THUC THI PHAP LUAT CUA NHA NUGC

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn luật học (Trang 148 - 159)

Xây dựng và thực thi pháp luật là hai mặt hoạt động cơ bản của nền quản trị quốc gia. Nếu như xây

1. Báo cáo phát triển Việt Nam 2010: Các thể chế hiện đại, Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, Hà Nội, ngày 03-04/12/2009, tr.90.

dựng pháp luật là một quá trình hoạt động vô cùng quan trọng, phức hợp để ra quyết định tập thể với sự tham gia, can dự của rất nhiều chủ thể có liên quan, trong đó phải kể tới những người làm công tác tổng kết thực tiễn, những người soạn thảo, góp ý, thẩm định, những đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản và những chủ thể có quyền biểu quyết, thông qua văn bản quy phạm pháp luật! thì hoạt động thực thi pháp luật là quá trình triển khai các quy định pháp luật đã được ban hành đi vào trong đời sống thực tiễn thông qua các hành vi pháp lý của các chủ thể trong đời sống xã hội và đó cũng là một hệ vấn đề rất phức tạp bởi thực thi pháp luật không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.

Thực thi pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật; vị trí, vai trò của các công cụ, biện pháp hỗ trợ cho quá trình thực thi pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước, tòa án, viện kiểm sát nhân dân; hiệu quả và mức độ răn đe của việc áp dụng chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật cũng như ý thức pháp luật của các chủ thể thực thi pháp luật...

1. Nguyễn Văn Cương: “Bàn luận thêm về bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1(233), tháng 1/2018, tr.15-18.

1. Các quan niệm về thực thi pháp luật

Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành pháp luật. Theo nghĩa hẹp thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan quản lý nhà nước trong việc áp dụng, thi hành pháp luật. Nhưng cách hiểu đó là phiến diện và chưa đầy đủ vì pháp luật là những chuẩn mực chung và bất cứ a1 trong xã hội đều phải tuân theo. Vì vậy, thực thi pháp luật phải là hoạt động thực hiện và tuân theo pháp luật của tất cả mọi người!. Theo quan điểm của tác giả Hoàng Thế Liên thì pháp luật chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi được thi hành một cách nghiêm chỉnh, chừng nào thi hành pháp luật không tốt thì sức mạnh của pháp luật chỉ mang tính răn đe và do đó, chừng nào pháp luật vẫn chưa được thực thi nghiêm minh thì chừng đó nhà nước pháp quyền vẫn chỉ là hình thức”.

1. Trịnh Anh Tuấn: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương, Hà Nội, 2015, tr.27,

2. Xem Dương Thu Hương: Tin Hội thảo “Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật, những vấn đề lý luận và thực tiễn” trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2016-2017 do Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức ngày 02/6/2017, http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-khoa-hoc.aspx?

ItemID=193.

Về vấn đề thi hành pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đồi hỏi tất cả mọi tổ chức và cá nhân phải chấp hành pháp luật, không ai được đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Quốc lệnh ngày 26/01/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định những trường hợp thưởng và phạt, trong đó đã nhấn mạnh quan điểm: Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Người đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục, cảm hóa và trừng trị nhằm mục đích đạt đến sự bình đẳng, mà cái gốc của sự bình đẳng là phải giải quyết lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng hài hòa, phù hợp và thuận chiều.

Từ các quan điểm về thực thi pháp luật, có thể rút ra một số nhận định sau đây:

Thứ nhất, cốt lõi của thực thi pháp luật là việc chuyển hóa quy định pháp luật được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật (uật trên giấy, trong trang thái tĩnh, chứa đựng các quy tắc xử sự cần thiết theo ý

định của người ban hành pháp luật) thành các hành vi

pháp lý cụ thể của tổ chức, cá nhân là đối tượng chịu tác động của văn bản pháp luật đó. Sự chuyển hóa này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự rõ ràng, minh bạch, cụ thể, khả năng tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân trong xã hội cũng như hệ thống các công -_ eụ, biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật.

