Chuyển hướng giáo dục phổ thông trong thời kì chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc (1965 - 1975)

Một phần của tài liệu Lịch sử giáo dục việt nam (Trang 129 - 134)

Từ tháng 8/1964, đế quốc Mỹ gây chiến tranh leo thang phá hoại miền

Bắc, ném bom xuống các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Quảng Ninh, mở đầu thời kì đưa không lực, hải quân ồ ạt đánh phá miền Bắc. Ngày 05/8/1965, Phủ Thủ tướng ra Chỉ thị 88/TTg về việc chuyển

hướng công tác giáo dục trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phương hướng chính là tiếp tục phát triển giáo dục, chuyển hướng để giáo dục phục vụ nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước, phù hợp với tình hình thời chiến, bảo đảm an toàn cho học sinh trong học tập, gắn chặt hơn nữa hoạt động của nhà

trường với sản xuất, chiến đấu. |

Với “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ trên mặt trận giáo dục”, ngành giáo dục đã có những chủ trương, biện pháp tổ chức kịp thời để chuyên hướng giáo dục.

Thứ nhất, tổ chức công tác phòng không, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho

thầy và trò. |

Các trường ở các thành phố lớn, thị xã, thị trắn, những đầu mỗi giao thông, những điểm tập trung dân cư lớn đã khẩn trương thực hiện việc sơ tán

về các vùng nông thôn, xa thành phó, tiếp tục duy trì việc day va hoc 6 tat cả các cấp học, bậc học, ngành học... Công việc sơ tán, phân tán hàng nghìn

lớp học, hàng triệu học sinh được tiến hành cấp tốc, nhanh chóng với sự

đóng góp rất to lớn của thầy trò, phụ huynh học sinh và nhân dân địa phương.

Tổ chức tốt việc đào hầm hào quanh trường, quanh lớp học, nguy trang lớp

học, thực hiện khẩu hiệu “Cua có hẳm hào tốt chưa khai giảng”, “Thà tốn công sức hơn lò tốn xương máu”. Học sinh di học phải đeo vòng nguy trang, đội mũ bện bằng rơm.

Nhờ làm tốt công tác phòng không, đảm bảo an toàn cho thầy và trò như trên nên mặc dù trong điều kiện chiến tranh thiếu thốn, gian khổ và hết sức ác liệt, quy mô giáo dục vẫn tiếp tục được mở rộng. Nhiều người trong

đội ngũ các thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến

đầu. Mặc dù việc mở rộng quy mô giáo dục trong chiến tranh đã có hạn chế

đến chất lượng giáo dục toàn diện, nhưng những thành tích duy trì và phát

triển giáo dục trong hoàn cảnh thời chiến mà chúng ta đạt được trong thời kì này là rất đáng khâm phục.

Thứ hai, cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp

với tình hình thời chiến và yêu cầu bảo đảm chất lượng.

Trên thực tế miền Bắc lúc đó có ba vùng tình hình chiến sự khác nhau:

vùng phòng thủ bình thường, vùng trực tiếp bị uy hiếp và vùng trực tiếp chiến đấu. Vì vậy, Bộ Giáo dục đã quy định hai chương trình A và B để áp

dụng cho các vùng. Chương trình được tỉnh giản bớt nhằm bảo đảm học

những kiến thức cơ bản nhất. Giáo viên tăng cường các hoạt động hướng dẫn tỉ mi để học sinh tự học một số vấn đề trong chương trình. Các lớp học có khi được tổ chức phân tán, tận dụng các thời điểm an toàn như buổi trưa,

buổi tối, hoặc tổ chức học ba ca...

Thứ ba, tăng cường công tác giáo đục tư tưởng chính trị và đạo đức trong nhà trường.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước càng ác liệt thì càng cần thiết phải nâng cao ý thức giác ngộ, niềm tin và lòng quyết tâm cống hiến của thế hệ trẻ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc đến ngảy toàn thắng.

Vì vậy, ngày 03/7/1965 Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 102-CT/TW về

việc “7ðng cường giáo đục tư tưởng chính trị đạo đức trong giáo viên và học sinh’.

