Giới thiệu những nội dung cơ bản nhất về đặc điểm của giáo dục thế giới và việt nam.
Trang 1Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện và phát triển cùng với sự xuất hiện và phát triển của loài người Việt Nam là một trong những cái nôi xuất hiện con người sớm nhất ở Đông Nam Á Ngay từ thời đồ đá cũ, ở Việt Nam
đã có con người sinh sống, quần tụ Từ Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam
là nhà nước Văn Lang (hay còn gọi là thời kỳ Hùng Vương - khoảng vào thiên niên kỷ thứ II TCN) đến ngày nay, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, kéo theo đó là những đổi thay và phát triển của giáo dục Việt Nam
Chính vì vậy, với mong muốn giúp cho các thế hệ cán bộ giảng viên, học viên trong quân đội nắm chắc được những kiến thức cơ bản về lịch sử hình thành
và phát triển của giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam, trên cơ sở đó vận dụng vào quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam nói chung, ở các nhà trường quân đội nói riêng, tập thể các nhà khoa học ở Học viện Chính trị do Đại tá, TS Phạm Minh Thụ làm chủ biên đã dày công nghiên cứu, biên soạn cuốn sách
“Lịch sử giáo dục thế giới và Việt Nam” được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
phát hành năm 2011
Cuốn sách được tập thể các nhà khoa học biên soạn hết sức công phu, khoa học, logic, cụ thể, tỉ mỉ phù hợp với đối tượng giảng dạy với kết cấu gồm có 10 chương, đã trình bày một cách khái quát về lịch sử giáo dục thế giới qua các thời
kỳ cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại; giáo dục Việt Nam qua các thời kỳ, trước
và sau Cách mạng tháng Tám - 1945 (trong đó có đề cấp đến đặc điểm giáo dục giáo dục quân sự Việt Nam qua các triều đại phong kiến cho đến ngày nay) Đặc biệt với nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nước ta, cuốn sách đã phản ánh rõ nét những quan điểm giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Điều đó được thể hiện trên những phương diện: về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam nói chung, giáo dục quân sự nói riêng
Nội dung cụ thể của cuốn sách đã được tập thể ban biên soạn tập trung trình bày trên những vấn đề chính như sau:
Trang 2Chương 1: Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, nghiên cứu lịch sử giáo dục
Ở chương này, tác giả tập trung vào giới thiệu khái quát cho người học nắm được đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, học tập lịch sử giáo dục để giúp họ nắm chắc phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu trong xem xét đánh giá các hiện tượng, sự kiện, tư tưởng giáo dục tiêu biểu trong từng thời kỳ một cách khách quan, toàn diện, cụ thể
Chương 2: Giáo dục thế giới thời kỳ cổ - trung đại
Chương này, tác giả đi sâu vào khái quát làm rõ lịch sử quá trình hình thành, phát triển của giáo dục thế giới thời kỳ cổ - trung đại phương Đông và giáo dục thế giới thời kỳ cổ - trung đại phương Tây Trong từng nội dung đều đi sâu phân tích, dẫn chứng cụ thể về bối cảnh lịch sử, tình hình giáo dục và một số nhà giáo dục tiêu biểu như: Khổng Tử, Mạnh Tử, Xocrat, Platon, Arixtot, Quanh
Ly Liên, Thomat More
Chương 3: Giáo dục thế giới thời kỳ cận đại
Trong chương này, tác giả tập trung giới thiệu và phân tích làm rõ 3 vấn đề chính là: Giáo dục thời kỳ tích luỹ tư bản chủ nghĩa (trước Cách mạng tư sản Pháp 1789); Giáo dục thời kỳ tư bản chủ nghĩa (1789 đến cuối thế kỷ XIX); Giáo dục thời kỳ đế quốc chủ nghĩa (cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) Ở mỗi thời
kỳ đều đi sâu làm rõ bối cảnh lịch sử, tình hình giáo dục và tư tưởng của một số nhà giáo dục tiêu biểu như J.A.Komensky, Pétxtalôdi, John Dewey
