáo dục) Trên thực tế, vào giai đoạn thịnh vượng nhất của Pháp xâm lược Đông Dương, Việt Nam chỉ có 2.322 trường tiêu học (trong 3 năm đầu giáo dục tiểu học) với trung bình một trường tiểu học cho 3 thôn, và số học sinh chiếm 2% tổng dân số; 638 trường tiểu học (đối với năm cuối cấp tiêu học) với số học sinh chiếm 0,4% tông dan sé; 16 trường cao đẳng sơ cấp (trong 4 năm học sau đại học) với sinh viên chiếm 0,05% dân số; và 6 trường trung học trong đó có 3 trường công lập chỉ chiếm 0,019% dân số Toàn bộ thuộc địa Pháp ở Đông Dương chỉ có 3 trường đại học (Luật, Y Dược và Khoa học) nằm ở Hà Nội với 834 sinh viên, trong đó 628 sinh viên là người Việt NamÌ Trong hệ thống giáo dục, tiếng Pháp là ngôn ngữ chiếm ưu thế và là ngôn ngữ giảng dạy Với một hệ thống giáo dục như vậy, 95% người Việt Nam đã mù chữ” Bên cạnh đó, nội dung giáo dục tuy có tính khai phóng song chưa toàn diện, thậm chí có thời kì còn mang tính áp đặt, phiến điện nhằm thực hiện mưu đồ cai trị của người Pháp tại Việt Nam như Hồ Chí Minh đánh giá: “Sau 80 năm bị thực dân

Phạm Công Nhật (2018) cho rằng vai trò của nước Pháp trong việc thay đổi nền giáo dục truyền thống của Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX là nhân tố then chốt thúc đẩy quá trình hiện đại hóa giáo dục nước ta Nghiên cứu làm rõ cách hệ thống giáo dục Pháp ảnh hưởng tới cấu trúc chương trình, phương pháp dạy học và mục tiêu đào tạo, qua đó làm thay đổi nhận thức và chuẩn mực giáo dục của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc Kết quả là giáo dục Việt Nam dần chuyển sang mô hình giáo dục hiện đại theo khuôn mẫu phương Tây, với tác động sâu rộng tới nhiều tầng lớp xã hội và sự phát triển của hệ thống giáo dục Kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2018 ghi nhận đây là yếu tố then chốt trong quá trình đổi mới nền giáo dục Việt Nam.

“Giao lưu văn hoá Việt — Pháp: Thành tựu va triển vọng, NXB Đại học Sư phạm, tr.ló

? Trần Hồng Quân (Chủ biên) (1995), Năm mươi năm phát triển sự nghiệp giáo duc va đào tạo (1945 — 1995), NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.123

Pháp thuộc dày vò khiến mọi cải cách ở Việt Nam gặp khó khăn; chỉ có lòng yêu nước và khát vọng độc lập của dân tộc mới duy trì tinh thần quật khởi và sức sống của non sông Với sự quản lý của thực dân, giáo dục Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực, có những khuyết điểm và hạn chế ở nhiều khía cạnh khiến quá trình phát triển gặp trở ngại Về cơ bản, nền giáo dục dưới thời thuộc địa chưa thể đại diện cho nguyện vọng của đa số người dân và chưa đáp ứng được mong muốn tiến bộ, độc lập và thịnh vượng của đất nước.

Việt Nam thời bấy giờ

Thứ hai, chính sách giáo dục ngu dân phản động đó cũng là nguồn gốc trực tiếp cho ra đời một lớp người Việt mat hết lương tri, phản dân hại nước Đó chính là một đội ngũ quan lại bản xứ, bọn Việt gian bán nước cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp Chính sách giáo dục ngu dân đó đã phục vụ cho âm mưu chính trị thâm độc “dùng người Việt trị người Việt” — một hậu quả hết sức đau lòng đối với một dân tộc bị xâm lược

Thứ ba, dùng chính sách giáo dục ngu dân làm công cụ nô dịch tính thần, thực dân Pháp đã thực hiện được mưu đồ kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam, ngăn chặn tỉnh thần tự do dân chủ và những tư tưởng tiến bộ, tư đó hòng kìm hãm bước tiến của phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đang dâng lên mạnh mẽ

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2

1 Phân tích mục đích thi hành chính sách giáo dục ngu dân của thực dân Pháp ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

