Đến cuối thế ki XIX (1898), về cơ bản, thực dân Pháp đã bình định
xong nước ta, từng bước củng cô bộ máy cai trị thuộc địa và bắt tay vào khai thác thuộc địa trên phạm vi cả nước. Song song với những chính sách
bóc lột cực kì tàn khốc về kinh tế, đàn áp đã man vẻ chính trị, thực đân Pháp
thi hành một chính sách văn hoá giáo dục nô dịch nhằm thực hiện âm mưu
chính trị là đồng hoá dân tộc ta.
Pháp là một đế quốc thực dân già cỗi (Pháp đã từng xâm lược nhiều
thuộc địa trên thế giới như Algerie, Tunisia, Maroc, Madagascar, Tay Phi, một phần Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Campuchia) và chỉ đứng sau đế quốc Anh về điện tích thuộc địa. Kinh nghiệm lịch sử đã dạy cho chính phủ thực dân Pháp thấy rằng: Tuy đã khuất phục đối phương bằng quân sự, nhưng đó chỉ là biện pháp tạm thời. Các dân tộc thuộc địa sẽ không ngoan ngoãn để cho chúng yên bề thống trị nếu không tiếp tục đầu độc, làm suy thoái tỉnh thần phản kháng và trỗi đậy lâu đài của dân tộc đó, nhất là đối với một dân tộc đã có một lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, có một nền văn hoá lâu đời hơn nước Pháp.
Năm 1897, Paul Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương. Vừa đến Hà Nội, ông ta đã gửi về Paris một bức điện mật như sau: “Nhân đân toàn xứ hẳu như đã bị quật xuống dưới quyên thống trị của chúng ta nhưng họ chưa phải đã thắm nhuân tính chất vĩnh viễn của nền đô hộ Pháp và họ sẵn sàng nắm lấy một thời cơ thuận lợi hay một giây phút yếu đuối của chúng ta để lật nhào cái ách nặng trên cổ".
Vì lẽ đó, sau khi những tên lính viễn chỉnh đã làm xong nhiệm vụ xâm lăng thì thực dân Pháp đặc biệt chú ý đến chính sách văn hoá giáo đục, xem
giáo dục như là một công cụ chắc chắn nhất để thực hiện mưu đồ “chỉnh
phục tâm hồn” những người dân thuộc địa.
Điều này được thể hiện rõ hơn trong tuyên bố ở Hội nghị thuộc địa Paris năm 1906: “Sau khi những tên lính viễn chỉnh đã làm xong nhiệm vụ bình định bằng quân sự thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ”.
Chính sách ngu dân có nghĩa là làm cho dân ngu đi để đễ bề cai trị. Làm
cho dân ngu bằng rượu, bằng thuốc phiện và bằng chính sách giáo dục nô
dịch phản động.
Song, chính sách ngu dân này được nguy trang dưới những chiêu bài
“chấn hưng nền học” của người bản xứ, núp dưới những luận điệu lừa bịp là đem “ngọn đuốc văn minh” đến “khai phá” cho các dân tộc còn lạc hậu.
Thực chất của chính sách ngu dân là nhằm tấn công trực diện vào nền văn hoá dân tộc, hòng tiêu diệt ý chí độc lập, tự do, truyền thống vẻ vang bất
khuất chống xâm lược của nhân dân ta nhằm nô dịch hoá, ngu dốt hoá, ban
cùng hoá, gieo rắc tâm lí bệnh hoạn, tự tỉ, khiếp SỢ Uy quyền “Đại Pháp”.
Mục đích của chính sách này là làm cho các tầng lớp người Việt ngoan ngoãn, cúi đầu phục tùng sự thống trị của thực dân Pháp, thừa nhận sự cai
trị của “nước mẹ” bảo hộ, thực hiện mưu đồ đồng hoá lâu dài dân tộc ta.