Công tác giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức đã được tăng cường thông qua việc dạy và học các môn chính trị, đạo đức, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác — Lênin, lí tưởng và đạo đức cộng sản chủ nghĩa, đường lối chính sách và nhiệm vụ cách mạng, giáo dục truyền thông yêu nước, đoàn kết, tự lực tự cường, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho học sinh.

Trong chương trình văn học, bổ sung nhiều tác phẩm mới phản ánh thực

tiễn đấu tranh anh đũng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nước, như “Người mẹ cẩm súng”, “Sống như anh”, “Em Ngọc”. Nhà

trường đã tổ chức cho học sinh tham gia nhiều hoạt động thực tiễn như

truyền tin chiến thắng, mít tỉnh lên án tội ác của giặc Mỹ gây ra trên cả hai

miền Nam Bắc, lao động trên các công trường, đồng ruộng hợp tác xã, thăm

hỏi các chiến sĩ ở trận địa pháo binh... Những hoạt động như vậy rất có tác dụng trong việc nâng cao ý thức tư tưởng chính trị và đạo đức cách mạng của học sinh. Trong nhà trường xuất hiện nhiều tắm gượng vừa học tập tốt, lao động tốt và phục vụ chiến đấu giỏi. Tắm gương em Nguyễn Bá Ngọc ở Quảng Xương (Thanh Hoá) hi sinh thân mình cứu em nhỏ, đã trở thành biểu tượng sáng chói của thiếu niên Việt Nam anh hùng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhiều học sinh sau khi ra trường hoặc có khi còn đang học đở dang đã tự nguyện đi nghĩa vụ, lên đường nhập ngũ để bảo vệ Tổ quốc. Tuổi

trẻ anh hùng xuất hiện ở khắp nơi với những điển hình tiêu biểu như Trịnh Tố Tâm, Nguyễn Viết Xuân, Lê Mã Lương...

Thứ tư, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước. `

_ Phong trào thi đua “Hai zốf” được phát động từ năm 1961 đã được day

mạnh lên một bước nhằm xây dựng nhà trường thực sự là một đơn vị chống Mỹ cứu nước. Tháng 12/1966, Hội nghị liên hoan các chiến sĩ thi đua toàn ngành được tô chức. Hội nghị đã trao cờ thi đua cho 21 đơn vị tiên tiến xuất sắc tiêu biểu và tuyên đương thành tích của 135 đơn vị tiên tiến thuộc 28 địa phương trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Ngành giáo dục có đồng chí

Nguyễn Văn Huê, hiệu trưởng Trường cấp I Hải Nhân (Thanh Hoá) được

Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và có 9 giáo viên khác là Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Hàng trăm đơn vị được tuyên dương và số tổ lao động xã hội chủ nghĩa mỗi năm một tăng nhiều hơn: năm học 1964 — 1965 có 276 tỗ, đến năm học 1967 — 1968 đã tăng lên 616 tổ lao động xã hội chủ nghĩa.

Thứ năm, giáo dục năng khiếu được chú trọng để đào tạo và chuẩn bị nhân tài cho đất nước.

Công tác giáo đục và bồi dưỡng học sinh giỏi đã được ngành Giáo dục quan tâm ngay từ khi phát động phong trào thi dua “Hai t6r”. Tu nam 1966,

công tác này được đẩy mạnh hơn ở tất cả các cấp học; ngoài hai môn Văn,

Toán, còn chú ý bồi dưỡng học sinh giỏi ở các môn Sinh, Sử, Địa, Vật lí.

Riêng việc bồi dưỡng học sinh giỏi hai môn Văn và Toán đã trở thành một

hoạt động mạnh ở các cấp cơ sở. Theo Quyết định số 198/CP ngày 14/9/1965 của Chính phủ, tại các trường Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Vinh và một sỐ tỉnh mở một số lớp năng khiếu về văn và toán ở cấp III. Trường Đại học Ngoại ngữ mở lớp năng khiếu về ngoại ngữ. Học sinh được tuyển chọn qua các kì thi học sinh giỏi

hang năm và được hưởng chế độ học bổng ưu đãi của Nhà nước. Trong 3 năm (1965 — 1968), riêng môn Toán đã mở được 50 lớp với 2000 học sinh theo học. Hang năm Bộ Giáo dục tổ chức các kì thi học sinh giỏi toàn miền Bắc về các môn Văn, Toán và đã có nhiều giải học sinh gidi, xuất sắc được lựa chọn qua các kì thi quốc gia này.