Chương 4: Giáo dục ở một số nước tư bản phát triển từ giữa thế kỷ
XX đến nay
Nội dung chương này, tác giả đi vào trình bày 2 vấn đề, đó là: Bối cảnh lịch sử và tình hình giáo dục của một số nước tư bản phát triển từ thế XX đến nay Trong đó, tập trung giới thiệu về tình hình giáo dục ở Vương quốc Anh; Cộng hoà Pháp; CHLB Đức; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Nhật Bản và Hàn Quốc
Chương 5: Sự hình thành, phát triển của giáo dục Mácxít
Ở chương này, các tác giả đã dày công nghiên cứu phân tích làm rõ tính tất yếu sự ra đời của học thuyết Mác về giáo dục và những tư tưởng giáo dục của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin Bên cạnh đó, tác giả cũng đi sâu nghiên cứu chỉ rõ
Trang 3bối cảnh lịch sử và một số đặc điểm cơ bản về giáo dục của Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu từ năm 1917-1991, với nhiều nhà giáo dục tiêu biểu, đặc biệt là những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của N.K.Crúpxcaia, A.S Makarenko
Chương 6: Giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám
Trong chương này, các tác giả đi sâu nghiên cứu bối cảnh lịch sử, tình hình giáo dục Việt Nam từ thời Văn Lang - Âu Lạc, thời kỳ Bắc thuộc đến giai đoạn đất nước giành được độc lập từng bước hình thành, phát triển chế độ phong kiến
và thời kỳ phong kiến suy tàn bị thực dân Pháp đô hộ trải qua hàng ngàn năm lịch
sử từ buổi đầu dựng nước đến trước Cách mạng tháng Tám -1945
Chương 7: Giáo dục Việt Nam trong năm đầu của chính quyền cách mạng và thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Ở chương này, tập thể tác giả đã làm rõ bối cảnh lịch sử đất nước trong tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” sau cánh mạng tháng Tám năm 1945 và những năm tháng kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược Đồng thời, đi sâu nghiên cứu về tình hình giáo dụcViệt Nam trong năm đầu chính quyền cách mạng (1945-1946) và trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), đặc biệt là những nội dung chính trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ 1 năm 1950
Chương 8: Giáo dục Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Chương này, tác giả đã tập trung phân tích bối cảnh đất nước sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam; gắn với bối cảnh đó tác giả đã phân chia nghiên cứu tình hình giáo dục thành các giai đoạn 1954-1964 và giai đoạn 1965-1975, đặc biệt là làm rõ nội dung cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 Mặt khác, các tác giả cũng quan tâm nghiên cứu về đặc điểm giáo dục quân sự Việt Nam thời kỳ 1954-1975
Chương 9: Giáo dục Việt Nam thời kỳ cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội
Nội dung trong chương này đi sâu vào nghiên cứu bối cảnh lịch sử đất nước sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến những năm đầu của thế
Trang 4kỷ XXI và đặc điểm tình hình giáo dục Việt Nam ở các giai đoạn 1975-1986, 1986-2000 và từ 2001 đến nay, trong đó đề cập đến nhiều chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục, đặc biệt nhấn mạnh là cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 Ngoài ra, tác giả quan tâm nghiên cứu đến sự phát triển giáo dục - đào tạo trong quân đội từ 1975 đến nay
Chương 10: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Trong chương này, các giả đi sâu phân tích, khái quát cụ thể những nguồn gốc, điều kiện hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và những tư tưởng
cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục
Cuốn sách tuy chỉ có dung lượng hơn 200 trang những đã đem lại cho mỗi người sự khám phá, hiểu biết về bối cảnh lịch sử cũng như đặc điểm tình hình giáo dục của thế giới và Việt Nam hàng ngàn năm qua Với kho tàng tri thức về giáo dục khổng lồ như vậy, trong thời gian ngắn bản thân không thể nghiên cứu
