Sinh thời, Chỉ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, Người luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục. Bởi giáo dục, đào tạo đóng vai trò quan trọng và là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, lãnh đạo đất nước đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm qua các thời kì phong kiến, Pháp thuộc, thời kì kháng chiến chống thực dân, đế quốc và cho đến thời kì đổi mới hiện nay, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có nhiều danh nhân vĩ đại trong lĩnh vực này và đóng góp lớn đến nền giáo dục Việt Nam qua từng thời kỳ phát triển của đất nước. Em lựa chọn chủ đề: “Tìm hiểu lịch sử giáo dục Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để phân tích đặc điểm nền giáo dục nước ta ở các giai đoạn khác nhau. Mong rằng có thể đóng góp vào kho tàng lý luận giáo dục và phát triển nền giáo dục Việt Nam hơn nữa trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Do hạn chế về kiến thức và thời gian, bài viết còn những thiếu sót và hạn chế nhất định. Kính mong sự đóng góp và giúp đỡ của thầy cô giáo để bài làm của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Trang 1Liên hệ Zalo: 0389632001
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: GIÁO DỤC HỌC
TÊN ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU LỊCH SỬ GIÁO DỤC VIỆT NAM
Họ và tên:
Giáo viên hướng dẫn:
Hà Nội – 2022
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG CÁC THỜI KÌ LỊCH SỬ 2
1.1 Nền giáo dục Việt Nam thời kì phong kiến 2
1.2 Nền giáo dục Việt Nam thời kì Pháp thuộc 3
1.3 Nền giáo dục Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân và đế quốc 5
1.4 Nền giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới 7
CHƯƠNG 2: NGUYỄN TRÃI VÀ CHU VĂN AN VỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM 9
2.1 Nguyễn Trãi với nền giáo dục Việt Nam 10
2.2 Thầy giáo Chu Văn An với nền giáo dục Việt Nam 11
III KẾT LUẬN 14
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ Sinh thời, Chỉ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người” Là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, Người luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục Bởi giáo dục, đào tạo đóng vai trò quan trọng và
là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, lãnh đạo đất nước đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu
Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm qua các thời kì phong kiến, Pháp thuộc, thời kì kháng chiến chống thực dân, đế quốc và cho đến thời kì đổi mới hiện nay, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn,
có nhiều danh nhân vĩ đại trong lĩnh vực này và đóng góp lớn đến nền giáo dục Việt Nam qua từng thời kỳ phát triển của đất nước Em lựa chọn chủ đề: “Tìm hiểu lịch sử giáo dục Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để phân tích đặc điểm nền giáo dục nước ta ở các giai đoạn khác nhau Mong rằng có thể đóng góp vào kho tàng lý luận giáo dục và phát triển nền giáo dục Việt Nam hơn nữa trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Do hạn chế về kiến thức và thời gian, bài viết còn những thiếu sót và hạn chế nhất định Kính mong sự đóng góp và giúp đỡ của thầy cô giáo để bài làm của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4II NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG CÁC THỜI KÌ LỊCH SỬ
1.1 Nền giáo dục Việt Nam thời kì phong kiến
Mục tiêu giáo dục thời kỳ này là đào tạo con em quan lại thành người quân tử, kẻ sĩ để làm quan phục vụ cho việc cai quản nhân dân của triều đình
Đặc trưng nổi bật của giáo dục Việt Nam thời Phong kiến là nền giáo dục Nho học, bên cạnh là Phật giáo và Đạo giáo Sách giáo khoa chính của Nho giáo
ở bậc cao là Tứ thư, Ngũ kinh và Bắc sử Phương pháp giáo dục chủ yếu là trí dục và đức dục: Trí dục là phương pháp thuộc lòng, dùi mài kinh sử, Kinh viện, giáo điều trong khi đức dục là sử dụng phương pháp nêu gương
Nhìn chung, dưới các thời Lý - Trần - Hồ tuy có sự phát triển, tiến bộ so với các thời kỳ trước, song sự phát triển còn chậm, số trường học do nhà nước
mở còn ít, chỉ có ở kinh đô và một số phủ, châu Việc học tập ở địa phương, hầu như do dân tự lo liệu, chủ yếu là do nhà chùa và các nho sĩ mở Dưới các triều Mạc - Lê, Trịnh - Nguyễn, việc học và thi tiếp tục được duy trì Song, cùng với bước đường suy tàn của chế độ phong kiến, nền giáo dục nước ta có nhiều bước thụt lùi về chất lượng Tóm lại, trong thời kì này, chế độ giáo dục và thi cử Nho học vẫn được các triều đại phong kiến ở cả 2 miền Nam Bắc duy trì nhưng nội dung giáo dục và chế độ thi cử ngày một suy giảm
