Với tính chất nhập môn nên các vấn đề khoa học về nhà nước và pháp luật đặt trọng tâm vào việc giới thiệu, hệ thống hóa các khái niệm, phạm trù, quan điểm, quan niệm làm nền tảng cho việc nghiên cứu các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành. Về phương pháp, nội dung của nhập môn luật học được tiếp cận từ các kiến thức cơ bản cho đến nâng cao, gắn liền với khoa học về nhà nước và pháp luật được phân tích, đánh giá, đề cập gắn liền với đặc thù của quan hệ xã hội (ở mức độ khái quát nhất). Các lĩnh vực pháp luật chuyên sâu trong chương trình đào tạo không được coi là nội dung chính. Nếu có đề cập đến các lĩnh vực pháp luật chuyên sâu thì chỉ mang tính minh họa hởn là việc trình bày có hệ thống các vấn đề luật học chuyên sâu.
Để nghiên cứu tốt lĩnh vực nhập môn luật học nói chung, các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành nói riêng, cần sử dụng các phương pháp:
1. Phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành Pháp luật là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau như triết học, kinh tế học, sử học... do đó, khi nghiên cứu hiện tượng nhà nước và pháp luật cần phải đặt nó trong mối quan hệ với các lĩnh vực khoa học xã hội khác. Khi tiếp cận liên
ngành, đa ngành, người học sẽ nhận diện được tính chất quyết định của nhà nước và pháp luật trong việc thúc đẩy hay cần trở sự phát triển xã hội. Điều này được lý giải ở chỗ, pháp luật có tính bắt buộc và định hướng cho sự phát triển các quan hệ xã hội. Một khi pháp luật được ban hành, các trật tự xã hội được thiết lập, thì các chủ thể có liên quan tuân theo các quy định này lâu dần trở thành thói quen xử sự. Do vậy, khi ban hành quy định pháp luật để điều chỉnh hay thiết lập trật tự xã hội, nhà nước cần cân nhắc thận trọng để có sự lựa chọn tối ưu. Thực tiễn lập pháp cho thấy, nếu các quy định pháp luật không phù hợp với xã hội thì mục tiêu kỳ vọng thiết lập trật tự không đạt được nên chi phí lập pháp là vô nghĩa, tức là không đạt được mục tiêu kinh tế (chi phí lập pháp) với mục đích
điều chỉnh hay thiết lập trật tự xã hội!.
2. Phương pháp lịch sử
Dưới góc độ là môn khoa học nhập môn về nhà nước và pháp luật, người học cần phải nhận diện được
1. Xem thêm các phân tích, đánh giá về tiếp cận pháp luật theo phương pháp liên ngành, đa ngành tại: Võ Khánh Vĩnh:
“Tiếp cận đa ngành, liên ngành, xuyên ngành trong nghiên cứu và đào tạo luật học ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2018, truy cập tại địa chỉ: https://vass.gov.vn/
noidung/tintuc/Lists/KhoaHocCongNghe/View_Detail.aspx?Item Id=108, ngay 05/07/2019.
cội nguồn của pháp luật, nghĩa là luận giải được lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật đặt trong bối cảnh quốc gia cũng như quốc tế. Các yếu tố truyền thống lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội, thói quen sinh hoạt, phong tục tập quán... có ảnh hưởng đáng kể đến việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật. Mặt khác, phương pháp nghiên cứu lịch sử giúp người học giải thích được vì sao trong các giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia có sự khác biệt về nhận thức, cách thức quy định (kỹ thuật lập pháp), sự phong phú về nội dung của pháp luật... từ đó, người học có thể nhận ra quy luật hình thành và phát triển pháp luật gắn với lịch sử truyền thống của mỗi quốc gia.