hết được mà ở đây chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu nội dung Chương 6: Giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, trong đó tập trung làm rõ bối
cảnh lịch sử, đặc điểm tình hình giáo dục Việt Nam thời phong kiến
Qua các tư liệu lịch sử đã chứng minh, Việt Nam là một dân tộc có trang sử hào hùng với bề dày lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, đã đạt được nhiều thành tựu phát triển rực rỡ Lịch sử đã ghi nhận ngay từ đầu thời đại đồng thau, các bộ lạc người Việt đã định cư ở vùng Bắc bộ và bắc Trung bộ; bao gồm trong đó là các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt Sau đó với sự lớn mạnh của bộ lạc Văn lang, người đứng đầu của bộ lạc này đã thống nhất các bộ lạc Lạc việt, dựng nước Văn Lang, và xưng vua, hiệu là Hùng Vương
Đến năm 257 TCN, người đứng đầu Âu Việt là Thục Phán thống nhất hai
bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt lập ra nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương
Có thể nói rằng, trong buổi đầu dựng nước tổ tiên người Việt Nam đã sớm tạo dựng được nền văn hoá, văn minh rực rỡ, đó là nền văn minh sông Hồng, nền văn minh lúa nước dựa trên cơ cấu nền tảng xóm làng bền chặt và một cơ cấu chính trị phôi thai
Đối với tình hình giáo dục, hiện chưa có tài liệu nào nói về giáo dục chính quy trong thời kỳ này, song một điều rõ ràng là, từ lâu đã xuất hiện giáo dục
Trang 5trong đời sống xã hội, trong gia đình, trong cộng đồng làng xã Đó chính là việc truyền thụ cho nhau những kinh nghiệm lao động sản xuất, đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm; các kinh nghiệm ứng xử, phong tục tập quán, tín ngưỡng trong đời sống hàng ngày
Tuy nhiên, đến năm 179 TCN, Triệu Đà thôn tính được nước Âu Lạc và thiết lập được chế độ cai trị của đế chế phương Bắc, đến tận năm 938 Đây là thời kỳ đen tối trong đêm trường Bắc thuộc Trong suốt thời gian đó, với tinh thần bất khuất nhân dân ta liên tiếp đấu tranh giành quyền độc lập, tự chủ như: Khởi nghĩa hai Bà Trưng (40 - 43), Bà Triệu (248), Lý Bí (542)
Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, bọn phong kiến thống trị phương Bắc đã ra sức bóc lột sức lao động, vơ vét của cải của đất nước ta, đàn áp nhân dân ta, thực hiện nhiều chính sách hiểm độc, coi giáo dục như một công cụ hữu hiệu nhằm thực hiện âm mưu đồng hoá, biến đất nước ta thành quận huyện của chúng Để thực hiện âm mưu đó, chúng tập trung giáo dục các phong tục, lễ nghĩa, các chuẩn mực của Nho giáo, mở trường dạy chữ Hán
Nhằm đấu tranh chống lại sự đồng hoá và ách đô hộ của kẻ thù phương Bắc, nhân dân ta đã tích cực tổ chức giáo dục thông qua các câu chuyện dân gian, ca dao, hò, vè để khích lệ tinh thần yêu nước, bảo vệ phong tục tập quán dân tộc, chống kẻ thù xâm lược
Tóm lại, trong thời kỳ Bắc thuộc, nền giáo dục chính thống của nước ta đã
được hình thành Trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, do chính sách đồng hoá nên việc học của nước ta không phát triển được sâu rộng Trước sức mạnh của đấu tranh của dân tộc ta, Nho giáo buộc phải biến đổi cho phù hợp với điều kiện Việt Nam
Đến năm 938, với chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán xâm lược do Ngô Quyền lãnh đạo đã chấm dứt thời kỳ bị phương Bắc
đô hộ, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc Việt Nam, đặt nền móng cho sự hình thành chế độ phong kiến ở Việt Nam
Từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX là thời kỳ tồn tại, phát triển và suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam, với nhiều triều đại lần lượt thay thế nhau cai trị