Về ưu điểm, các triều đại phong kiến Việt Nam cùng với việc chăm lo phát triển các mặt kinh tế, xã hội cũng đã chú trọng tới việc phát triển giáo dục Nền giáo dục từng bước được mở rộng và chính quy nhưng vẫn chưa phải là nên giáo dục dành cho mọi người, chỉ có con em của những người giàu, quý tộc mới được đi thi, con em nhà nông cơ bản không được đi thi Tính độc lập, tự chủ, ý thức tự lực, tự cường trong giáo dục, nó đã góp phần to lớn trong việc gìn giữ đất nước, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc Chế độ khoa cử là một trong những đặc trưng cơ bản của hệ thống giáo dục phong kiến Thông qua chế độ khoa cử
Trang 5để chọn người hiền tài đảm nhiệm các chức vụ quan lại quản lý bộ máy nhà nước phong kiến, vì vậy được nhân dân hết sức coi trọng
Bên cạnh những thành tựu giáo dục đạt được, giáo dục thời kì phong kiến Việt Nam có nhiều những hạn chế, bất cập Mục đích của nền giáo dục phong kiến chủ yếu nhằm đào tạo tay sai phục vụ tầng lớp phong kiến Nội dung giáo dục nghèo nàn, nặng về văn chương, nội dung về lao động sản xuất, khoa học kỹ thuật hầu như không có Phương pháp giáo dục giáo điều, uy quyền, nặng về học
cổ, ít quan tâm phát triển xã hội Có sự bất bình đẳng trong giáo dục: trọng nam kinh nữ, triều đình chỉ lo giáo dục cho con em vua chúa và quan lại Tài liệu học tập hạn chế cùng với tổ chức thi cử nghiêm ngặt nhưng nội dung chủ yếu ca tụng vua chúa, ca ngợi triều đình, ca ngợi nho giáo
Tóm lại, dù có những hạn chế nhất định nhưng nền giáo dục thời phong kiến đặc biệt là những lúc đỉnh cao, đã có những đóng góp to lớn cho nền giáo dục nước nhà; thực sự là đòn bẩy thúc đẩy tinh thần học tập, truyền thống hiếu học và bồi đắp nguyên khí cho quốc gia trong những giai đoạn phát triển của lịch sử giáo dục dân tộc Góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong tổ chức giáo dục hiện nay
1.2 Nền giáo dục Việt Nam thời kì Pháp thuộc
Mục đích quan trọng nhất của giáo dục thời kì này nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách của Pháp cai trị và khai thác ở Việt Nam và cả Đông Dương Thứ hai là truyền bá tư tưởng Pháp, lòng biết ơn sự khai hóa của Pháp
và sự trung thành với Pháp Cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ Hai mục đích đầu là căn bản, mục đích thứ ba chỉ dùng để đối phó với sự đòi hỏi một nền giáo dục tiến bộ của người Việt trong tương lai
Hệ thống giáo dục của nước Pháp đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh và thêm bớt cho phù hợp với ba mục đích trên cũng như để thích hợp với thực tế ở Việt Nam Pháp cố gắng thiết lập một hệ thống giáo dục theo mô hình Pháp gồm hai bậc, tiểu học và trung học: Tiểu học tập đọc và viết chữ Quốc
Trang 6ngữ, chữ Nho, tiếng Pháp; tiếng Pháp căn bản; toán sơ đẳng; hình học sơ đẳng; khái niệm đo đạc; tổng quan về lịch sử và địa lý Đến bậc trung học, học sinh sẽ học kỹ hơn về tiếng Pháp, văn học Pháp; làm luận bằng tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Nho và nhiều nội dung nâng cao hơn về toán, vũ trụ, vật lý, hội họa
Sau đó, Pháp thực hiện cải cách giáo dục Chương trình học được thêm vào nội dung mới nhất của khoa học phương Tây, tri thức thực hành thông dụng
Hệ thống giáo dục Nho học cũ trở nên không hợp thời Với đợt cải cách giáo dục lần thứ hai, chữ quốc ngữ đã hoàn toàn thay thế chữ Hán Chương trình học bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội với tính hệ thống cao Bên cạnh các trường phổ thông, Pháp còn lập ra trường dạy nghề để đào tạo ra công nhân cho các ngành công nghiệp thuộc địa
Về ưu điểm, thời kì này nền giáo dục nặng về Hán học đã dần “sụp đổ”, nền giáo dục được tiếp xúc với các kiến thức khoa học phương Tây, văn chương
và lịch sử Pháp, tạo ra một tầng lớp trí thức mới nắm được khoa học, kỹ thuật phương Tây và một tầng lớp tinh hoa chính trị chịu ảnh hưởng của những hệ tư tưởng và tiếp thu những thủ thuật chính trị phương Tây tuy số lượng ít ỏi và chất lượng của tầng lớp này còn yếu
Về nhược điểm, giáo dục thời Pháp thuộc cũng để lại nhiều mặt tiêu cực với Việt Nam Học giả Trần Trọng Kim cho rằng nền giáo dục Pháp đã biến một
xã hội "nghe đến nước mình thì ngây ngây như người ngoại quốc, sử nước mình không biết, tiếng nói nước mình thì chỉ biết qua loa" Cho đến năm 1930, tổng
số học sinh, sinh viên tất cả các trường từ tiểu học đến đại học chỉ chiếm 1,8% dân số Việt Nam Do số người được đi học thấp, kết quả là tới năm 1945, trên 95% dân số Việt Nam bị mù chữ Một nền giáo dục như vậy đã khiến người Việt