Nhờ những biện pháp chuyển hướng đúng và kịp thời như trên, giáo dục phô thông tiếp tục được phát triển, quy mô được mở rong, mac dù trong hoàn cảnh chiến tranh hết sức ác liệt. Mạng lưới giáo dục phổ thông bám rễ sâu tới từng thôn, xã. Tính đến trước khi cuộc chiến tranh phá hoại miền

Bắc lần thứ hai (1971), ở miền xuôi, xã nào cũng có 1, 2 trường cấp I, trung bình cứ 5 xã thì 4 xã có trường cấp II, huyện nào cũng có trường cấp II, có huyện có đến 2 trường.

Bên cạnh việc phát triển số lượng các trường học ở các cấp, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục cũng được hết sức coi trọng. Ngày 14/02/ 1968, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 169-CT/TW về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục với phương hướng chung là: “trên Cơ SỞ nâng cao chất lượng, ra sức phần đấu nhằm đáp ứng những yêu câu học tập cấp bách của nhân dân ta và yêu cầu đào tạo lực lượng cán bộ và lao động có kĩ thuội, đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng dé dua su nghiệp giáo duc trong cả nước tiễn mạnh mẽ và có chất lượng tốt hơn nữa trong những năm sau”.

Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, nhiệm vụ trung tâm của giáo dục trong 3 năm (1968 — 1970) được xác dinh 1a “ddo tao, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản If’, đồng thời tiếp tục đây mạnh phong trào thi dua dạy tốt, học tốt trong toàn Ngành, điều chỉnh lại vấn đề giáo dục lao động sản xuất trong nhà trường. Lao động sản xuất trong nhà trường là nhằm mục đích đảm bảo tốt các yêu cầu giáo dục và gop phan lam tang thêm của cải vật chất cho xã hội. Trong Hội nghị tong kết những bài học mới của các điển hình tiên tiến do Ban khoa giáo Trung ương, Bộ Giáo dục

và Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh tổ chức tháng 6/1971, nhiều kinh nghiệm của các trường được giới thiệu, tiêu biểu là ba

“tượng đài” anh hùng giáo dục, điển hình tiên tiến xuất sắc được tuyên dương trong toàn ngành đó là: Trường phổ thông cấp II Bắc Lý (nay là

Trường THCS Bắc Lý, Lý Nhân, Hà Nam) với minh triết giáo dục “Tất cả vi hoc sinh thân yêu”; Trường Thanh niên Lao động Xã hội chủ nghĩa Hoà Bình (nay là Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hoà Bình) với sự tổ chức “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” và Trường xã Cẩm Bình.

Tháng 4/1972, để quốc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, trường học trở thành một trong những mục tiêu đánh phá huỷ diệt của chúng. Chỉ trong vòng 3 tháng sau khi gây chiến tranh, 150 ngôi

trường trên miền Bắc đã bị ném bom, riêng năm học 1972 — 1973 bom Mỹ

đã phá huỷ 130 ngôi trường, hàng nghìn phòng học, hàng trăm phòng thí nghiệm. Một lần nữa các trường phải cấp tốc sơ tán, phân tán để đảm bảo an toàn và duy trì, giữ vững hoạt động dạy học trong điều kiện chiến tranh ngày càng khốc liệt hơn.

