1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình nhập môn luật học

428 22 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình nhập môn luật học
Tác giả TS. Viên Thế Giang, TS. Bùi Hữu Tồn
Người hướng dẫn Ths. Võ Thị Mỹ Hương, Ths. Ls. Tô Hoàng Phúc
Trường học Học viện Luật quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 428
Dung lượng 8,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NHÀ XUẤT BẢN Nhập môn luật học đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về - hiện tượng pháp luật giúp người học định hình hiện tượng pháp luật trong đời sống xã hội, trong mối tương quan vớ

Trang 1

Giáo trinh Nhập môn

HULU | XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SU THAT

20138826

Trang 2

TS VIÊN THẾ GIANG - TS BÙI HỮU TOÀN (Đông chủ biên)

GIAO TRINH

NHAP MON LUAT HOC

NHÀ XUẤT BAN CHINH TRI QUOC GIA SU THAT

Trang 3

Đồng chủ biên

T9 VIÊN THẾ GIANG T8 BÙI HỮU TỘN Biên soạn

Trang 4

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Nhập môn luật học đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về -

hiện tượng pháp luật giúp người học định hình hiện tượng

pháp luật trong đời sống xã hội, trong mối tương quan với

các quy phạm xã hội khác; xác định hướng tiếp cận, nghiên cứu, luận giải, lập luận, vận dụng khi nghiên cứu ở

các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành; cung cấp các học

thuyết pháp luật cơ bản, các khái niệm nền tảng mà nhờ

đó, người học có thể dễ dàng tiếp nhận các khái niệm mang tính chuyên sâu, bản chất hơn trong các lĩnh vực

pháp luật chuyên ngành

Nhằm góp phần cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu,

tham khảo cho giảng viên, sinh viên các trường đại học,

cao đẳng, trung cấp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Giáo trình nhập môn Luật học của tập thể tác giả do TS Viên Thế Giang và TS Bùi Hữu Toàn đồng chủ biên

Cuốn sách được chia thành 9 chương, trình bày những vấn đề cơ bản nhất cho người mới bắt đầu học tập, nghiên cứu lĩnh vực luật học, bao gồm: Khái niệm, giới hạn và cách tiếp cận nhập môn luật học trong hệ thống khoa học pháp lý;

Các học thuyết cơ bản về pháp luật; Nhà nước: chủ thể sáng tạo và bảo đảm pháp luật được thi hành; Cơ chế điều chỉnh

pháp luật: hình thức thể hiện giữa nhu cầu thiết lập trật tự

Trang 5

xã hội của nhà nước và sự tiếp nhận của đối tượng chịu tác động của pháp luật; Nguồn của pháp luật, hình thức và hệ thống pháp luật; Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý; Nghề luật: đặc điểm, kỹ năng và quy định của pháp luật; Phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học luật; Tư duy pháp lý, tư duy phản biện trong đào tạo cử nhân luật

Cuốn sách cung cấp những tri thức có tính khái quát,

cơ bản về pháp luật nói chung; đồng thời dẫn chứng từ các luật, bộ luật của Việt Nam nói riêng

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn

và biên tập, song đây là vấn đề rất phức tạp, luôn biến động và thay đổi nên cuốn sách khó tránh khỏi còn hạn .chế, thiếu sót Nhà xuất bản và các tác giả rất mong nhận

được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện nội dung cuốn sách trong lần xuất bản sau

Xin giới thiệu cuốn sách đến bạn đọc

Tháng 3 năm 2020

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Tìm hiểu, học tập, nghiên cứu hiện tượng pháp luật

luôn thu hút được sự quan tâm của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội Hiểu luật để hành xử đúng luật, giảm thiểu rủi ro cho bản thân cũng như cho người khác là nhu cầu rất chính đáng Đồng thời, sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm đòi hỏi người sử dụng pháp luật cần được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để tự mình có thể tìm kiếm, vận dụng, giải thích pháp luật trong những trường hợp cụ thể

Đối với các tân sinh viên, khi rời ghế trường phổ thông bước vào môi trường giáo dục đại học với nhiều điều mới mẻ đồi hỏi người học phải từng bước làm quen với hoạt động học tập theo hướng chủ động lấy tự học làm điều cốt yếu Để có thể tự học hiệu quả, người học cần được trang bị nguồn tư liệu để vừa tiếp nhận tri thức, vừa có thể tự tìm hiểu, mở rộng, nâng cao kiến

thức về lĩnh vực, ngành, nghề đào tạo, các kỹ năng là

việc làm rất cần thiết

Thực tế cho thấy, học tập, nghiên cứu lĩnh vực pháp

luật đòi hỏi người học không chỉ thuộc, nhớ kỹ các điều

Trang 7

luật trong các văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải hiểu rõ nguyên lý của từng lĩnh vực pháp luật Những nguyên lý nền tảng cho mỗi lĩnh vực pháp luật được thể

hiện trong các học thuyết, quan điểm, quan niệm của

các nhà tư tưởng Ở khía cạnh này, chúng ta đang tiếp cận, làm rõ vấn đề pháp luật ở góc độ lý luận pháp luật

từ khởi thủy cho đến quá trình phát triển, gắn liền với truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia

Khi pháp luật được ban hành, nhà nước, tổ chức, cá

nhân sẽ tổ chức thực hiện pháp luật, nghĩa là đưa các quy định pháp luật vào đời sống thực tiễn Thông qua

việc tổ chức thực hiện pháp luật, hiện tượng pháp luật

được tiếp cận, phân tích, đánh giá trong mối quan hệ với đời sống xã hội của nhà nghiên cứu, người làm công tác

thực tiễn cũng như các tổ chức, cá nhân trong đời sống

xã hội ÖỞ khía cạnh này, pháp luật là hiện tượng xã hội

mang tính lịch sử, gắn hền với hành vi pháp lý của mỗi

tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội Nội dung, tính chất của pháp luật (ở khía cạnh lý luận lịch sử nhà nước

và pháp luật) được thể hiện trong đời sống xã hội (phù hợp hay không phù hợp, dân chủ hay không dân chủ, vì con người hay là cản trở việc thực hiện quyền con người)

Hiện tượng pháp luật được đánh giá, kiểm chứng trong

thực tiễn quản lý, vận hành quyền lực nhà nước; giải

quyết mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, ghi nhận,

bảo đảm quyển con người trong thực tiễn

Trang 8

Do biện tượng pháp luật gắn liền với đời sống xã hội, người đọc, người học tập, nghiên cứu, sử dụng pháp luật cần phải có một nền tảng kiến thức, kinh nghiệm sống cần thiết Đây là điều vô cùng khó khăn đối với các tân sinh viên - những người trẻ, thiên về các lựa chọn cảm tính Do đó, lựa chọn cách đặt vấn để, học tập nghiên cứu

hiện tượng pháp luật thật dung dị, phù hợp với đặc điểm

tâm sinh lý lứa tuổi luôn là trăn trở của người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu lĩnh vực pháp luật