Thứ hai, nhận thức đúng đắn về nội dung, ý nghĩa quy định pháp luật là cơ sở cho các hành vi pháp lý thực tế của chủ thể pháp luật, phản ánh nhận thức chủ quan của chủ thể pháp luật đối với quy định pháp luật. Điều này có thể dẫn tới trường hợp, một quy định pháp luật có thể có nhiều cách tiếp cận, giải thích khác nhau, thậm chí là đối nghịch, loại trừ. Điều này đòi hỏi trong mỗi quốc gia cần có cơ quan chuyên trách có thẩm quyển giải thích

pháp luật (ở Việt Nam là Ủy ban thường vụ Quốc hội),

đồng thời, nâng cao tính độc lập, tự chủ của thẩm phán trong giải thích, áp dụng pháp luật khi xét xử.

Thứ ba, trong khoa học pháp lý hiện nay, nhiều tác giả đồng tình cần hiểu thi hành pháp luật ở góc độ rộng hơn, cụ thể bao gồm một hệ thống các công việc, công cụ, biện pháp mà nhà nước phải tiến hành (thực hiện) để góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống!. Các quan điểm này nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc xác định hệ thống các công cụ, biện pháp đưa pháp luật vào cuộc sống, từ xây dựng, tổ chức thực hiện đến bảo vệ pháp luật, gắn liền với thẩm quyển và trách nhiệm của cơ quan nhà nước cũng như các cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ.

Thứ tư, thực thi pháp luật luôn mang tính hệ thống, gắn liền với quyền, nghĩa vụ của chủ thể pháp luật cũng

1. Dương Thu Hương: Tin Hội thảo “Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, T1dd.

như các công cụ, biện pháp, trong đó quan trọng nhất là hệ thống chế tài, các công cụ hỗ trợ triển khai quy định pháp luật vào thực tiễn đời sống. Tính hệ thống của thực thi pháp luật được thể hiện ở chỗ, thực thi pháp luật không thể là các hành vi pháp lý đơn lẻ của các chủ thể pháp luật mà luôn được triển khai trong mối tương quan với nhà nước (trực tiếp hoặc gián tiếp) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra khi ban hành pháp luật.

Thứ năm, thực thi pháp luật chịu tác động trực tiếp của các quy phạm xã hội khác. Thực thi pháp luật vừa có vai trò dẫn dắt, định hướng, vừa có vai trò hỗ trợ các quy phạm xã hội được thực hiện một cách có hệ thống.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để thi hành tốt pháp luật, ngoài pháp luật còn cần sức mạnh tổng hợp của các biện pháp cách mạng, các biện pháp vận động quần chúng, không chỉ dùng duy nhất bộ máy chính quyền mà còn biết sử dụng các định chế khác, các đoàn thể, các tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị!.

2. Bản chất của thực thi pháp luật: Hành vỉ pháp lý hợp pháp, gắn liền với các chủ thể pháp luật ,

Về bản chất, thực thi pháp luật luôn là các hành vi hợp pháp của chủ thể - đối tượng chịu sự tác động của 1. Xem thêm: Diệp Văn Sơn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp và thực thi pháp luật, truy cập tại địa chỉ:

http://www.sggp.org.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-lap-phap-va-

thuc-thi-phap-luat-101102.html, ngay 5/9/2006.

văn bản quy phạm pháp luật và của các co quan nha nước có thẩm quyền trong việc hỗ trợ các chủ thể hiểu và vận dụng quy định pháp luật trong hoàn cảnh, tình huống của mình. Thực thi pháp luật được nhìn nhận là toàn bộ hành vi của các chủ thể có tính hệ thống, tính mục đích nhằm triển khai các quy định pháp luật vào thực tiễn đời sống thông qua việc tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Nói cách khác, ở phương thức thực hiện hành vi pháp lý, thực thi pháp luật được hiểu đồng nghĩa với việc thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, nội hàm khái niệm thực thi pháp luật ngoài phương thức thực hiện hành vi như đã nói ở trên, còn bao gồm các nội dung chủ thể và biện pháp bảo đảm thực thì pháp luật.

Bản chất của thực thi pháp luật là hành vi pháp lý hợp pháp, gắn liền với các chủ thể pháp luật có thể luận giải trên các khía cạnh sau đây:

Một là, mỗi văn bản quy phạm pháp luật có đối tượng áp dụng hay đối tượng điều chỉnh nhất định. Đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật chính là các chủ thể pháp luật chịu tác động của văn bản quy phạm pháp luật thông qua các quyền, nghĩa vụ pháp lý được quy định cụ thể.