bị tách rời khỏi cội rễ văn hóa dân tộc trong khi không hiểu biết đến nơi đến chốn, không hấp thu được phần tinh túy của văn hóa phương Tây Người Việt bị biến thành những kẻ vong bản và vong nô trên chính quê hương của mình
Trang 71.3 Nền giáo dục Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân và đế quốc
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được việc nâng cao dân trí cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Sau khi tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã nhiệm vụ “Diệt giặc dốt” là mục tiêu cấp bách của đất nước, Người cho rằng: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, sự dốt nát là một loại giặc nội xâm, là mẹ đẻ của mọi thói hư tật xấu, phản lại văn hoá" Mục tiêu là giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những “công dân lao động tương lai”, trung thành với chế độ nhân dân; có đủ năng lực và phẩm chất phục
vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến kiến quốc Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn
Từ ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946), hoạt động của ngành giáo dục đã có những biến động to lớn, sâu sắc để thích ứng với cuộc kháng chiến của dân tộc Thời kì này xác định chương trình học ở từng cấp, soạn sách giáo khoa mới, định cách dạy học theo lối mới với chú trọng học chữ quốc ngữ và kiến thức khoa học tự nhiên, xã hội phổ thông, vừa tránh được nạn nhồi
sọ của thời thuộc Pháp, vừa thích hợp với tinh thần kháng chiến và dân chủ, mở trường Sư phạm đào tạo giáo sư mới và bổ túc cho giáo sư cũ, rút kinh nghiệm của các trường hiện nay và mở thêm các trường mới theo kế hoạch cụ thể Thiết thực giúp đỡ bình dân học vụ, khuyến khích văn nghệ, soạn lại Bộ Sử nước ta, bắt đầu viết ngay cuốn sử cách mạng Việt Nam chống Pháp và cuốn sử kháng chiến Mở trường và đặt chữ cho các vùng dân tộc thiểu số Trong thời kì này, nội dung giáo dục là bồi dưỡng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần yêu lao động, tinh thần tập thể, phương pháp suy luận và thói quen làm việc khoa học
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Hồ Chí Minh, giáo dục Việt Nam thời kỳ kháng chiến 1945 - 1954 đã đạt được một số thành tựu hết sức quan trọng Giai đoạn này đã xác định được những quan điểm, phương châm đúng đắn cho nền giáo dục cách mạng, tiến bộ với mục đích nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thực hiện quyền được học tập của mọi
Trang 8người dân; xây dựng được phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa với sự hưởng ứng sôi nổi của quảng đại nhân dân, làm cho số người biết chữ tăng lên Bên cạnh đó, đất nước cải tổ và xây dựng được ngành học phổ thông và đội ngũ giáo viên, học sinh khá đông đảo, chất lượng ngày càng cao, nhất là các ngành học phổ thông; xây dựng được bậc giáo dục đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong điều kiện kháng chiến
Dù hoạt động trong điều kiện khó khăn, song nền giáo dục Việt Nam thời
kỳ 1945 - 1954 đã chứng tỏ là nền giáo dục dân chủ nhân dân của nhân dân ta Nền giáo dục mới đã có tác dụng tích cực, góp phần tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng cao, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ mới, thúc đẩy cuộc kháng chiến, kiến quốc đi tới thắng lợi và chuẩn bị cơ sở cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo của đất nước tiếp tục phát triển ở các thời kỳ sau
Bên cạnh những thành tựu quan trọng, nền giáo dục Việt Nam thời kỳ kháng chiến cũng còn một số hạn chế, thiếu sót lớn Trong giáo dục phổ thông, cao đẳng, đại học, việc chuyển đổi từ nền giáo dục cũ sang nền giáo dục mới nhiều nơi còn chậm, gây trở ngại cho việc thu dung cán bộ, giáo viên, học sinh Trong bình dân học vụ, bổ túc văn hóa nhiều lúc, nhiều nơi quan niệm về ý nghĩa, tầm quan trọng của các lĩnh vực đó còn lệch lạc, không sát với khả năng
và nhu cầu của nhân dân, phong trào thiếu liên tục, sâu rộng Trong giáo dục chuyên nghiệp, số trường chuyên nghiệp không phát triển được nhiều, việc tìm hiểu tình hình các trường đã lập để có kế hoạc giúp đỡ cụ thể chưa sâu sát, thường xuyên Ngoài ra, trong giáo dục chính trị, do thiếu cán bộ nên nhiều nơi chưa kịp thời, đầy đủ, thường tập trung cho cán bộ lãnh đạo, quan lý cấp Bộ, Liên khu, tỉnh, còn cấp có sở, các trường và trong học sinh, sinh viên chưa được chú ý đúng mức Những thiếu sót, hạn chế đó đã làm giảm sút phần nào thành tích của giáo dục Việt Nam thời kỳ kháng chiến