2 Nêu các chủ trương của thực dân Pháp trong việc mở trường học ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc Tại sao thực dân Pháp lại hạn chế tối đa việc mở cỏc trường học bậc cao ở Việt Nam? ơ

3 Phân tích những hậu quả của chính sách giáo dục ngu dân đối với đời sống văn hoá tỉnh thần và sự phát triển của xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

L Hệ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.26 _-

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG NỀN GIÁO DỤC

NÔ DỊCH CỦA THỰC DÂN PHÁP

Phong trào đấu tranh chống nền giáo dục nô dịch

Vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức mở rộng công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất nhằm vơ vét nhân tài, vật lực phục vụ cho cuộc đại chiến thế giới mà Pháp tham chiến Sự kiện này đã làm nổi lên những yếu tố mới của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và tác động sâu sắc đến tình hình các giai cấp xã hội cũng như phong trào cách mạng đang diễn ra trong nước.

Cũng từ cuối thế ki XIX đầu thế ki XX, trào lưu tư tưởng dan chi tư sản từ phương Tây đã được truyền sang Á Đông và ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam Đối với nhiều nước châu Á đang trong thời kì suy thoái của chế độ phong kiến, trào lưu tư tưởng này đã tạo ra một luồng sinh khí mới

Tiếp thu luồng tư tưởng tư sản mới đó, giai cấp phong kiến Nhật Bán đã tư sản hoá đã tiến hành cải cách và kịp thời đưa nước Nhật theo con đường tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư sản dân tộc cùng với các sĩ phu cấp tiến ở Trung Quốc đã dịch khá nhiều sách Au — Mỹ để tuyên truyền và phô biến rộng rãi tư tưởng dân chủ tư sản Trào lưu tư tướng mới hấp dẫn như vậy, nhưng ở Việt Nam giai cấp tư sản dân tộc chưa hình thành, vì vậy tư tưởng đó chỉ có thể thông qua một số sĩ phu tiến bộ trong giai cấp phong kiến để bén rễ vào Việt Nam qua các sách dịch của Trung Quốc Các sĩ phu yêu nước tiến bộ thuộc phái duy tân đã phát động phong trào cứu nước sôi nổi theo khuynh hướng dân chủ tư sản, tiêu biểu là các phong trào Đông Du và Đông kinh nghĩa thục

Về phương diện văn hoá giáo dục, các phong trào vận động cứu nước trên cũng đồng thời là cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại nền giáo dục nô dịch phản động của thực dân Pháp Nếu như ở thời kì trước, phong trào đấu tranh chống nền văn hoá giáo dục nô dịch mới chỉ là những biểu hiện bất hợp pháp, tẩy chay nhà trường của thực dân và tiếp tục mở trường ở nông thôn để các thầy đồ, các sĩ phu dạy đỗ con em của nhân dân thì sang đầu thế ki XX này, cuộc đấu tranh đã tiến lên một bước cao hơn, đi vào tổ chức không những ở trong nước mà lan ra cả ngoài nước Nội dung của phong trào cũng không chỉ dừng lại ở chỗ nhằm bảo vệ một nền giáo dục sẵn có, cổ truyền mà tiến lên nhằm đầu tranh cho một nền giáo dục độc lập, dân chủ

(tư sản) và tiến bộ

Bước sang đầu thế ki XX, trước hoàn cảnh mới của lịch sử, các sĩ phu yêu nước tiến bộ thức thời, những con người trước đây đã được đào tạo trong nền giáo dục cô truyền của dân tộc, những người tiêu biểu cho ý thức và tỉnh thần quật khởi của dân tộc đã giương cao ngọn cờ tìm đường cứu nước Họ nhìn về giai đoạn lịch sử trước, rút kinh nghiệm đấu tranh của các sĩ phu trong phong trào Cần Vương, nhìn đến hiện tại của đất nước, thấy con em của Tổ quốc đang đứng trước nguy cơ bị thực dân đồng hoá, đầu độc, dẫn đến thám hoạ diệt vong Vì vậy, trong phong trào vận động cứu nước giải phóng dân tộc, các sĩ phu yêu nước thấy không thể không chú ý đến việc giáo dục cho nhân dân để “nâng cao dân trí, chấn hưng dân khỉ”, không thể không học tập các nước văn minh tiên tiến trong công cuộc Duy tân đất nước làm cho dân giàu nước mạnh đủ sức chống xâm lược