Mục đích này đã bị lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc công khai vạch trần trong phiên họp Đại hội Quốc tế cộng sản tháng 8/1928 như sau: “Ở Đông Dương,
người ta tìm đủ mọi cách để đầu độc chúng tôi bằng thuốc phiện và làm cho
chúng tôi ngu sỉ bằng rượu. Mọi người đều biết rằng, trong khi xâm lược thuộc địa, chủ nghĩa để quốc đem theo cảnh giết người, cướp của, trộm cắp,
đem theo bệnh giang mai, rượu chè, thuốc phiện. Mọi người đều biết rằng,
để đặt ách thống trị của chúng, thực dân đã phá hoại tất cả những phong tục tập quán và tất cả nền văn minh của dân tộc bị xâm chiếm. Mọi người đều
biết rằng, muốn biến một dân tộc thành nô lệ, thì phải làm cho dân tộc đó
càng ít văn hoá chừng nào càng tốt chừng ấy”.
Chính vì vậy mà thực dân Pháp tìm mọi biện pháp để ráo riết thi hành chính sách giáo dục ngu dân.
2.2. Các chủ trương mới trong lĩnh vực trường học
Để nhanh chóng á áp đặt tư tưởng nô dịch, thực dân Pháp đã nhanh chóng nắm lấy các công cụ sắc bén đó là trường học và các trung tâm sinh hoạt văn
hoá giáo dục, với những biện pháp sửa đi, cải cách để hướng nhà trường và
các trung tâm sinh hoạt văn hoá phục vụ cho mục đích ngu dân. Các biện pháp chúng sử dụng đều mang tính chất hai mặt: vừa mềm dẻo, ru ngủ, mị dân, vừa cứng rắn và cưỡng bách, đe doạ bằng vũ lực.
* Thực dân Pháp nắm lấy nhà trường với mục đích:
~ Đào tạo tay sai, nhân viên thực hành, đội ngũ công nhân chuyên nghiệp, thợ lành nghề phục vụ cho yêu cầu khai thác thuộc địa.
— Thông qua nhà trường, phổ biến nền văn hoá giáo dục nô dịch phản động, thực hiện mưu đồ đồng hoá rat lâu đài đối với dân tộc ta, đặc biệt là việc đầu độc, đồng hoá thế hệ trẻ.
Thông qua việc dạy học và giáo dục trong nhà trường, nhằm làm cho
o>
thế hệ trẻ hiểu nền văn minh Pháp, hiểu “ngôn ngữ đẹp đế” của nền văn
chương và văn hoá Pháp. Chúng hi vọng rằng học sinh bản xứ sẽ dần dần Pháp hoá, sùng bái văn chương Pháp, từ đó lãng quên hoặc coi khinh nền văn hoá cỗ truyền của dân tộc và sẽ trở thành người dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc.
Như vậy, ở đây ta thấy nảy sinh một mâu thuẫn: Một mặt muốn làm cho dân ngu dễ trị phải kìm kẹp, giam hãm dân trong vùng ngu dốt tối tăm, phải.
hạn chế việc mở trường; mặt khác do nhu cầu của việc đào tạo tay sai, phô biến văn hoá giáo dục nô dịch phải mở trường.
Vì vậy cần thấy rõ một điều, việc mở trường không phải xuất phát từ thiện tâm khai hoá của thực dân Pháp mà xuất phát từ âm mưu nô dịch, đồng hoá, thi hành chính sách ngu dân và khai thác kinh tế, tài nguyên ở thuộc địa, từ nhu cầu đào tạo bộ máy tay sai và âm mưu ru ngủ, đầu độc tinh thần của thế hệ trẻ.
Các loại trường đào tạo tay sai cho bộ máy cai trị của chính quyền thực dân, đào tạo viên chức nhỏ, tuỳ phái, thừa hành được mở ra cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp trong thời kì này.
* Đối tượng, thành phần được học:
Toàn quyền Paul Doumer thú nhận: “Nhưng vì hiện nay, những phương tiện giáo dục của chúng ta không cho phép với tới quảng đại quân chúng, mà chỉ hạn chế những sự cỗ gắng của chúng ta cho một thiểu số, cho nên can phải có sự lựa chọn kĩ càng. thiểu số đó. Phải coi giáo dục như một thứ của quý không thể đem phân phát cho bất kì ai mà phải hạn chế sự ban ơn đó, cho những người được thừa hưởng xứng đáng. Hãy chọn những học sinh cha ching ta, trước hết trong đám con em những người cam dau, con em những bậc kì hào”.