1.4 Nền giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới
Giáo dục con người Việt Nam với mục tiêu phát triển toàn diện, phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của người học, đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước
Trang 9trong thời kì mới, tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác giáo dục và đào tạo Xây dựng sự nghiệp giáo dục đạt trình độ tiên tiến, đảm bảo các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất cùng như nguồn lực để phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục Tăng cường hợp tác quốc tế, liên kết các chương trình giáo dục với các nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại
Đưa giáo dục mầm non phát triển, chuẩn hóa, trang bị cho các em hiểu biết, nâng cao thể chất Xây dựng hệ thống các trường mầm non đạt tiêu chuẩn
và có chính sách miễn học phí phù hợp Phát triển giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, nâng cao trí tuệ và năng lực công dân, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Xây dựng mạng lưới cơ cấu ngành nghề, nhân lực trình độ đại học phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia Nâng cao năng lực tự học, sáng tạo của người học gắn với lòng yêu nước và nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc bảo đảm cho mọi người dân đều có cơ hội học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn, xóa mù chữ bền vững Ngoài ra, giảng dạy tiếng Việt với mục tiêu góp phần giữ vững bản sắc của dân tộc và tình cảm gắn bó với quê hương, Tổ quốc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh
Giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới được đổi mới căn bản, toàn diện, đổi mới từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến nội dung, phương pháp, chính sách, mục tiêu Trong đó, tăng cường sự tham gia của gia đình, cộng đồng xã hội, các tầng lớp nhân dân đóng góp ý kiến, xây dựng để thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục Với xu thế hội nhập hóa, tập trung kế thừa và phát huy những thành tựu đã đạt được, học hỏi có chọn lọc kinh nghiệm giáo dục của nền giáo dục các quốc gia hiện đại trên thế giới, xây dựng chính sách giáo dục dài hạn, phù hợp đối với từng cấp học, có lộ trình và tính khả thi cao
Tiếp tục đào tạo gắn lý luận với thực tiễn nhằm phát triển năng lực, phẩm chất người học, phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với phát triển giáo dục và đào tạo Nghiên cứu nâng cao phương pháp dạy học, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý giáo dục và giảng dạy trong nhà trường Ngoài ra, chú trọng giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học Hạn chế những tiêu cực trong
Trang 10công tác thi cử, kiểm tra để đánh giá đúng năng lực của người học Phát triển giáo dục ở các cấp, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nơi điều kiện kinh tế – xã hội còn gặp nhiều khó khăn
Với những nỗ lực đổi mới của toàn Đảng, toàn dân, ngành giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cơ bản được hoàn thiện Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học; duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông Cụ thể, cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học
cơ sở mức độ 1, trong đó có 19/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ 2, mức độ 3,
Tiếp đó, công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả hơn Công tác đổi mới thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng được triển khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên, được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng đào tạo đại học có nhiều chuyển biến tích cực cùng với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên có nhiều chuyển biến tích cực
Đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, toàn ngành tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành giáo dục Lần đầu tiên, toàn ngành giáo dục đã xây dựng cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục
ở các cấp học Công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi trong các trong các hoạt động dạy và học; dạy học qua internet, trên truyền hình được thực hiện mạnh mẽ, nhất là trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19 đang diễn ra
Một số hạn chế trong giáo dục thời kì mới là: Công tác quản lý nhà nước, quản trị nhà trường còn bất cập, trách nhiệm còn chồng chéo; tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để ở một số địa phương;