Là cuốn sách mang tính chất nhập môn cho nghiên cứu, học tập lĩnh vực pháp luật nên mục tiêu đầu tiên

là cung cấp các kiến thức nền tảng, khởi đầu cho việc

học tập, nghiên cứu pháp luật Bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp thêm các kiến thức, kỹ năng mang tính chuyên môn giúp người đọc có thể đi sâu vào nghiên cứu từng lĩnh vực pháp luật cụ thể Để đạt được mục

tiêu cung cấp kiến thức nền tang, cdc tac giả lựa chọn cách đặt vấn đề, tiếp cận khoa học nhà nước và pháp luật thiên về mô tả, cung cấp các kiến thức cơ bản từ việc hệ thống hóa quan điểm, học thuyết phổ biến về nhà nước và pháp luật trên cơ sở làm rõ các khái niệm, phạm trù cơ bản về nhà nước và pháp luật đến việc chỉ

dẫn các nguồn tư liệu để người học có thể tra cứu và

làm rõ thêm

Để đạt được mục tiêu cung cấp thêm các kiến thức,

kỹ năng mang tính chuyên sâu, các tác giả tập trung

Trang 9

làm rõ nội dung tư duy pháp lý, tư duy phản biện, nghiên cứu khoa học luật Bên cạnh đó, các tác giả còn tập trung làm rõ bản chất của nghề luật và các kỹ năng, thao tác nghề luật cơ bản cần được rèn luyện và đưa ra trong chương trình đào tạo nghề luật để giúp cho hoạt động đào tạo ngành luật gắn chặt hơn với đòi hỏi của thực tiễn

Học tập, nghiên cứu là một quá trình liên tục, trong

đó có những sai sót do các nguyên nhân chủ quan cũng ` như khách quan Nội dung giáo trình cũng không thể tránh khỏi những điểm còn tranh luận, mang tính chủ quan của những người biên soạn và không tránh khỏi những sai sót Những sai sót đó thuộc về các tác giả của công trình này và mong người đọc lượng thứ Đồng thời, các tác giả cũng rất mong nhận được ý kiến đóng góp của sinh viên, học viên, bạn đọc gần xa để ngày càng hoàn thiện nội dung cuốn sách, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập, nghiên cứu của quý độc giả

Trân trọng cảm ơn!

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 10

Chương 1

KHÁI NIỆM, GIỚI HẠN VÀ CÁCH TIẾP CẬN NHAP MON LUAT HOC TRONG HE THONG

KHOA HOC PHAP LY

Pháp luật luôn mang tinh phổ biến, tính xã hội và thường xuyên được sử dụng! nên pháp luật gắn liền với đời sống con người một cách rất tự nhiên Pháp luật có mối liên quan chặt chẽ từ hành vi xử sự của con người đến các trật tự xã hội mà Nhà nước kỳ vọng thiết lập

trong phạm vi quốc gia nên pháp luật cũng là hiện tượng thường xuyên thay đổi cho phù hợp với diễn tiến

này Tiến trình thiết lập, thay đổi hệ thống pháp luật hay từng văn bản quy phạm pháp luật đều có tác động trực tiếp đến trật tự xã hội (đó có thể là trật tự tự nhiên đang ổn định hay cũng có thể là sự dịch chuyển, biến động của trật tự xã hội cho phù hợp với quy định pháp

luật mới) Dù luôn thay đổi, song hoạt động lập pháp

hay xây dựng pháp luật luôn chịu ảnh hưởng của một

1 Xem Jean-Claude Ricci: Nhap mén luat hoc, Nha Phap luật Việt - Pháp, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002, tr.3-5

Trang 11

hoặc một số học thuyết pháp lý có giá trị soi dẫn cho các hoạt động lập pháp Một triết lý hay học thuyết pháp luật tốt là nền tảng rường cột cho một hệ thống pháp luật tốt, ổn định Ngược lại một triết lý, học thuyết pháp lý mang tính tiêu cực (như nhấn mạnh đến yếu tố

bạo lực, bành trướng thông qua dùng vũ lực ) hay lạc hậu không phù hợp hoặc không theo kịp sự biến động

của đời sống xã hội sẽ trở thành lực cần vô cùng to lớn

cho sự phát triển xã hội Nghiên cứu lĩnh vực pháp luật

đòi hỏi người thực hiện phải được trang bị những kiến thức nền tảng để có thể làm quen và đi sâu vào từng

lĩnh vực pháp luật chuyên sâu hơn

I NHẬP MÔN LUẬT HỌC: CƠ SỞ CHO ĐÀO TẠO, HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU CHO CỬ NHÂN LUẬT

1 Cung cấp các khái niệm khoa học pháp lý cơ bản làm nền tảng cho học tập, nghiên cứu pháp luật chuyên ngành

Do pháp luật là hiện tượng xã hội có lịch sử phát

triển lâu dài và phức tạp nên việc nghiên cứu hiện

tượng pháp luật luôn là vấn đề khó, nhất là đào tạo

luật theo kiểu hàn lâm, từ bậc phổ thông lên đại học -

do người học chưa có nhiều kiến thức xã hội, kinh

nghiệm sống để cảm nhận hiện tượng pháp luật nên

việc trang bị cho người học các kiến thức cơ bản, nền

tảng cho việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn trong các

Trang 12

lĩnh vực pháp luật chuyên ngành là rất cần thiết

Nhập môn luật học đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về

hiện tượng pháp luật giúp người học định hình hiện

tượng pháp luật trong đời sống xã hội (trong mối tương

quan với các quy phạm xã hội khác), xác định hướng

tiếp cận, nghiên cứu, luận giải, lập luận, vận dụng khi

nghiên cứu ở các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành Từ

cái nhìn tổng quan đó, nhập môn luật học thiết lập các nén tang co ban thông qua việc cung cấp cho người học các học thuyết pháp luật cơ bản, các khái niệm nền

tảng mà nhờ đó, người học có thể dễ dàng tiếp nhận

các khái niệm mang tính chuyên sâu, bản chất hơn

trong các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành

2 Làm quen với các thao tác, kỹ năng nghiên

cứu pháp luật

Nghiên cứu hiện tượng pháp luật không thể không

xem xét và đặt hiện tượng pháp luật trong mối tương quan với nhà nước, cách thức vận hành quyền lực nhà nước cũng như các thiết chế xã hội, người dân cũng như tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi Đây là cơ sở cho việc hình thành pháp luật thực định - một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật mang

tính nội dung, trong đó có chứa đựng quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi

lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất

Trang 13

định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện"

Các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành vừa

là công cụ, phương tiện để nhà nước thực hiện việc quản

lý xã hội, vừa là đối tượng nghiên cứu trong cấu trúc chương trình đào tạo cử nhân luật Chính vì thế, nhập môn luật học cung cấp cho người học các thao tác, kỹ năng cần thiết để thực hiện việc nghiên cứu pháp luật

từ sơ đẳng (thông qua việc nhận diện vấn đề pháp lý,

lựa chọn quy phạm, đề xuất cách xử lý, cách lập luận, dẫn dắt, phân tích giải quyết vấn đề pháp lý ) cho đến thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học mang tinh hàn lâm như thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, hoàn thành khóa luận để được nhận bằng tốt nghiệp, tiếp tục học lên bậc sau đại học, viết các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý Nói cách khác, nhập môn luật học có trách nhiệm đặt các “viên gạch” đầu tiên, mang tính nền móng để người học dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu, học tập chương trình cử nhân luật với kỳ vọng, các thao tác kỹ năng cần thiết cho sinh viên luật, yêu cầu rèn luyện tư duy pháp lý sẽ được thể hiện và sử dụng thường xuyên trong các học phần pháp luật chuyên ngành