Sau chiến thắng nước Nga năm 1904 — 1905, Nhật Bản đã trở thành một nước để quốc Sự quật cường của giai cấp phong kiến Nhật Bản tư sản hoá đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tầng lớp sĩ phu yêu nước Việt Nam; họ tôn

Nhật là nước “anh cả da vàng” và mong muốn nhờ Nhật giúp đỡ cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc Một xu hướng mới trỗi dậy là phải Duy tân Các sĩ phu yêu nước đã phát động phong trào Đông du, đi về phương Đông (Nhật Bản) để học tập và tìm đường cứu nước Người lãnh đạo phong trào Đông Du là chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu

Mục đích của phong trào Đông Du là đùng bạo lực đánh đuôi thực dân

Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc Để thực hiện mục đích đó, Phan Bội Châu và những nhà lãnh đạo khác của phong trào đã vạch ra chủ trương đường lối hành động rất rõ ràng: chủ trương chính là dựa vào sự giúp đỡ của Nhật Bản với các nước phương Tây để đánh Pháp Yêu cầu tối đa là sự giúp đỡ toàn diện của Nhật Bản đối với toàn bộ phong trào cách mạng Việt Nam; yêu cầu tối thiểu là nhờ Nhật giúp đỡ vũ khí, lương thực, nhận học sinh Việt Nam du học Sau khi chuẩn bị lực lượng ở bên ngoài, Phan Bội Châu trở về nước liên kết với các lực lượng chống Pháp để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trong toàn quốc Bên cạnh đường lối bạo động, Phan Bội Châu còn chủ trương tiến hành các biện pháp cải cách về kinh tế, văn hoá giáo dục “mở mang dân trí”, “chấn hưng dân khí” để bồi đưỡng nâng cao tỉnh thần cách mạng và trình độ văn hoá cho nhân dân Trong Phan Bội Châu niên biểu đã thể hiện tư tưởng đó như sau: “76j say mê chuyện của Madini về câu nói “Giáo đục và bạo động phải song song tiễn hành” cho nên một mặt tôi khuyến khích học sinh xuất dương, một mặt tôi khuyến khích tư tưởng cũng như hành động cách mạng của nhân dân trong nước”" Điều đó thể hiện rất rõ tư tưởng bạo động cách mạng và sử dụng giáo dục là một công cụ đấu tranh sắc bén cho cuộc đấu tranh giành độc lập của Phan Bội Châu Bên cạnh đường lối hành động như trên, Phan Bội Châu cùng các nhà lãnh đạo khác của phong trào Đông du dự định xây dựng một chế độ quân chủ lập hiến sau khi giành được độc lập theo mô hình của

Nhật Bản Để thực hiện ý đồ đó, Phan Bội Châu đã tôn Cường Để? lên làm hội chủ và lấy danh nghĩa đứng đầu phong trào Đông du

Năm 1905, Phan Bội Châu lên đường sang Nhật để vận động cho du học sinh sang học Từ năm 1905 đến năm 1908, phong trào phát triển rất mạnh mẽ sôi nỗi; số học sinh tăng lên rất nhanh, từ 3 học sinh đầu tiên đã tăng lên gần 200 người (100 người Nam Kì, 50 người Trung Kì, 40 người

Việc học tập của học sinh ngày càng đi vào nên nếp Những thanh niên được chọn đi du học đều là những người “thông minh hiếu học, chịu gian khổ, quen khó nhọc, quyết chí bền gan, không bao giờ thay đổi” Có những thanh niên có những hành động và thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người

! Dẫn theo Nguyễn Văn Kiệm (1982), Lịch sử Việt Nam, Quyễn III, Tập 2, NXB

? Tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Cường Để, nguyên tên là Nguyễn Phúc Dân, cháu đích tôn năm đời của vua Gia Long

? Tài liệu tham khảo Lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, Tập 3, tr.23 chiến sĩ cách mạng như Lương Nhập Tam tự nguyện “thổi sáo ăn xin”, như Đàm Kì Sinh tự nguyện giữ việc bếp nước, rửa bát, quét nhà, giặt chiếu, dé nuôi đồng chí kiếm sống trong điều kiện học tập gặp nhiều gian khổ”1,