Vì vậy, trước hết thực dân Pháp dành đặc quyền đặc lợi cho con em những người giàu có, tư sản, địa chủ phong kiến và tầng lớp trên trong xã hội được vào học những loại trường do Pháp mở ra.
— Năm 1862: Mở trường đào tạo thông ngôn. Thành phần là lấy những
người trung thành với Pháp vào học. Hiệu trưởng là một viên cố đạo.
Trong buổi đầu xâm lược, Pháp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp xúc, tìm hiểu phong tục, lịch sử, văn hoá, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội... của dân tộc bản xứ. Chứng còn “bất đồng ngôn ngữ”, cho nên phải nhờ các giáo sĩ Pháp biết tiếng Việt, hoặc những người Việt biết lõm bõm tiếng La tỉnh
làm thông ngôn. Để đây mạnh tốc độ xâm lược và khai thác thuộc địa, phải nhanh chóng mở trường đào tạo một lớp thông ngôn.
— Năm 1871: Mở trường sư phạm lấy tên là Trường Giám mục Bá Đa Lộc
(Pigreau de Behaine, một viên cô đạo có công truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam và dọn đường cho sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản Pháp) nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên tiểu học phục vụ cho việc phổ biến nền văn hoá nô
dịch của Pháp tới các tỉnh, huyện. Năm 1874, trường này đổi thành trường
trung học đầu tiên ở Nam Kì, tức trường Sát-Sơ Lê Lu Ba sau này.
- Năm 1873: Thống đốc Dupré cho thành lập Ban học chính, gồm những người Pháp thông hiểu tiếng Việt, chữ Nho để nghiên cứu việc tổ chức giáo dục ở Nam Kì.
~ Giai đoạn 1874 — 1878: Mở trường “Hậu Bê” để đào tạo những thanh tra dân sự người Pháp.
— Trường Nho sĩ: thu hút những nhà nho thân Pháp, “bất tài lỡ vận”
đang muốn ngoi lên kiếm chác chút ít danh vọng trong chính quyền thực dân.
— Nam 1885: Nam Kì có sáu trường đào tạo quan cai trị Pháp gọi là
“Tham biện”.
— Trường “Pháp chính” trong “Đại học cục” cung cấp quan cai trị cho chính quyền thực dân ở các địa phương.
— Năm 1912: Trước tỉnh hình có những học sinh Việt Nam lén lút xuất
- đương du học, thực dân Pháp buộc phải mở “trường đại học” nhưng tuyển chọn hết sức khắt khe, leo lên đến bậc này chủ yếu là con em địa chủ, tư sản và học xong phần lớn trong số họ phục vụ trung thành và đắc lực cho chính quyền thực dân.
Trong suốt 80 năm thống trị ở Đông Dương, thực dân Pháp chỉ mở duy nhất một trường Đại học (cho cả Việt Nam, Lào, Campuchia) và chỉ có ba khoa Luật, Y dược, Khoa học. Số sinh viên đại học năm cao nhất chỉ có 800 người.
Bên cạnh đó, chính quyền Pháp còn mở các loại trường chuyên nghiệp đào tạo lớp công nhân va thợ tương đối lành nghề phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa. 7
— Năm 1898: Khi vừa hoàn thành công cuộc xâm lược, Pháp đã mở ngay hai trường đào tạo công nghiệp mỏ ở Hà Nội, Sài Gòn.
— Năm 1899: Mở trường đào tạo công nhân: thợ điện, thợ đúc, thợ rèn, thợ cơ khí... ở Huế.
— Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất, do nhu cầu vơ vét lúa gạo, nhân tài vật lực để phục vụ cuộc chiến tranh, Pháp đã mở trường “Thực
nghiệm nông nghiệp” ở Bến Cát (Nam Kì) và Tuyên Quang (Bắc Kì).
— Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất: Mở trường kĩ nghệ thực hành ở
Sài Gòn, Hải Phong, Hué, trường Kĩ thuật ở Hà Nội, Gia Dinh, trường cơ giới Á Đông.
— Một số các cơ quan nghiên cứu cũng được thành lập để phục vụ cho mục đích tăng cường khai thác thuộc địa như: Sở địa chất, Sở địa lí, Sở
kiểm lâm, Sở thú y...