1 Khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp

luật năm 2015

Trang 14

3 Du nhập kiến thức khoa học pháp lý mới và

yêu cầu đổi mới quan niệm, cách tiếp cận với các

vấn đề khoa học luật

Tiến trình phát triển và hội nhập làm cho những anh hưởng của pháp luật nước ngoài tới pháp luật Việt Nam là tất yếu Ảnh hưởng của hệ thống pháp luật này đến hệ thống pháp luật khác là mối quan hệ giữa

hệ thống pháp luật của các quốc gia, trong đó đã hoặc đang diễn ra sự chuyển hóa của các yếu tố pháp luật của quốc gia này vào trong cấu trúc của pháp luật quốc gia kia Sự ảnh hưởng có thể là tích cực, hoặc tiêu cực hay tác động qua lại Đồng thời với sự ảnh hưởng pháp

luật, thì việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài vào Việt

Nam cũng đang diễn ra mạnh mẽ Thuật ngữ “tiếp

nhận pháp luật” được hiểu là sự chủ động hay bị động

(hoặc bị áp đặt) thu nạp nhiều hay ít những “yếu tế

của pháp luật” Sự tiếp nhận chịu ảnh hưởng bởi nhiều

yếu tố như sự ảnh hưởng khách quan của pháp luật

từng mức độ, sự sáng tạo, chọn lọc những giá trị phù

hợp hay không phù hợp của chủ thể tiếp nhận, nhu cầu của chủ thể tiếp nhận pháp luật ! Sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài, trong bối cảnh Việt Nam, cần có

1 Xem Hoàng Văn Đoàn, Mai Văn Thắng: “Ảnh hưởng của pháp luật phương Tây đến pháp luật Nhật Bản trong lịch sử và

những giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, t.34,

số 8 (2018), tr.61

Trang 15

sự nghiên cứu công phu, nghiêm túc cùng những để chiếu, so sánh, từ đó học hỏi, vận dụng những giá tr tiên tiến nhất, phù hợp nhất đối với hệ thống phái luật và điều kiện của nước nhà và cũng cần cẩn trọn;

để tránh sự thiếu thống nhất trong việc tiếp nhận, xây dựng pháp luật khi học hỏi quá nhiều nền pháp luậ khác nhau và cần phải biết kết hợp với những giá tr pháp luật truyền thống của Việt Nam' Trong gia đoạn hiện nay, khoa học pháp lý Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ, ngoài việc “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (Điều 4 Hiến pháp năm 2013) còn phải đáp ứng yêu cầu Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là lên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều 2 Hiến pháp năm 2013) thì việc tiếp nhận các tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại về nhà nước và pháp luật là rất cần thiết Điều này đặt ra đòi hỏi các cử nhân luật tương lai phải được trang bị các kiến thức mang tính nền tảng về khoa học nhà nước và pháp luật không chỉ

-1, Xem Hoàng Văn Đoàn, Mai Văn Thắng: “Ảnh hưởng của pháp luật phương Tây đến pháp luật Nhật Bản trong lịch sử và

những giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay”, Tidd, tr 68

Trang 16

ở khía cạnh lý luận truyền thống do đặc điểm thể chế chính trị mà còn phải được đặt trong mối tương quan với hệ thống tư tưởng, quan điểm về nhà nước và pháp luật phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Cụ thể: Thứ nhất, hệ thống hóa các nội dung cơ bản về nhà

nước và pháp luật được thể hiện ở các học thuyết phổ

biến về nhà nước và pháp luật trong tiến trình lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại để người học có thể nhận _điện được tính thống nhất cũng như điểm khác biệt trong việc luận giải bản chất, nguồn gốc của phấp luật

Từ nội dung các học thuyết cơ bản này người học có được

các góc nhìn khác nhau để nhận diện, nghiên cứu các

vấn đề khoa học về nhà nước và pháp luật, hướng tới các khả năng phê phán, lập luận, phân tích, đánh giá tính

hợp lý, sự giới hạn của các học thuyết về nhà nước và

pháp luật cũng như có thể dễ dàng tiếp nhận các tri thức

về nhà nước và pháp luật với các nét đặc thù:

- Pháp luật có ngôn ngữ riêng mà chúng ra cần làm quen, nhất là khi pháp luật thường dùng đến những từ đời thường nhưng mang một ý nghĩa xa với ý nghĩa thông thường của chúng' Khi nghiên cứu và học tập các môn học pháp luật chuyên ngành, người học phải tự

bồi dưỡng, nâng cao năng lực ngôn ngữ pháp luật Ngôn

ngữ pháp luật được thể hiện trước hết và chủ yếu trong

các văn bản quy phạm pháp luật, sau đến là các phán

1 Xem Jean-Claude Ricci: Nhập môn luật học, Sảd, tr.5

17

Trang 17

quyết của tòa án, trong các quyết định hành chính, các văn bản quản lý, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước Ngoài việc gia tăng về ngôn ngữ pháp lý, người học cần phải có những hiểu biết nhất định về đời sống xã hội, về các quan hệ kinh tế trong các lĩnh vực chuyên sâu để từ đó, người học luật có thể giải thích căn nguyên hay cơ sở của các quy định pháp luật, nghĩa là

không có pháp luật từ hư vô, mọi quy định pháp luật, khi được ban hành, đều có “cái lý? của nó để tổn tại

trong đời sống xã hội Luận giải căn nguyên, nguồn gốc của các quy định pháp luật trong quá khứ cũng như hiện hành cần phải được dựa trên các nền tảng lý

thuyết pháp luật cơ bản được chứa đựng trong các học

thuyết về nhà nước và pháp luật

- Pháp luật cũng là một bộ môn đặc biệt vì nó dựa trên những thể loại mà chính nó thiết lập nên và lập

luận dựa vào những thể loại đó, tức là pháp luật có

riêng cho mình cách phân loại và dựa trên cách phân

loại đó để thực hiện các suy đoán với cách lập luận và phân tích trong ngành luật là rất chính xác! Nhiệm vụ

trung tâm của người học tập và nghiên cứu các lĩnh vực pháp luật là lấy chính hệ thống văn bản quy phạm

pháp luật, bao gồm pháp luật quốc gia, pháp luật quốc

tế làm đối tượng nghiên cứu dựa trên các đặc thù của quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của từng lĩnh