Từ nước ngoài, Phan Bội Châu đã viết các tác phẩm, tài liệu tuyên truyền gửi về nước, tiêu biểu như: “Việt Nam vong quốc sử” (1905),

“Hải ngoại huyết thư” (1906) và “Tân Việt Nam” (1907) để khích lệ lòng yêu nước, chí căm thù giặc, đề cập tới nhiều vấn đề có liên quan tới số phận và tiền đồ của đất nước Các tài liệu đó được công khai giới thiệu với quần chúng nhân dân trong các buổi bình văn, diễn thuyết

Cuộc vận động cứu nước của phong trào Đông du đã tạo nên một phong trào cách mạng sôi nổi và được nhân dân ta, nhất là nhân dân Nam Ki tich cực hưởng ứng Nhân dân hoặc góp tiền, hoặc ra sức cỗ vũ, vận động cho con em du học Sự lớn mạnh của phong trào đã làm cho thực dân Pháp hết sức hoảng sợ và tìm mọi cách đề trấn áp Tháng 9/1908, sau khi kí hiệp ước bắt tay với Nhật, Pháp thẳng tay đàn áp những gia đình có con em du học,

- Nhật giải tán du học sinh Việt Nam và trục xuất các lãnh tụ của phong trào ra khỏi Nhật Vì vậy, phong trào tan rã nhanh chóng

Phong trào Đông Du do hội Duy Tân tổ chức và phát động là một trong những phong trào vận động giải phóng dân tộc sôi nổi nhất đầu thế kỷ XX Về phương diện văn hóa giáo dục, phong trào thể hiện tinh thần quật khởi và truyền thống hiếu học của dân tộc, đồng thời là cuộc đấu tranh chống nền văn hóa giáo dục nô dịch của thực dân Pháp Ý thức dân tộc được nuôi dưỡng, thúc đẩy các sĩ phu yêu nước thoát khỏi sự kiềm toả để tìm đường học tập, gắn việc học với sự cứu nước và gắn phong trào giáo dục tiến bộ với cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Phong trào đã giáo dục và giác ngộ quần chúng về bộ mặt thật của kẻ xâm lược, nuôi dưỡng lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí độc lập tự do của Tổ quốc Đông Du đã đào tạo được một đội ngũ chiến sĩ cách mạng có năng lực, có tác dụng lôi cuốn các sĩ phu và văn thân trong nước Song phong trào cuối cùng bị thực dân Pháp đàn áp và tan rã nhanh chóng; nguyên nhân dẫn tới thất bại được ghi nhận theo Nguyễn Văn Kiệm trong Lịch sử Việt Nam.

Phan Bội Châu với tư tưởng “đồng văn đồng chủng” đã tin tưởng dựa vào sự giúp đỡ của Nhật Bản, gửi du học sinh sang Nhật, hi vọng rằng Nhật sẽ giúp đỡ, cung cấp cho học sinh Việt Nam những tri thức khoa học — kĩ thuật, tri thức lí luận cách mạng (dân chủ tư sản) để có đủ khả năng trở về giải phóng Tổ quốc Rõ ràng ở đây những người lãnh đạo phong trào Đông du đã không nhận thức được bản chất giai cấp giống nhau của thực dân và để quốc: Chúng đều là kẻ đi xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa Dù là thực dân đa trắng hay để quốc da vàng thì bản chất giai cấp bóc lột cũng chỉ là một Trong hoàn cảnh lịch sử ở đầu thế ki XX này, khi mà chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì đường lối đó chẳng khác nào “đưa beo cửa trước, rước hùm cửa sau” Việc Nhật Hoàng kí kết hiệp ước với Pháp, đàn áp phong trào đã thừa nhận địa vị thực dân của Pháp ở Đông Dương Việc đuôi du học sinh ra khỏi Nhật và trục xuất các lãnh tụ của phong trào Đông du chứng minh rất rõ sự sai lầm trong đường lối, mà cụ thể là việc xác định ban, thù, đồng minh của cách mạng Mặt khác, khi lựa chọn thanh niên đi du học, Phan Bội Châu đã chỉ ra

GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI KÌ ĐỔI MỚI

Ngày đăng: 08/11/2022, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w