VA CAC VAN DE CO LIEN QUAN
1. Cơ chế điều chỉnh pháp luật và chức năng của pháp luật
Cơ chế điều chỉnh pháp luật và chức năng của pháp luật là những khái niệm khoa học pháp lý và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chức năng của pháp luật là những phương diện, cách thức tác động vào quan hệ xã hội, thể hiện rõ ý chí của chủ thể đang nắm giữ quyền lực nhà nước. Tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển mà việc nhận diện, xác định nội dung, tính chất của chức năng pháp luật khác nhau. Các quan điểm phổ biến hiện nay đều xác định pháp luật có ba chức năng chủ yếu: chức năng điều chỉnh; chức năng bảo vệ; chức năng giáo dục. Cơ chế điều chỉnh pháp luật là hệ thống thống nhất các phương tiện pháp luật có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau thông qua hoạt động của các chủ thể trên cơ sở sự bảo đảm của nhà nước làm
cho pháp luật đi vào đời sống xã hội. Giữa cơ chế điều chỉnh pháp luật và chức năng của pháp luật có mối quan hệ chặt chế với nhau. Cụ thể là:
Thứ nhất, cả cd chế điều chỉnh pháp luật và chức năng của pháp luật đều hướng tới mục tiêu thiết lập trật tự xã hội, trật tự pháp luật theo ý định của nhà nước. Nếu như chức năng điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội được thể hiện theo hai hướng chính: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ cơ bản, quan trọng và phổ biến trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho các quan hệ xã hội đó phát triển phù hợp với lợi ích của gial cấp và lợi ích của xã hội và được thực hiện thông qua các hình thức: quy định, cho phép, ngăn cấm, quy định quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật thì cơ chế điều chỉnh pháp luật giúp nhà nước có được cơ sở thực tiễn cho việc xác định nhu cầu lập pháp; đánh giá mức độ phù hợp của quy định pháp luật với nhu cầu điều chỉnh xã hội; là việc đánh giá mức độ nhận thức của chủ thể pháp luật đối với nội dung quy định pháp luật đã được nhà nước ban hành.
Thứ hai, một trong những chức năng quan trọng của pháp luật là bảo vệ các quan hệ xã hội khi có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Khi đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế ghi trong phần chế tài của quy phạm pháp luật để phục hổi lại
quan hệ xã hội đã bị xâm phạm. Thông qua cơ chế điều chỉnh pháp luật, chúng ta có thể nhận diện trong thực tế và phân biệt được giữa hành vi pháp lý hợp pháp với hành vi pháp lý không hợp pháp (hành vi vi phạm pháp luật) để từ đó có thể đánh giá tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật gắn với các biện pháp chế tài mà nhà nước có thể áp dụng tương ứng (chế tài hành chính, chế tài hình sự, chế tài dân sự và chế tài kỷ luật). Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể nhận diện chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội thông qua cơ chế điều chỉnh pháp luật, vì cơ chế điều chỉnh pháp luật là sự thể hiện trên thực tế tương tác về quyền và nghĩa vụ, còn sự thể hiện ra bên ngoài hành vi pháp lý của chủ thể pháp luật làm cơ sở để đánh giá tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, từ đó chức năng bảo vệ pháp luật được thể hiện và phát huy vai trò của mình.
Thứ ba, cơ chế điều chỉnh pháp luật ghi nhận cách thức xử sự trong quy phạm pháp luật làm cơ sở giúp chủ thể pháp luật tự điều chỉnh hành vi của mình theo hướng không vi phạm những điều cấm của pháp luật.
Quá trình vận động không ngừng của cơ chế điều chỉnh pháp luật làm cho chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức con người, làm cho mỗi người hình thành ý thức . pháp luật và hành động phù hợp với cách xử sự ghi trong các quy phạm pháp luật. Nhận thức về cách xử sự như thế nào trong những hoàn cảnh, điều kiện, tình
huống mà pháp luật đã quy định, những hậu quả bất lợi về vật chất, tỉnh thần có thể phải gánh chịu giúp chủ thể pháp luật đạt được hành vi, cách cư xử phù hợp với đạo đức và pháp luật.
Thứ tư, mối tương quan giữa cơ chế điều chỉnh pháp luật và chức năng pháp luật giúp thúc đẩy, tăng cường nhận thức pháp luật của chủ thể pháp luật được tốt hơn, từ đó góp phần hình thành văn hóa pháp luật. .
Nhận thức, hiểu biết đối với phỏp luật khụng chỉ ử
việc đánh giá “tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các quy phạm pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp
trong hành vi của các cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã
hội”' mà còn được thể hiện ở việc giải thích, vận dụng pháp luật sao cho có lợi nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh, điều kiện của mình. Các hành vì lạm dụng pháp luật để trục lợi vừa bao hàm nghĩa chấp hành, tuân thủ pháp luật (nghĩa là tính hợp pháp, tính tích cực của hành vị), vừa bao hàm nghĩa vi phạm pháp luật (nghĩa là hiện tượng tiêu cực, có nguy cơ xâm phạm trật tự kỳ vọng mà nhà nước mong muốn thiết lập). Do đó, cơ chế điều chỉnh pháp luật và chức năng pháp luật góp phần bồi đắp cho việc hình thành văn hóa pháp luật, thể hiện