1 Xem Jean-Claude Ricci: Nhap mén luật học, Sđd, tr.6

18

Trang 18

vực pháp luật Sự phân chia hệ thống pháp luật thành các ngành, lĩnh vực pháp luật, trong chừng mực nhất định chỉ mang ý nghĩa cho việc nghiên cứu, giảng dạy trong trường đại học Khi áp dụng pháp luật, do tính

thống nhất, sự đan xen của các lĩnh vực pháp luật cũng như sự đa dạng của quan hệ xã hội đòi hỏi người ấp

dụng pháp luật phải có sự suy xét, lập luận, phân tích

và rút ra các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết, quy định pháp luật được dùng để giải quyết vấn đề pháp lý

- Theo tác giả Vũ Văn Mẫu, pháp luật vừa là một

khoa học, vừa là một nghệ thuật Với tư cách là một khoa học, pháp luật phải dựa trên sự quan sát khách

quan các sự kiện diễn ra trong đời sống kinh tế - xã

hội Trong quá trình quan sát, nghiên cứu, áp dụng

pháp luật, các luật gia thường phải giải thích các quy phạm pháp luật, đưa ra cách giải quyết vấn đề pháp lý dựa trên các quy định này Đồng thời, người áp dụng

pháp luật (luật gia) cũng có trách nhiệm kiến tạo

những quy tắc mới hoàn hảo hơn, tiến tới gần hơn lý tưởng công bằng tuyệt đối Với sự kiến tạo quy tắc

pháp luật mới, các luật gia đã hoàn tất một công trình trong đó óc kiến tạo và nghệ thuật giữ một vai trò rất

quan trong’

1 Xem Vũ Văn Mẫu: Pháp luật thông khảo, chương trình

cử nhân luật năm thứ nhất, tập I - Pháp luật khái luận, giảng

văn dùng riêng cho sinh viên, Sài Gòn, 1974, tr.29, 31

Trang 19

Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá đặc thù của từng

ngành hay lĩnh vực pháp luật theo cách thức phân chia

của khoa học pháp lý Thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy cho thấy, mỗi lĩnh vực pháp luật có đặc trưng riêng, phản ánh sự khác biệt trong đối tượng điều chỉnh của các ngành hay lĩnh vực pháp luật Điều này đặt ra đòi hồi, người học phải phân biệt được đặc thù trong điều chỉnh, áp dụng, thực thi pháp luật với việc nghiên cứu pháp luật như đã phân tích ở trên Để có thể nghiên

cứu pháp luật chuyên ngành tốt, người học cần phải có

những hiểu biết nhất định về kinh tế, chính trị, xã hội

liên quan đến ngành hoặc lĩnh vực pháp luật chuyên

ngành Chẳng bạn, để nghiên cứu tốt lĩnh vực luật

ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, người học cần phải

có được một số kiến thức kinh tế về hoạt động ngân

hàng, hoạt động chứng khoán cũng như hoạt động kinh

doanh bảo hiểm Từ đặc thù về kinh tế, người học có thể

dé dàng luận giải được các quy định khấắt khe về điều kiện thành lập doanh nghiệp, kiểm soát tài chính, yêu

cầu bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, chứng khoán cũng như kinh doanh bảo hiểm

II HƯỚNG TIẾP CẬN NHẬP MÔN LUẬT HỌC

1 Nhập môn luật học và khoa học pháp lý

Thuật ngữ khoa học luật hay luật học được dịch từ

thuật ngữ “Jurisprudence” bắt nguồn từ thuật ngữ

Trang 20

Latinh “Juris prudentia” có nghĩa là việc nghiên cứu, kiến thức, hoặc khoa học luật (khoa học pháp lý) Ở Mỹ, thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa rộng hơn là triết lý hay triết học của pháp luật! Ở Việt Nam, các nghiên cứu làm rõ nội hàm của khoa học luật không có nhiều?

và thuật ngữ được sử dụng phổ biến là khoa học pháp lý hay luật học Luật học được coi là một trong những khoa học cổ xưa nhất, có lịch sử lâu đời, được thể hiện trong các tư tưởng, học thuyết chính trị - pháp lý của

1 Xem cụ thể:

- Jurisprudence, http://legal-dictionary.thefreedictionary com/jurisprudence

- Jurisprudence: an overview, https://www.law.cornell.edu/ wex/jurisprudence

- Jurisprudence, https://en.wikipedia.org/wiki/Jurispru- dence

2 Xem thém:

- Hoàng Thị Kim Quế: “Khoa học lý luận chung về nhà nước

và pháp luật: Truyền thống và hiện đại, kế thừa và đổi mớ?,

Tap chi Nhà nước và Pháp luật, số 8 (124)/1998, tr.20-25

- Hoàng Thị Kim Quế: “Một số vấn đề cơ bản về khoa học pháp lý nước nhà”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 5 (24)/2004,

tr.3-7

- Hoàng Thị Kim Quế: “Các khoa học lý luận - lịch sử về

Nhà nước và Pháp luật trong hệ thống các khoa học pháp lý và chương trình đào tạo luật học ở nước ta”, Tạp chí Nhà nước và

Pháp luật, số 3 (191)/2004, tr.18-25

- Hoàng Thị Kim Quế: “Triết học pháp luật trong hệ thống

các khoa học pháp lý”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,

nh tế - Luật, số 23, (2007), tr 49-B6, 50

Trang 21

nhân loại bao gồm hệ thống toàn diện, đây đủ các tri thức về nhà nước và pháp luật được thể hiện từ việc

tổng hợp những khái niệm, phạm trù, quan điểm,

nguyên tắc; những quy luật về sự xuất hiện, tổn tại và

phát triển của nhà nước và pháp luật, có tính liên

ngành và đa ngành cao! Đối tượng nghiên cứu của nhập môn luật học bao gồm: 1) Các học thuyết, quan điểm phổ biến về nhà nước và pháp luật; ii) Thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, là đời sống

pháp luật liên quan đến hoạt động xây dựng, thực thi

pháp luật Nhập môn luật học tiếp cận và làm rõ hiện tượng nhà nước và pháp luật từ khởi thủy (nguồn gốc) cho đến hiện thực của nhà nước và pháp luật nhằm làm

rõ tính tất yếu, xu hướng phát triển phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn xã hội, được nhìn nhận trong dòng chảy tri thức của nhân loại, không đề cập nhiều đến yếu tố giai cấp của khoa học nhà nước và pháp luật

2 Nhập môn luật học dưới góc độ lịch sử

Về phương diện lịch sử, từ trạng thái không có nhà

nước và pháp luật, trong xã hội nguyên thủy, mỗi cộng

đồng người nguyên thủy có những quy tắc tổ chức riêng biệt Khi nhà nước xuất hiện, con người tìm cách luận