3. Phương pháp so sánh luật học
So sánh luật học được nhìn nhận không chỉ là phương pháp so sánh pháp luật ở mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của hệ thống pháp luật quốc gia cho tới từng chế định cũng như các quy định cụ thể, mà còn so sánh pháp luật giữa các quốc gia khác nhau. Điểm tương đồng, sự khác biệt là những căn cứ khoa học cho những kiến nghị lập pháp có sức thuyết phục, góp phần bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Dưới góc độ bội nhập quốc tế, phương pháp so sánh luật học giúp cho nhà đầu tư quốc tế có được lựa chọn đầu tư tối ưu, giảm thiểu rủi
ro trong đầu tư dựa trên việc tìm hiểu pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư. So sánh luật học cũng giúp nhà nước thận trọng hơn trong việc áp dụng các biện pháp trừng phạt hoặc lạm dụng quyền miễn trừ quốc gia khi xử lý các vấn đề liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài để tránh các tranh chấp không cần thiết với nhà đầu tư nước ngoài.
4. Kỹ năng bổ trợ cần thiết
Khoa học nhà nước và pháp luật gắn liền với hành vi, cách xử sự của mỗi chủ thể pháp luật trong đời sống xã hội, luôn gắn liền với các tình huống, điều kiện, hoàn cảnh cu thể mà ở đó đòi hỏi các chủ thể pháp luật phải có những xử sự phù hợp với quy định pháp luật. Để học tập, nghiên cứu lĩnh vực pháp luật, ngoài việc hiểu được nội dung, ý nghĩa của quy định pháp luật người học còn phải được trang bị những kỹ năng cần thiết để trình bày, lập luận, phân tích, hướng dẫn để bác bỏ hay bảo vệ quan điểm của mình về một vấn đề khoa học pháp lý hay một vụ việc cụ thể. Các kỹ năng của người học hay hành nghề luật không tự nhiên hình thành mà cần được rèn luyện lâu dài từ trên ghế nhà trường. Trong phạm vi cuốn sách này đề cập đến một số kỹ năng cần thiết để học tập, nghiên cứu lĩnh vực pháp luật hiệu quả, cần được trang bị và thực hành thường xuyên ít nhất cho người học:
a) Phân tích, đánh giá, lập luận đáp ứng đồng thời yêu cầu giao tiếp và viết văn bản pháp luật, văn bản hành chính hoặc các văn bản khác gắn với thực hành nghề luật
Thuyết phục người khác là kỹ năng nghề luật quan trọng mà mỗi người hành nghề luật phải sử dụng thường xuyên. Để thuyết phục người khác thì người học luật phải tự rèn luyện cho mình thành thạo kỹ năng phân tích, đánh giá, lập luận. Nếu không thành thạo kỹ năng viết, người hành nghề sẽ gặp nhiều khó khăn trong công việc. Kỹ năng phân tích, đánh giá, lập luận được thể hiện ở các cấp độ:
- Lời nói và yêu cầu sử dụng ngôn từ, cấu trúc ngữ pháp, các loại câu phù hợp với môi trường, công việc và đốt tượng tiếp nhận thông tin: Thực chất của kỹ năng lập luận ở cấp độ lời nói lên quan nhiều đến hoạt động giao tiếp, gắn với đặc thù của môi trường diễn ra trong hoạt động giao tiếp như môi trường học đường, môi trường làm việc và đặc thù của đối tượng tiếp nhận thông tin như giảng viên, bạn cùng lớp, người dân...
- Đoạn văn, liên kết đoạn và cấu trúc logic của văn.
bản: Trong nghiên cứu, đào tạo pháp luật, kỹ năng viết rất quan trọng, vì để thể hiện được mong muốn thiết lập trật tự xã hội (của nhà nước) hay tiếp nhận, giải quyết công việc (của công chức) cũng như tìm kiếm khách hàng, bao gồm tiếp nhận thông tin, giải quyết yêu cầu khách hàng, giao tiếp với khách hàng (đối với tổ chức, cá nhân hành nghề luật) thì việc thành thạo kỹ
năng viết là một trong những bí quyết góp phần thành công của người hành nghề luật (trong tương lai) hay cé thể đạt được điểm cao trong các kỳ thi hay hoàn thành các bài luận nhóm (khi còn ở giảng đường). Rèn luyện kỹ năng viết đòi hỏi người học phải kiên trì. Thông qua kỹ năng viết, người học biết cách sắp xếp các luận điểm (để bảo vệ thân chủ hay luận điểm khoa học) theo một trật tự logic nhất định. Từ trật tự logic trong văn bản, người học sẽ có được trật tự logic trong việc trình bày vấn đề pháp lý cho nhiều đối tượng tiếp nhận đa dạng như giảng viên, bạn học, khách hàng, người quản lý...
b) Tìm kiếm các nguồn của pháp luật, trong đó văn bản pháp luật là quan trọng nhất
Như đã đề cập ở trên, đối tượng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất của chương trình đào tạo cử nhân luật là các văn bản quy phạm pháp luật. Người học phải biết cách tìm kiếm các văn bản này cho từng học phần.