Tháng 01/1973, Hiệp định Paris được kí kết, hoà bình lập lại trên miền Bắc. Giáo dục Việt Nam bước vào xây dựng hoà bình ở miền Bắc. Hàng

chục vạn trường lớp, hàng triệu học sinh từ nơi sơ tán trở lại thành phó, thị xã, khu tập trung. Công việc tô chức lại hoạt động của các trường gặp vô vàn khó khăn, có nhiều trường phải xây dựng lại từ đầu cơ sở vật chất, trường sở, lớp học, bàn ghế, đồ dùng dạy học, nhiều học sinh đã bỏ học trong chiến tranh nay quay trở lại học tiếp tục. Nhu cầu học tập của con em các tầng lớp nhân dân sau chiến tranh tăng lên nhanh chóng, trong khi cơ sở vật chất nhà trường chưa kịp phục hồi và xây dựng mới. Chỉ sau 2 năm học, số học sinh phô thông ở ba cấp ở miền Bắc đã tăng từ 4.675.727 (năm học 1972 — 1973) lên tới 5.248.055 (năm học 1974 — 1975). Có nhiều trường đã phải tổ chức những lớp học 3 ca, có nơi tới 4 ca một ngày, bình quân mỗi lớp lên tới 60 học sinh. Thực tế đó đòi hỏi phải có những biện pháp giải quyết cấp bách để đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân tăng lên sau chiến tranh. Chính phủ đã ra quyết định huy động mọi khả năng của . nhân dân, huy động lực lượng bộ đội, cán bộ các cơ quan tham gia vào tu bổ, xây dựng trường sở, tao dé ding day học, khôi phục lại các nên nếp dạy học, quản lí nhà trường. Phong trào thi đua làm theo các trường tiên tiến lại tiếp tục được đấy lên sôi nổi. Tuy vậy, việc hàn gắn vết thương chiến tranh không thể một sớm một chiều, việc khắc phục những hậu quả khắc nghiệt

do chiến tranh để lại đòi hỏi thời gian nhất định và sự nỗ lực vượt bậc của

toàn dân, đặc biệt là sự nỗ lực to lớn của đội ngũ giáo viên và học sinh ở tất cả các cấp học.

5. Miền Bắc tích cực chỉ viện cho sự nghiệp giáo dục giải phóng ` ở miền Nam

Ngay từ những năm đầu tiên sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi,

_ Đảng và Chính phủ đã chỉ thị cho ngành Giáo dục phải quan tâm tổ chức tốt

việc đào tạo con em miền Nam tập kết ra Bắc. Nhiều trường học sinh miền Nam đã được thành lập ở một số tỉnh, thành miền Bắc. Trong suốt thời kì

chống Mỹ cứu nước, ngành Giáo dục miền Bắc đã không ngừng chỉ viện

cho miền Nam về nhiều mặt: tăng cường chỉ viện cán bộ quản lí giáo dục, đội ngũ giáo viên, tài liệu, sách giáo khoa, đồ dùng dạy học. Hàng nghìn cán bộ, giáo viên được cử vào Nam công tác, hơn 2.000 tấn sách và tài liệu được

gửi vào Nam bằng các con đường để hỗ trợ xây dựng giáo dục ở những

vùng giải phóng miền Nam.

Tháng 10/1962, Tiểu ban giáo đục miền Nam trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương cục được thành lập. Ngày 20/11/1963, Hội Nhà giáo yêu nước

miền Nam Việt Nam ra đời. Tháng 4/1964, Đại hội giáo dục toàn miền Nam lần thứ nhất khai mạc để thống nhất đường lối giáo dục, phương hướng,

biện pháp xây dựng giáo đục trong kháng chiến chống Mỹ.

Trung ương cục và Tiểu ban giáo dục miền Nam đã có những chỉ thị về nhiệm vụ và phương hướng công tác giáo dục, nội dung tập trung vào những điểm sau:

+ Ra sức xây dựng, phát triển mạnh mẽ một nền giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng, gồm đầy đủ các ngành học: mẫu giáo, phố thông và bổ túc văn hoá để đáp ứng nhu cầu học tập của con em, của cán bộ, chiến si va nhan dan.

+ Ra sức tuyên truyền vận động, giáo dục, tập hợp giáo chức trong vùng tạm chiếm, xây đựng cơ sở cách mạng, đặc biệt là học sinh, sinh viên, _ hình thành một mặt trận đấu tranh chống nền giáo đục nô dịch của địch, góp

phần vào cuộc đấu tranh cách mạng chung của nhân dân vùng tạm chiếm.

Một phần của tài liệu Lịch sử giáo dục việt nam (Trang 129 - 134)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)