1 Xem Hoàng Thị Kim Quế (Chủ biên): Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

2005, tr.11-12

Trang 22

giải về nguồn gốc nhà nước, nên vấn đề nguồn gốc nhà nước luôn là chủ đề nổi bật trong cuộc đấu tranh tư tưởng trên thế giới ở mọi thời đại! Cũng vậy, khi xã hội phát triển, các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán trong xã hội nguyên thủy không còn đủ sức để điều chỉnh quan hệ xã hội đã dẫn tới yêu cầu phải hình thành nên các quy tắc xử sự mới thể hiện ý chí và bảo

vệ lợi ích của giai cấp thống trị Sự xuất hiện của các quy phạm pháp luật không chỉ thuần túy từ nhu cầu cai trị của nhà nước, không chỉ là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị mặc dù đó là phần chủ yếu Pháp luật xuất hiện còn để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội của con người, củng cố, xác lập trật tự xã hội, thiếu trật tự đó, không một cộng đồng, một xã hội nào có thể tồn tại được? Như vậy, về phương diện lịch sử, chủ đề nguồn gốc nhà nước và pháp luật là cơ sở quan trọng cho việc hình thành các học thuyết về nhà nước và pháp luật, từ đó những học thuyết này trở thành “kim chỉ nan?” cho việc xây dựng và hiện thực hóa tư tưởng về nhà nước và pháp luật vào thực tiễn của các quốc gia Chính vì vậy, luật học phản ánh cuộc đấu tranh về tư tưởng trong xã hội để tìm ra những “hạt nhân hợp lý” trong quan điểm, tư tưởng, học thuyết về nhà nước ở thực tại các quốc gia Các tranh luận về nguồn gốc, bản

1, 2 Xem Hoàng Thị Kim Quế (Chủ biên): Giáo trình Lý

luận chung về nhà nước và pháp luật, Sđd, tr.61, 271

Trang 23

chất của nhà nước tạo cơ sở cho việc thiết lập mô hình

tổ chức nhà nước, các lĩnh vực pháp luật

8 Nhập môn luật học ở khía cạnh thực tiễn

Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội

xuất hiện một cách khách quan Sự hiện diện của nhà nước và pháp luật trong đời sống xã hội đã dẫn đến những phần kháng của người dân (đối tượng bị quản lý) Hệ quả của những cuộc phản kháng đó là những điều chỉnh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, nội dung pháp luật, các thiết chế thực thi pháp luật Vì vậy, mục đích của luật học chính là đi tìm tiếng nói chung cho sự tôn tại của nhà nước và pháp luật với yêu

cầu phát triển của xã hội; đi tìm cơ sở khoa học cũng

như tạo sự ép buộc cho những người lãnh đạo đất nước

phải điều chỉnh mô hình tổ chức, nội dung pháp luật

để phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước cũng như bảo vệ tốt quyền lợi của người dân Do đó, nhập môn

luật học không chỉ mang tính định hướng mà còn góp

phần luận giải, làm rõ những vấn đề về bản chất, quy luật hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật; cung cấp hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý có tính quy luật của nhà nước và pháp luật; định hình các xu hướng phát triển các lĩnh vực luật

học để phát triển tri thức và ứng dụng trong thực tiễn

nghề nghiệp

Trang 24

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

NHẬP MÔN LUẬT HỌC Với tính chất nhập môn nên các vấn đề khoa học về

nhà nước và pháp luật đặt trọng tâm vào việc giới thiệu, hệ thống hóa các khái niệm, phạm trù, quan điểm, quan niệm làm nền tảng cho việc nghiên cứu các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành Về phương pháp, nội dung của nhập môn luật học được tiếp cận từ các kiến

thức cơ bản cho đến nâng cao, gắn liền với khoa học về nhà nước và pháp luật được phân tích, đánh giá, đề cập gắn liền với đặc thù của quan hệ xã hội (ở mức độ

khái quát nhất) Các lĩnh vực pháp luật chuyên sâu trong chương trình đào tạo không được coi là nội dung

chính Nếu có đề cập đến các lĩnh vực pháp luật

chuyên sâu thì chỉ mang tính minh họa hởn là việc

trình bày có hệ thống các vấn đề luật học chuyên sâu

Để nghiên cứu tốt lĩnh vực nhập môn luật học nói chung, các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành nói riêng,

cần sử dụng các phương pháp:

1 Phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành

Pháp luật là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh

vực khoa học xã hội khác nhau như triết học, kinh tế học, sử học do đó, khi nghiên cứu hiện tượng nhà nước và pháp luật cần phải đặt nó trong mối quan hệ

với các lĩnh vực khoa học xã hội khác Khi tiếp cận liên

Trang 25

ngành, đa ngành, người học sẽ nhận diện được tính chất quyết định của nhà nước và pháp luật trong việc thúc đẩy hay cần trở sự phát triển xã hội Điều này được lý giải ở chỗ, pháp luật có tính bắt buộc và định

hướng cho sự phát triển các quan hệ xã hội Một khi

pháp luật được ban hành, các trật tự xã hội được thiết lập, thì các chủ thể có liên quan tuân theo các quy định này lâu dần trở thành thói quen xử sự Do vậy,

khi ban hành quy định pháp luật để điều chỉnh hay

thiết lập trật tự xã hội, nhà nước cần cân nhắc thận

trọng để có sự lựa chọn tối ưu Thực tiễn lập pháp cho

thấy, nếu các quy định pháp luật không phù hợp với xã hội thì mục tiêu kỳ vọng thiết lập trật tự không đạt

được nên chi phí lập pháp là vô nghĩa, tức là không đạt được mục tiêu kinh tế (chi phí lập pháp) với mục đích

điều chỉnh hay thiết lập trật tự xã hội!

“Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu

và đào tạo luật học ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2018, truy cập tại địa chỉ: https://vass.gov.vn/ noidung/tintuc/Lists/KhoaHocCongNghe/View_Detail.aspx?Item Id=108, ngay 05/07/2019

Trang 26

cội nguồn của pháp luật, nghĩa là luận giải được lịch

sử hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật đặt trong bối cảnh quốc gia cũng như quốc tế Các yếu

tố truyền thống lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội, thói quen sinh hoạt, phong tục tập quán có ảnh hưởng

đáng kể đến việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật Mặt khác, phương pháp nghiên cứu lịch sử giúp người học giải thích được vì sao trong các giai đoạn lịch

sử của mỗi quốc gia có sự khác biệt về nhận thức, cách thức quy định (kỹ thuật lập pháp), sự phong phú về nội dung của pháp luật từ đó, người học có thể nhận

ra quy luật hình thành và phát triển pháp luật gắn với

lịch sử truyền thống của mỗi quốc gia

3 Phương pháp so sánh luật học

So sánh luật học được nhìn nhận không chỉ là phương pháp so sánh pháp luật ở mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của hệ thống pháp luật quốc gia cho tới

từng chế định cũng như các quy định cụ thể, mà còn so sánh pháp luật giữa các quốc gia khác nhau Điểm

tương đồng, sự khác biệt là những căn cứ khoa học cho những kiến nghị lập pháp có sức thuyết phục, góp phần bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế Dưới góc độ bội nhập quốc tế, phương pháp so sánh luật học giúp cho nhà đầu tư quốc tế có được lựa chọn đầu tư tối ưu, giảm thiểu rủi