— Khoa nông nghiệp trong Đại học cục đào tạo kĩ sư canh nông với mục đích tăng cường khai thác kinh tế nông nghiệp, khai thác lúa gạo xuất cảng...
Việc thi hành chính sách ngu dân còn thể hiện ở chỗ hạn chế việc mở trường, giới hạn quyền học tập ở mức thấp nhất đối với con em nhân dan lao động.
Ở Việt Nam, khi sử dụng giáo dục làm một chính sách ngu dân, thực dân Pháp thấy giáo dục có hại hơn có lợi, kinh nghiệm đã cho chúng biết
việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dot.
Vì vậy năm 1924 Toàn quyền Martial Henri Merlin thi hành một chương trình “cải cách giáo dục” rất nguy hại. Tên thực dân cáo già này viện lẽ rằng 9/10 học sinh nông thôn Việt Nam không đủ sức theo học đến bậc sơ học
cho nên chính quyền thực dân chỉ cần mở những loại trường sơ học là đủ với đối tượng này. Y đề ra một chương trình phát triển giáo dục “theo chiều
nằm”, chứ không phải theo chiều đứng. Ở các vùng nông thôn chỉ cẦn mở loại trường Ấu học và Sơ học, còn càng lên cao càng hạn chế khắt khe, “phải
coi giáo dục như một thứ của quý không thể ban phát cho tất cả mọi người”.
Theo số liệu trong “Đông Dương niên giám thống kê” năm 1936 — 1937:
+ Bậc sơ học: (Lớp vỡ lòng, lớp 1) bình quân 3 làng, dân số 3000 người có 1 trường sơ học với số học sinh 60 người (2% dân số).
+ Bậc tiểu học: (Lớp 2, 3, 4) bình quân 34 làng, dân số 30 000 người có 1 trường tiểu học với 115 học sinh (0,4% dân số).
+ Bac cao dang tiểu học: (có 4 lớp đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ) tương đương với bậc trung học cơ sở hiện nay. Cả Việt Nam năm học 1936 — 1937 có l6 trường cao đẳng tiểu học. Tỉ lệ học sinh cao đẳng tiểu học là 0,02%
(trong 1 vạn dân có 2 học sinh cao đẳng tiểu học).
_ + Bac trung hoc: Nam 1936 — 1937 đến trước Cách mạng tháng Tám thành công, trên toàn cõi Việt Nam chỉ có 3 trường trung học công, số học sinh là 369. Bình quân là 123 học sinh/ 1 trường và cứ một triệu dân mới có 19 học sinh trung học, tỉ lệ là 0,0019%.
Những con số trên là bằng chứng hùng hồn nhất chứng minh thực chất của chiêu bài “khai hoá văn minh” mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam - dưới thời Pháp thuộc.
- Hệ thống trường công do chính quyền thực dân mở ra nhìn về hình thức có vẻ ưu thế hơn số trường công do nhà nước phong kiến mở, nhưng đó cũng chỉ là chuyện hình thức và số lượng. Vấn đề quan trọng hơn, quyết định hơn là ở nội dung và tư tưởng giáo dục trong nhà trường. Thực dân Pháp đã tiến hành những cải cách đỗi mới nội dung, tư tưởng giáo dục cũ, thay vào đó là tư tưởng giáo dục thực dân thuộc địa, đồng thời xúc tiến “cải _ cách học thuật” và văn tự.
Nền văn hoá giáo dục của Việt Nam trước khi Pháp xâm lược chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hoá phương Bắc. Muốn áp đặt tư tưởng ngu dân
thuộc địa, phải thay đổi ảnh hưởng đó, phải làm cho người Việt Nam bất
đầu từ thế hệ trẻ hiểu rõ nước Pháp, sùng bái, chấp nhận một cách tự nhiên sự bảo hộ của nước Pháp.
Về mặt hình thức, thực dân Pháp dân dan thay thế hệ thống trường Hán
học bằng hệ thống trường mới gọi là trường tiểu học Pháp — Việt. Hệ thống này được thay đổi hoàn toàn từ sau khi toàn quyền Albert Pierre Sarraunt ban hành quy chế chung về giáo dục (21/12/1917).
Về nội dung các môn học:
+ Các môn khoa học tự nhiên tuy được đưa vào chương trình khá nhiều như: Toán, Lí, Hoá, Sinh nhưng nặng về lí thuyết, thiếu những tri thức gắn
với thực tiễn Việt Nam, thiếu phần thực hành.
+ Các môn khoa học xã hội như Văn học, Lịch sử, Địa lí, Triết học, Công dân giáo dục đều theo như sách dùng bên Pháp hoặc biên soạn lại dé
tăng cường tính chất nô dịch, phản dân tộc, phản khoa học. -
Dạy về Lịch sử Việt Nam, sách viết: “Tổ tiên ta là người xứ Gô-loa;
xứ Đông Dương thuộc Pháp gồm 5 xứ: Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì, Ai Lao,
Cao Miên và không có nước Việt Nam trên bản đồ thế giới”.
Dạy về văn học, lịch sử Pháp: Những vấn để có liên quan đến chính trị, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi.
Có học lịch sử nước Pháp nhưng người ta không hề đả động đến cuộc cách mạng tư sản Pháp là cuộc cách mạng điển hình ở châu Âu. Các tác phẩm cua Hugo, Rutxo va Montesquieu — nhiing nha tư tưởng tiến bộ của thời đại lúc đó đều bị cắm dạy trong nhà trường.
Để xúc tiến việc du nhập nền văn hoá tư bản vào thuộc địa, chính phủ Pháp ra quyết định đổi mới văn tự: hạn chế sử dụng chữ viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm mà thay thế nó bằng chữ Pháp và chữ Latinh. Ngày 22 tháng 02 năm 1869, thực dân Pháp ban hành nghị định dùng chữ Quốc ngữ! thay thế chữ Hán trong các công văn ở Nam Kì. Nghị định số 82 ngày 06 tháng 4
năm 1878 do Thống đốc Nam Kì Laffon kí đã định ra giới hạn bắt buộc mọi
ngôn ngữ truyền thống phải chấm đứt và được thay thế bằng chữ Quốc ngữ,
đã có một tác động sâu sắc và làm thay đổi tận gốc rễ nội dung và cách thức
đổi mới và phát triển giáo dục ở Việt Nam. Trong nhà trường, giờ học chữ Hán bị cắt xén, giờ học tiếng Pháp được tăng cường. Những giáo viên có uy tín, trung thành, giỏi về ngôn ngữ, lịch sử, văn học, sùng bái văn hoá Pháp được lựa chọn vào đội ngũ giảng dạy. Với thứ ngôn ngữ mới, trang nhã thanh tao hơn tiếng Hán đã kích thích đồng loạt học sinh “bỏ bút lông, cầm bút sắt”. Tiếng Việt từ các bậc sơ học đã bị coi là ngôn ngữ thứ yếu.
__ Việc thực dân Pháp quyết liệt huỷ bỏ chữ Hán dưới hình thức cải cách giáo dục, song đây chính là một biện pháp nhằm nhanh chóng đây mạnh tốc độ du nhập nền văn hoá giáo dục Pháp vào thuộc địa, đồng hoá thế hệ trẻ Việt Nam, giành giật ảnh hưởng đối với nền văn hoá phong kiến dân tộc cũ.
Điều quan trọng nữa, thực dân Pháp thấy chữ Hán lúc đó (khoảng đầu thế kỉ XX) đang được các sĩ phu yêu nước sử dụng để truyền bá tư tưởng yêu nước và bài Pháp trong nhân dân, thông qua các sách dịch từ chữ Hán để du nhập những tư tưởng tiến bộ của Cách mạng tư sản ở phương Tây vào Việt Nam. Đây cũng là một biện pháp của nhà cầm quyền nhằm ngăn chặn những tư tưởng yêu nước tiễn bộ vào Việt Nam lúc đó.
: Một loại chữ của tiếng Việt được xây dựng dựa trên các kí tự chữ Latinh do các nhà truyền giáo phương Tây ở Việt Nam, đứng đâu là nhà truyền đạo người Pháp Alexandre de Rhodes (1591 — 1660) tạo ra những năm đâu thế kỉ XVII.
? Lê Ngọc Trụ (1993), Chữ quốc ngữ từ thế kỉ XƯI dén cudi thé ki XIX, trích Tuyển tập Ngôn ngữ văn tự Việt Nam, sô 1, Dòng Việt, tr.30 — 47.