Hai là, luật trên giấy - quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể chịu sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật chỉ trở thành hành vi pháp lý thực tế của chủ thể khi các quy định này được triển khai trong

thực tiễn (uật trong hành xử thực tế). Từ hành vi thực tiễn này, người ta có thể đánh giá được tính hợp pháp hay không hợp pháp (hành vi xử sự của đối tượng tác động của văn bản), mức độ phù hợp hay không phù hợp của quy định pháp luật với nhu cầu điều chỉnh quan hệ xã hội (tính phù hợp, tính khả thi của pháp luật) cũng như bảo đảm tính thống nhất, phù hợp với Hiến pháp và các quy định pháp luật có liên quan (tính thống nhất của pháp luật).

Ba là, phát hiện và lấp các lỗ hổng pháp luật. Xây dựng pháp luật là quá trình nhận thức và phản ánh thực tiễn vào trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, các quan hệ xã hội không đứng yên mà luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Trong quá trình phát triển đó, khả năng phá vỡ trật tự kỳ vọng của nhà nước đặt ra trong văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các quan hệ xã hội mới nảy sinh cần phải được điều chỉnh cho phù hợp. Từ khung cảnh thực tiễn thực thi pháp luật, nhà quản lý, cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đánh giá mức độ phù hợp, nhu cầu sửa đổi, bổ sung pháp luật khi cần thiết.

3. Biện pháp thực thi pháp luật

Cơ chế thực thi pháp luật thể hiện sự tương tác giữa các chủ thể pháp luật, bao gồm cá nhân, tổ chức, nhà nước, gắn liền với quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm được

ghi nhận trong quy định pháp luật hoặc do các bên tham gia vào cơ chế thực thi pháp luật tự xây dựng nên.

Sự vận hành của cơ chế thực thi pháp luật phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của các chủ thể pháp luật. Nói cách khác, thực thi pháp luật là quá trình đưa các quy định pháp luật vào trong đời sống thực tiễn thông qua các hành vi pháp lý cụ thể mà nhờ đó, các quy định pháp luật được hiện thực hóa.

Thực thi pháp luật có sự khác biệt giữa nhà nước và

các chủ thể khác. Đối với tổ chức, cá nhân và các đối

tượng chịu sự tác động của pháp luật, việc tìm hiểu quy định pháp luật là trách nhiệm, do đó, tổ chức, cá nhân và các đối tượng chịu sự tác động của pháp luật cần chủ động tìm hiểu để tránh gặp phải các rủi ro do thiếu hiểu biết pháp luật. Đối với nhà nước, thực thi pháp luật được thực hiện thông qua các biện pháp:

Thứ nhất, ấn định quy tắc xử sự (ban hành, xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật). Đây là hoạt động thường xuyên, xuất phát từ nhu cầu quản lý, thiết lập trật tự xã hội theo trình tự, thủ tục do Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định.

Thứ hai, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân.

Nhà nước bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ bao gồm quy định

của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất

đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y

tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, mà còn cả các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế cũng như ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật!.

Về hình thức, việc phổ biến, giáo dục pháp luật khá đa dạng như họp báo, thông cáo báo chí; phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật;

cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, Internet, panô, áp phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư; tổ chức thi tìm hiểu pháp luật; thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà

1. Điều 10 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở; lông ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở...!.

Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật cũng rất đa dạng như người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân;

người lao động trong các doanh nghiệp; nạn nhân bạo lực gia đình; người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo; người học trong hệ thống cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc gia?.

Thứ ba, áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế cũng như chế tài đối với hành vi xâm phạm trật tự xã hội, trật tự pháp luật hoặc xâm phạm trật tự công. Hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế cũng như chế tài đối với hành vi xâm phạm trật tự xã hội, trật tự pháp luật hoặc xâm phạm trật tự công gắn liền với thẩm quyền của cơ quan nhà nước.

1. Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

2. Xem từ Điều 17 đến Điều 24 Luật Phổ biến, giáo dục

pháp luật năm 2012.

Chương 4

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn luật học (Trang 148 - 159)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(428 trang)