Trang 27

ro trong đầu tư dựa trên việc tìm hiểu pháp luật của

nước tiếp nhận đầu tư So sánh luật học cũng giúp nhà nước thận trọng hơn trong việc áp dụng các biện pháp

trừng phạt hoặc lạm dụng quyền miễn trừ quốc gia khi

xử lý các vấn đề liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài

để tránh các tranh chấp không cần thiết với nhà đầu

tư nước ngoài

4 Kỹ năng bổ trợ cần thiết

Khoa học nhà nước và pháp luật gắn liền với hành

vi, cách xử sự của mỗi chủ thể pháp luật trong đời sống

xã hội, luôn gắn liền với các tình huống, điều kiện, hoàn cảnh cu thể mà ở đó đòi hỏi các chủ thể pháp luật phải

có những xử sự phù hợp với quy định pháp luật Để học

tập, nghiên cứu lĩnh vực pháp luật, ngoài việc hiểu được

nội dung, ý nghĩa của quy định pháp luật người học còn

phải được trang bị những kỹ năng cần thiết để trình

bày, lập luận, phân tích, hướng dẫn để bác bỏ hay bảo

vệ quan điểm của mình về một vấn đề khoa học pháp lý hay một vụ việc cụ thể Các kỹ năng của người học hay hành nghề luật không tự nhiên hình thành mà cần được rèn luyện lâu dài từ trên ghế nhà trường Trong phạm vi cuốn sách này đề cập đến một số kỹ năng cần thiết để học tập, nghiên cứu lĩnh vực pháp luật hiệu quả, cần được trang bị và thực hành thường xuyên ít nhất cho người học:

Trang 28

a) Phân tích, đánh giá, lập luận đáp ứng đồng thời yêu cầu giao tiếp và viết văn bản pháp luật, văn bản hành chính hoặc các văn bản khác gắn với thực hành nghề luật Thuyết phục người khác là kỹ năng nghề luật quan trọng mà mỗi người hành nghề luật phải sử dụng thường xuyên Để thuyết phục người khác thì người học luật phải tự rèn luyện cho mình thành thạo kỹ năng phân tích, đánh giá, lập luận Nếu không thành thạo kỹ năng viết, người hành nghề sẽ gặp nhiều khó khăn

trong công việc Kỹ năng phân tích, đánh giá, lập luận

được thể hiện ở các cấp độ:

- Lời nói và yêu cầu sử dụng ngôn từ, cấu trúc ngữ pháp, các loại câu phù hợp với môi trường, công việc và đốt tượng tiếp nhận thông tin: Thực chất của kỹ năng lập luận ở cấp độ lời nói lên quan nhiều đến hoạt động

giao tiếp, gắn với đặc thù của môi trường diễn ra trong

hoạt động giao tiếp như môi trường học đường, môi trường làm việc và đặc thù của đối tượng tiếp nhận thông tin như giảng viên, bạn cùng lớp, người dân

- Đoạn văn, liên kết đoạn và cấu trúc logic của văn

bản: Trong nghiên cứu, đào tạo pháp luật, kỹ năng viết

rất quan trọng, vì để thể hiện được mong muốn thiết lập trật tự xã hội (của nhà nước) hay tiếp nhận, giải quyết công việc (của công chức) cũng như tìm kiếm khách hàng, bao gồm tiếp nhận thông tin, giải quyết yêu cầu khách hàng, giao tiếp với khách hàng (đối với tổ chức, cá nhân hành nghề luật) thì việc thành thạo kỹ

Trang 29

năng viết là một trong những bí quyết góp phần thành công của người hành nghề luật (trong tương lai) hay cé thể đạt được điểm cao trong các kỳ thi hay hoàn thành các bài luận nhóm (khi còn ở giảng đường) Rèn luyện

kỹ năng viết đòi hỏi người học phải kiên trì Thông qua

kỹ năng viết, người học biết cách sắp xếp các luận điểm (để bảo vệ thân chủ hay luận điểm khoa học) theo một trật tự logic nhất định Từ trật tự logic trong văn bản, người học sẽ có được trật tự logic trong việc trình bày vấn đề pháp lý cho nhiều đối tượng tiếp nhận đa dạng như giảng viên, bạn học, khách hàng, người quản lý b) Tìm kiếm các nguồn của pháp luật, trong đó văn bản pháp luật là quan trọng nhất

Như đã đề cập ở trên, đối tượng nghiên cứu chủ yếu

và quan trọng nhất của chương trình đào tạo cử nhân luật là các văn bản quy phạm pháp luật Người học phải biết cách tìm kiếm các văn bản này cho từng học phần Bên cạnh nguồn văn bản quy phạm pháp luật, người học cũng cần đọc các án lệ được công bố để học cách lập luận và rút ra các luận điểm của án lệ; tìm kiếm các tập quán để làm phong phú thêm tri thức về các nguồn luật cũng như khả năng phân tích, đánh giá, lập luận

e) Tìm đọc các công trình chuyên khảo và chuyên gia trong các lĩnh vực pháp luật

Mỗi học phần, người học sẽ được giảng viên cung cấp một hệ thống danh mục tài liệu học tập khá phong phú, đa dạng từ các bài báo (phản ánh sự kiện), các bài

Trang 30

báo khoa học (uận giải một hoặc một số vấn đề khoa

học pháp lý) cho đến các công trình chuyên khảo (luận

giải một cách có hệ thống về một lĩnh vực chuyên sâu

của khoa học pháp lý) Các kết quả kỳ vọng này sẽ giúp

ích cho người thực hành nghề luật trong tương lai hiểu

được ngọn nguồn các vấn đề khoa học pháp lý từ lý luận

đến thực tiễn Thực tiễn hoạt động thực hành nghề luật đòi hỏi người hành nghề vừa thành thạo việc tìm kiếm,

sử dụng văn bản pháp luật, vừa có khả năng lập luận,

phân tích và văn bản hóa các lập luận, ý kiến

Thông qua việc đọc, tìm hiểu các công trình nghiên cứu chuyên sâu sẽ giúp người học:

- Tiếp cận được các vấn đề khoa học pháp lý sâu sắc,

Về chuyên gia pháp luật, trong môi trường học

đường là các nhà nghiên cứu, giảng viên các trường đại

học, cao đẳng Việc định hình chuyên gia nghiên cứu pháp luật thường được xác định dựa trên các công bố

khoa học mà chuyên gia công bố Thông qua việc tìm

Trang 31

hiểu các công trình công bố, người học sẽ biết chuyên gia pháp lý có thế mạnh ở lĩnh vực pháp luật nào để có

thể tìm hiểu công trình nghiên cứu, học hỏi, trao đổi

chuyên môn khi có điều kiện

d) Tìm hiểu môi trường kinh tế - xã hội, nhất là các

bản án, quyết định của cơ quan nhà nước để phát triển

tư duy độc lập, phát biểu, bảo vệ quan điểm cá nhân

Xã hội không ngừng vận động và phát triển Qua

mỗi giai đoạn lịch sử, hiện tượng nhà nước và pháp luật theo đó mà biến đổi cho phù hợp Sự hợp lý, công bằng, phù hợp của pháp luật được đánh giá dựa vào nội dung các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước khi giải quyết các công việc cho nhân dân Nội dung các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước khi giải quyết các

công việc cho nhân dân không phải là ý chí chủ quan

của người có thẩm quyền mà đòi hỏi phải phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mà ở