Trang 6đất nước: Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (938-1009), thời Lý – Trần – Hồ (1009-1407), thời Lê Sơ (1428–1527), thời Lê - Mạc; Trịnh – Nguyễn (1527-1778), thời Tây Sơn (1778-1802) và thời nhà Nguyễn (1802-1945)
Trải qua gần 10 thế kỷ hình thành, phát triển và suy tàn, chế độ phong kiến Việt Nam nổi lên những đặc điểm cơ bản, đó là:
Về chính trị: là quá trình nhiều triều đại luân phiên cai quản đất nước, xây
dựng nhà trước phong kiến trung ương tập quyền
Về kinh tế: nền kinh tế chủ yếu của xã hội phong kiến Việt Nam là kinh tế
nông nghiệp
Về xã hội: hai giai cấp chủ yếu trong xã hội là giai cấp địa chủ phong kiến
và giai cấp nông dân phụ thuộc và mâu thuẫn chủ yếu của xã hội cũng là mâu thuẩn của hai giai cấp này
Về văn hóa: một đất nước có một truyền thống văn hóa lâu đời, đa dạng
và đặc sắc
Đối với tình hình giáo dục, có thể thấy giáo dục Việt Nam có những bước
đi đầu tiên từ khi Ngô Quyền khởi dựng nền độc lập Tuy nhiên, trong thời gian đầu (938 – 1009), do tình hình kinh tế, chính trị, xã hội không ổn định, triều đình lại phải lo chống thù trong, giặc ngoài nên các triều đại nhà Ngô, nhà Đinh và nhà Tiền Lê, chưa có điều kiện quan tâm, tổ chức học tập, thi cử để lựa chọn nhân tài cho đất nước Từ thời nhà Lý đến thời nhà Nguyễn, giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển mới Trong nền giáo dục phong kiến ấy đã nổi lên những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, về tư tưởng chủ đạo của giáo dục
Việt Nam tồn tại cùng lúc nhiều hệ tư tưởng: Ở giai đoạn đầu Phật Giáo phát triển cực thịnh Chùa chiền mọc lên khắp nơi, xuất hiện nhiều nhà sư tài giỏi đã có đóng góp lớn cho sự phát triển của đất nước Nhà chùa trở thành nơi học tập của quảng đại quần chúng trong lúc trường của nhà nước chưa thành lập
Tuy nhiên, có thời kỳ chủ trương tam giáo đồng nguyên (Nho-Phật-Đạo)
và có tổ chức thi tam giáo vào những năm: 1195; 1227; 1247
Sau đó, Nho giáo đã được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm tư tưởng chủ đạo để xây dựng nhà nước phong kiến và nền giáo dục
Trang 7Thứ hai, về mục tiêu giáo dục
Vận dụng chủ trương giáo dục của Nho giáo, các triều đại phong kiến Việt Nam từ triều đại nhà Lý đến triều đại nhà Nguyễn đã mở rộng cơ hội học tập, chú trọng lựa chọn người có thực học, thực tài ra đảm nhận công việc triều đình thông qua thi cử với trường quy rất nghiêm ngặt Chính điều này đã tạo động lực, niềm đam mê học tập trong xã hội Các sĩ tử đã không quản gian khó, ngày đêm dùi mài kinh sử, mong ngày đỗ đạt, thậm chí có người dành gần như trọn cả
đời để đi học và thi Nhiều thanh niên, trai tráng lấy việc học tập, thi cử làm mục
tiêu cao nhất trong cuộc đời mình Có thể khẳng định, mục đích giáo dục của Nho giáo thực sự là đòn bẩy thúc đẩy tinh thần học tập, truyền thống hiếu học và bồi đắp nguyên khí cho quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử giáo dục dân tộc, đào tạo một đội ngũ quan lại đông đảo giúp vua quản lý đất nước mục tiêu giáo dục thời kỳ này còn nhằm mục đích truyền bá ý thức hệ phong kiến vào trong nhân dân để xây dựng lòng trung thành với triều đình
Ngoài ra, giáo dục phong kiến còn nhằm mục đích để người dân biết cương thường đạo lý, biết cách làm người
Thứ ba, về nội dung giáo dục
Nội dung giảng dạy cơ bản của giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến
là những quy tắc, chuẩn mực đạo đức Nho giáo, cách sống, đạo trị nước, an dân; Những kiến thức về lịch sử, văn hóa, thơ ca
Nội dung giáo dục thể hiện qua các sách giáo khoa Tam tự kinh, Sơ học vấn tâm, Tứ thư và Ngũ kinh Nội dung của bộ sách chủ đạo này được áp dụng trong giáo dục nhằm hướng con người đến làm sáng cái đức sáng của chính mình, làm mới cho dân, an trụ ở nơi chí thiện và ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, thực hành đạo quân tử… Nội dung dạy và học này đã tạo ra những điểm mạnh cho giáo dục Giáo dục thực sự là công cụ hữu ích để tu thân, đào tạo ra những con người lý tưởng, có sự hoàn thiện cả về đạo đức, nhân cách cũng như tri thức, lối sống
Thứ tư, về phương pháp giáo dục
Giáo dục Việt Nam thời kỳ phong kiến chủ yếu vẫn sử dụng các phương pháp kinh viện, giáo điều Trong giáo dục tri thức chủ yếu là thầy giảng giải, trò
Trang 8ghi nhớ, học thuộc lòng bằng cách ngày đêm dùi mài kinh sử Ở thời kỳ phong kiến, chỉ dạy trẻ cách học thuộc lòng chớ không cốt gì cho trẻ luyện tập suy nghĩ Lớn thêm ít tuổi cho học câu đối, học thơ, học phú…Từ nhỏ cho đến lớn, người học chỉ học hai khoa là luân lý và văn chương Học hai khoa cơ bản này
để rèn luyện tri thức, rèn luyện các quy tắc ứng xử trong quan hệ giữa người với người để tạo ra một xã hội hài hòa
Xã hội phong kiến là chế độ xã hội hà khắc,trong quá trình giáo dục, các giáo quan và các nhà Nho đã duy trì kỷ luật bằng roi vọt Học trò không học bài, học không tập trung… các giáo quan, nhà nho sử dụng roi vọt để răn đe Nhưng
để sử dụng được uy lực của đòn roi với học trò, người thầy trong xã hội này luôn
có cái tâm sáng Chẳng thế mà sau khi trưởng thành, không ít người lại thấy biết
ơn những trận đòn của thầy ngày bé Nhưng học sinh xưa có bị đánh cũng không phản kháng, đơn giản vì chúng thấy tâm phục khẩu phục thầy Đây là một đặc điểm của các trường học thời phong kiến kể cả trường công và trường tư
Còn trong đạo đức thì chủ yếu là phương pháp nêu gương, tự tu dưỡng Cái tâm, cái uy của người thầy và sự lễ nghi, phép tắc của các nho sinh là những bài học giá trị cho các thế hệ học trò học tập và noi theo
Thứ năm, về hình thức giáo dục
Trong xã hội thời phong kiến, hệ thống nhà trường tương đối đa đạng và đáp ứng được nhu cầu học tập của xã hội Vài thập kỷ đầu dưới thời vua Lý Thái
Tổ, Lý Thái Tông, các chùa lớn trở thành trung tâm học tập kinh sách nhà Phật cũng như học kiến thức Nho giáo Chính vì vậy, triều đình cho xây dựng rất nhiều chùa lớn, nhiều người qua nhà Chùa mà học hành thành tài Việc dạy học cho con em nhân dân cũng do nhà chùa đảm nhiệm Các vị pháp sư lúc ấy không chỉ là những người có học thức cao mà còn có vai trò chính trị to lớn Nhà chùa
đã đào tạo được một đội ngũ trí thức có đủ khả năng để đảm đương công việc đối nội và đối ngoại của nhà nước
Đề cao Nho học, tỏ rõ sự trọng học, năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu ở kinh đô Thăng Long để thờ Khổng Tử và nơi đây cũng là trường học đầu tiên trong hệ thống giáo dục Việt Nam
Trang 9Tại địa phương, nhà Vua cho lập các Văn chỉ để làm nơi thờ tự Khổng Tử, khuyến khích việc học tập tại làng, xã Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám làm nơi học tập của con em tầng lớp quý tộc, quan lại
và những người ưu tú Từ khi Quốc Tử Giám được lập thì đây là trường công điển hình nhất, danh giá nhất, được đầu tư nhiều nhất về chất và lượng, được lập ở kinh đô Dù các triều đại phong kiến khác nhau có sự thay đổi tên gọi như Quốc học viện, Nhà Thái học… thì đây vẫn là nơi có đội ngũ thày giỏi, là các nhà nho danh tiếng, thư viện có nhiều sách, thậm chí cả sách quý hiếm cho người học nghiên cứu, nơi ăn chốn ở thuận lợi cho người học, nhà nước chu cấp học bổng Tuy nhiên chế độ tuyển sinh rất chặt chẽ, phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc xuất thân của Nho sinh Cùng với Quốc Tử Giám, triều đình tổ chức trường học công cho con em quan lại và hoàng thân quốc thích gồm: Sùng văn quán, Nho lâm quán và Tú lâm cục