Bên cạnh nguồn văn bản quy phạm pháp luật, người học cũng cần đọc các án lệ được công bố để học cách lập luận và rút ra các luận điểm của án lệ; tìm kiếm các tập quán để làm phong phú thêm tri thức về các nguồn luật cũng như khả năng phân tích, đánh giá, lập luận.
e) Tìm đọc các công trình chuyên khảo và chuyên gia trong các lĩnh vực pháp luật
Mỗi học phần, người học sẽ được giảng viên cung cấp một hệ thống danh mục tài liệu học tập khá phong phú, đa dạng từ các bài báo (phản ánh sự kiện), các bài
báo khoa học (uận giải một hoặc một số vấn đề khoa học pháp lý) cho đến các công trình chuyên khảo (luận giải một cách có hệ thống về một lĩnh vực chuyên sâu của khoa học pháp lý). Các kết quả kỳ vọng này sẽ giúp ích cho người thực hành nghề luật trong tương lai hiểu được ngọn nguồn các vấn đề khoa học pháp lý từ lý luận đến thực tiễn. Thực tiễn hoạt động thực hành nghề luật đòi hỏi người hành nghề vừa thành thạo việc tìm kiếm, sử dụng văn bản pháp luật, vừa có khả năng lập luận, phân tích và văn bản hóa các lập luận, ý kiến.
Thông qua việc đọc, tìm hiểu các công trình nghiên cứu chuyên sâu sẽ giúp người học:
- Tiếp cận được các vấn đề khoa học pháp lý sâu sắc, rõ ràng hơn.
- Học tập và bước đầu thực hành viết các bài luận ngắn theo yêu cầu của giảng viên.
- Rèn luyện nhận biết vấn đề liên quan đến khoa học pháp lý từ đơn giản đến phức tạp.
- Nhận diện và biết cách tiếp cận, triển khai các ý tưởng khoa học, ý tưởng nghiên cứu.
- Khả năng diễn đạt vấn đề một cách có hệ thống, logic.
Về chuyên gia pháp luật, trong môi trường học đường là các nhà nghiên cứu, giảng viên các trường đại học, cao đẳng. Việc định hình chuyên gia nghiên cứu pháp luật thường được xác định dựa trên các công bố khoa học mà chuyên gia công bố. Thông qua việc tìm
hiểu các công trình công bố, người học sẽ biết chuyên gia pháp lý có thế mạnh ở lĩnh vực pháp luật nào để có thể tìm hiểu công trình nghiên cứu, học hỏi, trao đổi chuyên môn khi có điều kiện.
d) Tìm hiểu môi trường kinh tế - xã hội, nhất là các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước để phát triển tư duy độc lập, phát biểu, bảo vệ quan điểm cá nhân
Xã hội không ngừng vận động và phát triển. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, hiện tượng nhà nước và pháp luật theo đó mà biến đổi cho phù hợp. Sự hợp lý, công bằng, phù hợp của pháp luật được đánh giá dựa vào nội dung các bản án, quyết. định của cơ quan nhà nước khi giải quyết các công việc cho nhân dân. Nội dung các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước khi giải quyết các công việc cho nhân dân không phải là ý chí chủ quan của người có thẩm quyền mà đòi hỏi phải phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mà ở đó, quy phạm pháp luật chịu tác động mạnh mẽ của các thiết chế văn hóa truyền thống lịch sử, cách nghĩ, lối hành xử truyền thống, ý thức pháp quyền... Thông qua việc đọc, tìm hiểu bản án của tòa án, quyết định của cơ quan hành chính nhà nước, người học từng bước nhận diện, tiếp cận thực tiễn đời sống trong mối tương quan với hiện tượng nhà nước và pháp luật để từ đó có những chuẩn bị tốt cho việc tiếp cận vào thực tiễn công việc sau khi tốt nghiệp.
Chương 2