đó, quy phạm pháp luật chịu tác động mạnh mẽ của các thiết chế văn hóa truyền thống lịch sử, cách nghĩ, lối hành xử truyền thống, ý thức pháp quyền Thông qua việc đọc, tìm hiểu bản án của tòa án, quyết định của cơ

quan hành chính nhà nước, người học từng bước nhận

diện, tiếp cận thực tiễn đời sống trong mối tương quan

với hiện tượng nhà nước và pháp luật để từ đó có những chuẩn bị tốt cho việc tiếp cận vào thực tiễn công việc

sau khi tốt nghiệp

Trang 32

Chương 2

CÁC HỌC THUYẾT CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

luận giải nguồn gốc của pháp luật luôn là vấn đề

trung tâm của các tranh luận từ khía cạnh chính trị cho

đến tính hợp lý của pháp luật trong đời sống xã hội nên có nhiều tranh luận liên quan đến bản chất của pháp luật

Sở dĩ có nhiều tranh luận về bản chất của pháp luật là do việc xác định hoặc miêu tả bản thể hay bản chất của pháp luật là một công việc rất khó khăn! và thường xuyên khơi

dậy những tranh cãi, song mọi người đều thừa nhận pháp

luật là phương tiện thay đổi xã hội, là trung tâm trong đời sống xã hội, chính trị, đạo đức và kinh tế?

Ngay từ thời cổ đại, các triết gia cũng tìm cách luận

giải, làm rõ nguồn gốc nhà nước và pháp luật, từ đó hình thành các trường phái pháp luật khác nhau Cho tới ngày nay, sự ảnh hưởng của các học thuyết pháp lý đối với xã hội đương đại vẫn còn rất lớn và đang đặt ra nhiều vấn đề

1 Jean-Claude Ricci: Nhap mén luat hoc, Sdd, tr.7

2 Raymond Wacks: Philosophy of Law: A very short

Introduction, Oxford University Press, 2006, tr.xii, 1-17

Trang 33

mang tính thời đại của pháp luật, chẳng hạn như điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực công nghệ cao', trí tuệ nhân tạo, cấp tư cách công dân cho robot hay giải quyết các vấn đề hiện nay liên quan đến biến đổi khí hậu và điều chỉnh pháp luật có trách nhiệm với tự nhiên, môi trường hoặc nghiên cứu quyền của động vật?, chấp nhận hôn nhân cùng giới tính hay các vấn đề pháp lý về người chuyển giới Nói cách khác, luận giải bản chất của pháp luật không chỉ là cơ sở cho việc hình thành các quan niệm, học thuyết khác nhau về pháp luật mà còn là những đòi hỏi cần được bổ sung trong nội dung pháp luật của các nước trong quá trình phát triển

I LUẬN GIẢI NGUỒN GỐC PHÁP LUẬT

LÀ NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH

CÁC HỌC THUYET VE PHAP LUẬT

1 Trường phái pháp luật tự nhiên?

Mô tả hoàn hảo nhất về luật tự nhiên là việc cung cấp tên gọi cho điểm gặp nhau giữa luật và đạo đức,

1 Xem Nguyễn Thị Quế Anh, Ngô Huy Cương: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách

pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018

2 Xem doan E Schaffner: An introduction to Animals and the Law, The Pralgave, 2009, Series Standing Order ISBN 978-

0-230-57686-5

3 Phần này chúng tôi tham khao tt: Raymond Wacks,

Philosophy of Law: A very short Introduction, Ibid, tr.1-17

Trang 34

điều gì vốn tự nhiên như thế nào thì phải để tự nhiên như vậy Theo quan điểm của John Finnis, nhà triết gia, luật sư và học giả người Australia, mọi luận giải

về luật chính là giúp chính ta nhận rõ điều gì là “tốt đẹp” Theo Ciceron, nhà triết gia, lý luận chính trị La

Mã, luật đích thực là lý lẽ đúng phù hợp với tự nhiên;

nó được áp dụng cho mọi người, bất biến và vĩnh cửu

Sẽ là một cái tội nếu cố gắng sửa đổi luật này, cũng như không được phép cố bãi bỏ thành phần nào của nó

và không thể hủy bỏ nó hoàn toàn [Thượng đế! là tác giả của luật này, là người ban hành và là quan tòa thực thi nó Trường phái pháp luật tự nhiên nhấn mạnh đến trách nhiệm bảo đảm các quyền tự nhiên của con người Mọi hoạt động lập pháp, nếu xa rời hoặc cản trở việc thực hiện các quyền tự nhiên của con người thì không được thừa nhận hoặc sẽ bị vô hiệu Dù trải qua các thăng trầm khác nhau trong lịch sử nhân loại, song giá trị và vai trò của trường phái pháp luật

tự nhiên đang ngày càng khẳng định lại vị trí của mình khi Liên hợp quốc nhấn mạnh đến khía cạnh đạo

lý của các quan hệ quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nhân quyền Điều này được thể hiện trong các bản tuyên ngôn và công ước quốc tế đa dạng và càng lúc càng dựa vào giả định không thành văn của luật tự nhiên rằng có cả một bộ sưu tập những chân lý đạo đức

mà nếu ứng dụng khả năng lý luận của chúng ta cũng

Trang 35

không thể nhận ra hoặc khó có thể luận giải hết ý nghĩa đích thực của nó

2 Trường phái pháp luật thực chứng!

Ý niệm về luật pháp như một mệnh lệnh nằm ở

trung tâm của thuyết thực chứng cổ điển về pháp lý

Các học giả hiện đại của trường phái pháp luật thực chứng chấp nhận cách tiếp cận khái niệm pháp luật phức tạp hơn nhiều, đồng thời phủ nhận mối liên hệ

với luật tự nhiên, giữa pháp luật với các chuẩn mực

đạo đức Các học giả này phê phán mạnh mẽ những định đề được rút ra từ tự nhiên qua một quá trình suy luận Cốt lõi của học thuyết pháp luật thực chứng được thể hiện ở chỗ, bất cứ luật nào cũng có thể được truy ra

từ một nguồn có thể xác minh một cách khách quan,

giống như thuyết thực chứng về khoa học, nghĩa là phải có sự phân biệt rõ ràng về cái “nên” (điều được mong ước về mặt đạo đức) và cái “hiện có” (điều thật

sự tồn tại) Hầu hết những người theo trường phái pháp luật thực chứng đều chỉ trích pháp luật và đề nghị biện pháp cải cách nó cho phù hợp với thực tiễn, trong đó bao hàm cả việc phán xét pháp luật dưới góc

độ đạo đức Việc yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ pháp

luật (trong trường hợp pháp luật không phù hợp hoặc

1 Xem Raymond Wacks: Philosophy of Law: A very short

Introduction, Ibid, tr.18-19

Trang 36

xâm phạm đến các quyền, tức là luật pháp bất công hoặc trái đạo lý) là không cần thiết và việc không tuân thủ các đạo luật bất công này là chính đáng nếu nó có thể đẩy mạnh sự thay đổi tiến tới cái tốt