Hệ thống trường công ở triều đình ngày càng được hoàn thiện, tăng cường giáo dục cho con em quan lại Nhưng các triều đại phong kiến chưa chú trọng xây dựng hệ thống trường công ở các địa phương Lần đầu tiên nhà Trần cho mở trường công lập ở phủ Thiên Trường năm 1281 Sau đó đến hơn 100 năm nhà Trần không mở nhà học ở các địa phương nữa Đến năm 1397, đời vua Trần Thuận Tông mới cho mở lại trường công ở địa phương Đến thời nhà Nguyễn đã chủ trương mở rộng trường học ở các trấn, phủ, huyện, đặt chức quan đốc học để đôn đốc, kiểm tra, quản lý việc dạy học và trực tiếp dạy ở các trường
Như vậy, ban đầu hệ thống trường học chủ yếu vẫn chỉ được mở ở triều đình, phục vụ quá trình học tập của con em quan lại và những người giàu có, giáo dục công chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân Theo gương nhà Trần, các triều đại phong kiến nước ta sau này đều lần lượt mở rộng hệ thống trường công ở địa phương phục vụ quá trình học tập cho nhân dân
Bên cạnh hệ thống trường công do nhà nước tổ chức thì còn một bộ phận trường tư do một số người dân không có điều kiện được tham gia các lớp học ở trường công bởi chế độ và tiêu chuẩn về người học nên họ tham gia học ở các trường tư Thời phong kiến, không có quy định về mở trường tư nên người nào
Trang 10biết chữ, dù ít hay nhiều đều có thể mở trường dạy học Trường sở có thể là nhà của thầy hoặc nhà của một học trò bố mẹ giàu có mời thầy về mở lớp dạy
Việc học khai tâm cho trẻ em hoàn toàn do các trường tư phụ trách Nhờ
có các trường tư mà việc học tập đã về đến tận các thôn, xóm Đến thời nhà Tây Sơn, nhà học ở xã đã được lập và đặt chức quan giảng dụ để dạy học ở xã
Với hệ thống trường công và trường tư như vậy, môi trường học tập của các Nho sinh và của con em nhân dân ngày càng được mở rộng Một tỷ lệ khá đông trẻ em dưới thời phong kiến đều có vài năm cắp sách đi học, biết được một
ít chữ Nho, đọc thuộc lòng được một vài câu “Thánh hiền” để biết đạo làm người Nhờ có hệ thống giáo dục cả trường công và trường tư mà “đạo thánh hiền” đã ảnh hưởng không nhỏ tới đông đảo nhân dân ta
Thứ sáu, về chế độ thi cử
Các vương triều đã có nhiều cách khác nhau để phát hiện và tuyển chọn nhân tài ra giúp nước như thi tuyển, tiến cử, bảo cử và tự tiến cử Bấy giờ chế độ thi tuyển thực hiện qua các kỳ khoa cử Nho học lựa chọn quan văn, với quan niệm: “Muốn có được nhân tài, trước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, mà phép chọn lựa
kẻ sĩ phải lấy thi cử làm đầu” Bên cạnh đó, để lựa chọn nhân tài, còn có hình thức tiến cử nhằm tìm kiếm người có tài, bổ sung vào đội ngũ quan triều đình,
do đó: “Tiến cử người hiền tài, loại bỏ kẻ bất tiếu, đó là việc lớn của chính trị” hay “muốn thịnh trị phải được người hiền tài, muốn được người hiền tài phải do tiến cử Cho nên người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên”
Chế độ khoa cử và chính sách sử dụng nhân tài của các triều đại phong kiến đã tạo điều kiện cho các đời vua chúa giữ gìn và xây dựng non sông đất nước với sự cống hiến của các vị công thần tận trung với vua, với nước Dưới thời nhà Ngô, nhà Đinh và đầu đời nhà Lý chưa có khoa cử
Khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước nhà là khoa thi
Minh kinh bác học (năm 1075) do triều đình nhà Lý tổ chức Triều đại nhà Lý đã
khai sinh nền khoa cử của Việt Nam, từ nền tảng về cơ sở lý luận cho đến cả diện mạo về mặt tổ chức giáo dục và thi cử Nho học ở buổi ban đầu Tuy nhiên, việc thi cử dưới thời nhà Lý không định thành luật lệ theo những năm nhất định, lúc cần thì thi, không thì thôi Bên cạnh suy tôn Nho giáo, nhà Lý coi trọng Phật giáo và Đạo giáo