1. Hoàng Thị Kim Quế (Chủ biên): Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Sảd, tr.430.
“một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học hành vi, cách nghĩ, cách ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của các cộng đồng và tộc người"'. Trong thực tế, tùy tình hình cụ thể mà người ta luôn có thể biến báo “linh động”, “ưu đãi”, “lệ riêng”, có thể thay đổi hoặc vứt bỏ những quy tắc của pháp luật thành văn chính thức mà áp dụng lệ làng hay nhiều biệt lệ khác, do đó, huynh hướng phi lý tính trong văn hóa pháp luật của người Việt Nam là một điểm yếu, biểu hiện ở chỗ nó thiếu tính pháp quy chặt chẽ, thiếu “tỉnh thần pháp trị”, cơ bản dựa trên “sự ràng buộc tâm lý” và đạo đức, thiếu sự sắp đặt cần thiết về chế độ để bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh?.
2. Cơ chế điều chỉnh pháp luật và thực hiện pháp luật của tổ chức, cá nhân
Khi xây dựng, ban hành pháp luật nhà nước mong muốn tạo lập công cụ pháp lý cho việc bảo vệ các quyền, lợi ích của chủ thể pháp luật, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện để chủ thể pháp luật sử dụng pháp
1. Phạm Duy Nghĩa: “Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật”, Tạp chí khoa học của Đại bọc Quốc gia Hà Nội, Kinh tế -
Luật, số 24/2008, tr.1.
2. Xem Nguyễn Thị Thường: “Văn hóa pháp luật trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 11 (72)/2013, tr.20.
luật điều chỉnh các quan hệ xã hội mà mình tham gia.
Mục đích tốt đẹp này chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế và cơ chế điều chỉnh pháp luật được vận hành tốt. Chẳng hạn, để thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước, nhưng để thực hiện đúng đắn và nghiêm minh, chủ thể pháp luật đòi hỏi nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch, cụ thể, có chất lượng tốt, có thể tiên liệu và giảm thiểu chi phí tuân thủ.
Xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau, là các yếu tố hợp thành cơ chế điều chỉnh pháp luật. Những hành vi, xử sự được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của pháp luật đều được coi là việc chấp hành pháp luật. Đó là những hành vi, xử sự của các cá nhân, tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật, có ích cho xã hội, Nhà nước và cá nhân. Căn cứ vào tính chất hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã chia ra các hình thức thực hiện pháp luật sau:
tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Việc phân chia thực hiện pháp luật thành các hình thức nêu trên có tính tương đối vì trong hình thức này lại chứa đựng cả những yếu tố của hình thức khác.
- Tuân thủ pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức kiểm chế không thực hiện
các hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Ở hình thức này chỉ đòi hỏi mỗi người tự kiểm chế mình, không thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm. Chủ thể tuân thủ pháp luật là các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức và mọi công dân.
- Chấp hành pháp luật là việc thực hiện pháp luật, trong đó các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện nghĩa vụ của mình bằng các hành động tích cực. Hình thức chấp hành pháp luật đòi hỏi phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý một cách chủ động, tích cực. Ví dụ, một thanh niên trong hạn tuổi làm nghĩa vụ quân sự đã đăng ký và thực hiện nghĩa vụ quân sự, tức là thanh niên đó đã
chấp hành pháp luật. |
- Sử dụng pháp luật là việc thực hiện pháp luật, trong đó các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền chủ thể của mình mà pháp luật cho phép. Ví dụ, một công dân gửi đơn khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tức là anh ta đã sử dụng pháp luật. Nếu như trong hình thức thứ nhất và hình thức thứ hai thể hiện nghĩa vụ phải thực hiện các quy phạm một cách "thụ động” hay "tích cực" thì trong hình thức thứ ba này chỉ thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép. Hình thức này khác các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện các quyển chủ thể của mình được pháp luật quy định theo ý chí của mình, mà không buộc phải thực hiện.
- Áp dụng pháp luật. Nếu như các hình thức tuân thủ, chấp hành và sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện, thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật chỉ do các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyển thực hiện. Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật luôn gắn với công quyền.
Từ nội dung và bản chất của các hình thức thực hiện pháp luật ở trên cho thấy, giữa cơ chế điều chỉnh pháp luật và thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu như cơ chế điều chỉnh pháp luật được quan niệm là quá trình từ ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật thì thực hiện pháp luật nhấn mạnh tới việc triển khai trong thực tế quy định pháp luật của nhà nước thông qua hành vi pháp lý của chủ thể pháp luật. Thông qua hành vi thực hiện pháp luật, chúng ta có thể nhận diện được “tính thực tiễn” của pháp luật, là thước đo đánh giá mức độ phù hợp của việc mô hình hóa hành vi xử sự trong hoạt động ban hành pháp luật của nhà nước với thực tiễn xã hội. Nếu việc mô hình hóa này phù hợp thì các hành vi thực hiện pháp luật phần lớn là hành vi hợp pháp, nếu quy tắc xử sự này không phù hợp thì chủ thể pháp luật hoặc là không chấp hành, tuân thủ pháp luật, hoặc là lẩn tránh pháp luật thậm chí là thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.