Hoàn cảnh lịch sử ơ wee 122 2. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956)

Một phần của tài liệu Lịch sử giáo dục việt nam (Trang 123 - 126)

Chiến thắng vĩ đại của chiến dịch Điện Biện Phủ đã kết thúc chín năm

kháng chiến trường kì gian khổ của dân tộc ta. Miền Bắc được hoản toàn giải phóng, nhưng cách mạng nước ta.lại đứng trước một thời kì mới, đất nước ta lại bị tạm chia làm hai miền. Miền Bắc đã cơ bản hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam rơi vào ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, nhân dân ta còn phải tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhiệm vụ chiến lược đó của cách mạng đã được xác định và hoàn chỉnh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9/1960.

Từ năm 1954 đến năm 1975 miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong _ một hoàn cảnh đặc biệt:

Thứ nhất, xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu. Công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng hầu như chưa có, bỏ qua con đường tư bản chủ nghĩa tiến thắng lên xã hội chủ nghĩa. Đây là một khó khăn và là

đặc điểm lớn nhất ảnh hưởng đến tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở

nước ta.

Thứ hai, đất nước bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của miền Nam, trở thành căn cứ địa cách mạng của cả nước.

Thứ ba, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện trên thế giới có hệ thống xã hội chủ nghĩa vững mạnh, kinh tế phát triển và ủng hộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước của

chúng ta. Đó là một thuận lợi hết sức to lớn.

Từ 1954 đến 1960 là giai đoạn miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế (1954 — 1957) và thực hiện kế hoạch 3 năm, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế, văn boá (1958 — 1960). Cải tạo xã

hội chủ nghĩa bao gồm cải tạo nông nghiệp (đưa nông dân vào hợp tác xã), cải tạo công thương nghiệp tư bán tư doanh, thợ thủ công, tiểu thương (quốc hữu hoá các xí nghiệp tư doanh, xây dựng hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp).

Thắng lợi quyết định của 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa là xác lập được

quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Từ một nền kinh tế nhiều

thành phần, quan hệ sản xuất phân tán, lạc hậu nay đã trở nên thuần nhất xã hội chủ nghĩa.

Từ sau Đại hội Đáng Cộng sản Việt Nam lần thứ 3 (tháng 9/1960), công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đang phát triển thắng lợi thì để quốc Mỹ bắt đầu thực hiện cuộc chiến tranh leo thang ném bom phá hoại miền Bắc (tháng 8/1964) lần thứ nhất. Miền Bắc phải chuyển hướng xây

dựng từ thời bình sang thời chiến, vừa chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chỉ viện cho miền Nam. Trong thời kì này, miền Bắc đã có những bước tiến dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc.

Dat nước, xã hội, con người đều đổi mới. Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa

vững chắc cho cách mạng miền Nam với chế độ chính trị ưu việt, với lực

lượng kinh tế và quốc phòng vững mạnh.

Từ đầu năm 1972, phong trào cách mạng ở miền Nam dâng lên mạnh mẽ, ta đã mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Bắc, phá sập nhiều phòng tuyến của Mỹ —- Nguy ở miền Nam, đặc biệt là phòng tuyến Quảng

Trị. Để đối phó với tình hình, Mỹ đã ném bom trở lại miền Bắc, tiến hành

cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai với quy mô lớn, mức độ ác liệt và thủ đoạn hết sức tàn bạo (1972). Mỹ đã thả thuỷ lôi phong toa các hải cảng, bến sông, bờ biển, ném bom huỷ diệt, đặc biệt là cuộc tập kích bằng máy bay

B52 rải thảm bom hàng loạt nhằm huỷ diệt các thành phố lớn như Hà Nội,

Hải Phòng.

Cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuỗi năm 1972 của quân dân ta, tiêu biểu là quân dân Hà Nội được coi là “trận Điện Biên Phủ trên không” đã đập tan uy thế của không lực Mỹ, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn hội nghị ngoại giao

tại Paris, dẫn đến việc kí kết Hiệp định Paris tháng 01/1973, chấm dứt chiến

tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Sau Hiệp định Paris, Mỹ phải rút hết quân đội ra khỏi lãnh thổ nước ta,

song chính quyền bù nhìn và quân đội Sài Gòn vẫn còn tồn tại. Con đường cách mạng miền Nam vẫn phải tiếp tục con đường cách mạng bạo lực. Nhân dân cả nước vẫn tiếp tục ra sức chuẩn bị lực lượng mọi mặt để tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Cuối năm 1974, đầu năm 1975, Bộ Chính trị họp đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tháng 3/1975, cuộc tổng tiến công và nỗi dậy

vĩ đại đã diễn ra với ba chiến dịch lớn: chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch

Trị Thiên - Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (trong 55 ngày đêm) đã kết thúc hoàn toàn cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài hơn 20 năm của dân tộc ta đã hoàn toàn thắng lợi, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước, đưa cách mạng Việt Nam bước vào một thời kì mới: Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước

Việt Nam thống nhất.

2. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) Lí do tiễn hành cải cách giáo dục

Ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã khẩn trương tiếp quán hệ thống giáo dục cũ trong vùng tạm chiếm do thực dân Pháp để lại. Lúc đó, ở miền Bắc có hai hệ thống giáo dục phổ thông song

song tồn tại: hệ thống giáo dục 9 năm và hệ thống giáo dục 12 năm. Việc gấp rút thống nhất hai hệ thống giáo đục là một đòi hỏi khách quan cấp thiết. Hội nghị lần thứ VII của Trung ương Đảng khoá II (3/1955) đã nêu rõ

nhiệm vụ phải nhanh chóng “chấn chỉnh và củng cố giáo dục phổ thông,

Tháng 3/1956, Chính phủ thông qua Đề án cải cách giáo dục lần thứ hai

và giao cho Bộ Giáo dục tổ chức thực hiện. Tháng 8/1956, Chính sách giáo đục

phổ thông của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được chính thức ban hành.

Mục tiêu cải cách giáo dục ,

Mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục lần này được xác định rõ: “Đào tạo, bôi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhỉ trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà, có tài có đức để phat triển chế độ dân chủ nhân dân, tiễn lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta...”.

Phương châm giáo đục là lí luận liên hệ với thực tiễn, gắn chặt nhà trường với đời sống xã hội.

Nội dung giáo đục có tính chất toàn diện gồm bốn mặt: đức, trí, thể, mĩ, trong đó coi trí dục là cơ sở, đồng thời tăng cường giáo dục tư tưởng và giáo

_ dục đạo đức trên cơ sở coi trọng giảng dạy tri thức có hệ thống.

Hệ thống tổ chức giáo dục: Hai hệ thông giáo dục cũ được sáp nhập thành một hệ thống giáo dục mới 10 năm, gồm ba cấp: cấp I: 4 năm; cấp II:

3 năm; cấp III: 3 năm.

Cuối cấp I, cấp II, học sinh sẽ thi hết cấp và cuối cấp III thi tốt nghiệp phổ thông. Trẻ em phải học qua lớp vỡ lòng để biết đọc, biết viết, đếm được

từ I1 đến 10 mới được vào lớp 1.

Mỗi năm học bao gồm 9 tháng học trong nhà trường và 3 tháng nghỉ hè.

Số tuần thực học từ 33 đến 35 tuần. Số tiết học ở cấp II va III 1a 29 — 30 tiết/tuần.

Việc biên soạn sách giáo khoa được tiến hành khẩn trương. Chưa đầy một năm, Nhà xuất bản Giáo dục đã phát hành tới 116 loại sách. Riêng sách giáo khoa đã in tới 1.747.614 bản và được thường xuyên chỉnh lí và bộ sung

kiến thức mới trong những năm tiếp sau đó.

Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai là một bước đi cơ bản ban đầu quan trọng trong quá trình xây đựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục đã được cải tạo và xây dựng theo mô hình của các nước xã hội chủ

nghĩa, chủ yếu là của Liên Xô.

Một phần của tài liệu Lịch sử giáo dục việt nam (Trang 123 - 126)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)