Chủ nghĩa thực chứng pháp lý nhấn mạnh tới mối

liên hệ gắn kết của pháp luật với nhà nước, mà cụ thể

là pháp luật được quy định bởi nhà nước Việc được quy định bởi nhà nước được coi là dấu hiệu cơ bản nhất của pháp luật Theo đó, pháp luật có tính bắt buộc,

nên nguyên tắc “chỉ tuân theo pháp luật” là nguyên

tắc hoạt động của các cơ quan, tổ chức, bao gồm cả tòa

án, đồng thời, pháp luật phải mang tính hình thức pháp lý cao Quan niệm của chủ nghĩa thực chứng pháp lý cổ điển không chú trọng nhiều khía cạnh xã hội của pháp luật mà chủ yếu nhấn mạnh đến tính hình thức, thậm chí là tính kỹ thuật của các quy phạm

pháp luật Chính vì vậy, trong khi áp dụng pháp luật, người ta chỉ quan tâm đến logic hình thức, suy đoán ý

tứ của nhà làm luật từ câu chữ, mà ít để ý đến các hiện

tượng xã hội có liên quan đến quy định của pháp luật

Như W.Friedmanmn, một học giả người Mỹ đã nhận xét: “Chủ nghĩa hình thức là điểm mấu chốt của chủ nghĩa thực chứng pháp luật” Gắn liền với quan niệm này là yêu cầu về tính thể chế của pháp luật, thể hiện dưới dạng các chế định pháp luật, các cơ chế pháp lý,

sự tồn tại các quyền chủ thể được nhà nước quy định;

Trang 37

ít chú ý đến sự gắn kết giữa pháp luật với nền tảng dao đức của nó với tinh thần “luật là luật”!

3 Học thuyết Mác - Lênin về pháp luật

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước Những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của nhà nước cũng chính

là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật, pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội Thông qua nhà nước, pháp luật hình thành bằng các con đường: một là, nhà nước thừa nhận quy tắc xử sự có sẵn trong xã hội nhưng phù hợp với ý chí của nhà nước, nâng chúng lên thành pháp luật; hai là, nhà nước thừa nhận cách giải quyết các vụ việc cụ thể trong thực tế, sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc khác có tính tương tự; ba là, nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự Trong

sự hình thành pháp luật, nhà nước như “bà đổ”, làm cho pháp luật “hiện diện” trong đời sống với những hình thức xác định? Theo Mác và Ăngghen, pháp luật là sự phan

1 Đào Trí Úc: “Tư duy về nhà nước và pháp luật trong thời đại ngày nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7!2017,

https://vass.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/KhoaHocCongNghe/Vie w_ Detall.aspx?ltemTID=99, truy cập ngày 19/6/2019

2 Xem Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, tái bản lần thứ hai, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2018, tr.214-215

Trang 38

ánh của một thực tại cao hơn và hiện hữu hơn, thể hiện mối tương quan lực lượng đặc trưng cho một phương thức sản xuất nhất định Pháp luật không tổn tại như một thực thể riêng rẽ mà chỉ là cái tạo nên từ

mối tương quan lực lượng giữa các giai cấp trong xã

hội Khi đấu tranh giai cấp không còn nữa thì pháp luật cũng sẽ biến mất trong xã hội cộng sản, một xã hội không có giai cấp và không có nhà nước! Tư tưởng trung tâm của chủ nghĩa Mác coi pháp luật chỉ là một kiến trúc thượng tầng xã hội, là sự phản ánh của hiện thực các cơ sở hạ tầng xã hội, do đó cần phải xác định

rõ những yếu tố của hiện thực này Trong bối cảnh xã hội tư sản có hai gia1 cấp cơ bản là tư sản và vô sản thì nhà nước là công cụ bảo vệ giai cấp tư sản nên pháp luật phục vụ cho việc áp bức của nhà nước mà thực chất là của giai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật cũng có chức năng che đậy tính trấn áp của nhà nước, nhưng điểm khác biệt với nhà nước tư sản là được chấp nhận

về mặt đạo đức vì nó là chuyên chính của đa số đối với một nhóm nhỏ những cá nhân có đặc quyền? Đây cũng

là luận điểm mà các nhà khoa học phương Tây phê

phán học thuyết Mác vì đã quá nặng về việc lý giải yếu

1, 2 Xem Jean-Claude Ricci: Nhap mén luật học, Sđd, tr.13, 28-29

Trang 39

tố giai cấp! Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, pháp luật trong thế giới tư bản, nếu như

được xem là ý chí của giai cấp tư sản như Mác quan niệm đã trở nên linh hoạt và uyểễn chuyển thật khó ngờ Khả năng cạnh tranh và thích ứng bất tận đó đã làm cho

nó dường như không chỉ còn là thượng tầng kiến trúc,

pháp luật đã trở thành một hạ tầng quan trọng giúp xã hội phát triển?

4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật

Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật chứa đựng

những triết lý sâu sắc về bản chất, vai trò và mối quan

hệ tương đồng giữa pháp luật với các quy tắc xử sự xã hội khác Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, pháp luật phải gắn liền với đạo đức, việc tuân thủ pháp luật cũng

có nghĩa là thuận theo đạo đức, thuần phong mỹ tục của xã hội° Theo Người, cơ sở tư tưởng để định ra pháp luật là phải dựa hẳn vào lực lượng nhân dân, lực lượng lao động làm nền tảng và quy định nội dung của luật pháp Người nhấn mạnh việc định ra luật pháp là rất

1 Nguyễn Minh Tuấn: “Một góc nhìn khác về nguồn gốc và

xu hướng vận động của nhà nước”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 (304) năm 2018, tr 3-9

2 Xem Phạm Duy Nghĩa: Giáo trình Pháp luật đại cường

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.46

3 Xem Hồ Chí Minh: Về vấn đề nhà nước và pháp luật,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.5

Trang 40

quan trọng, song vấn đề quan trọng hơn là luật pháp ấy phải được toàn xã hội thi hành một cách nghiêm túc' Dựa trên tư tưởng về nhà nước và pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh đến tính ý chí của pháp luật Theo Người, pháp luật là ý chí của giai cấp công nhân, nó bảo vệ quyền lợi của hàng triệu người lao động Về tính chất, pháp luật của Nhà nước ta (Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa) là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo

vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động” Trong khi xây dựng chính quyền nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa đức

trị với pháp trị, tùy theo hoàn cảnh đất nước Trong đó Người nhấn mạnh, cái khó trong việc thi hành pháp

luật là phải bảo đâm được tính vô tư, khách quan, công

bằng, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật trên tỉnh thần vua tôi, trên dưới, sang hèn đều phải theo

pháp luật như thế thịnh trị

1, 2 Xem Đức Vượng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

và pháp luật thể hiện trong bộ Hồ Chí Minh toàn tap”, in trong

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, Bộ

Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Hà Nội, 1993, tr.154, 162

3 Xem Song Thành: “Tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh -

sự thống nhất giữa “đức trị” với “pháp trị”, in trong Nghiên cứu

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, Bộ Tư pháp,

Viện Khoa học pháp lý, Hà Nội, 1993, tr.213

Ngày đăng: 08/11/2022, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN