CÁC TRANH LUẬN VỀ BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn luật học (Trang 93 - 119)

1. Quyền lực

Từ điển Tiếng Việt nhấn mạnh quyền lực là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo .đảm thực hiện quyền ấy'. Từ điển Luật học không có định nghĩa về quyền lực mà chỉ có giải nghĩa thuật ngữ quyền lực xã hội. Theo đó, quyền lực xã hội là khả năng, năng lực chi phối và điều khiển xã hội. Quyền lực xã hội có ở khắp mọi nơi, trong tất cả các tập thể có tính cộng đồng của con người, trong các bộ lạc, thị tộc của xã hội nguyên thủy, trong gia đình, tôn giáo, đoàn thể, doanh nghiệp...?. Quyền lực xã hội khởi nguyên là của nhân dân, của cộng đồng. Các hình thức cộng đồng người dù tổn tại dưới hình thức đơn sơ, quy mô nhỏ nhất cho đến phức tạp và rộng lớn nhất đều được đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý của một bộ máy (một người, một tổ chức, một cơ quan) có quyền lực nhất định. Về bản

1. Xem Viện Ngôn ngữ học: Từ điển Tiếng Việt, Sđd,

tr. 1.045.

2. Xem Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Sdd, tr.652.

chất thì quyền lực không phải của bộ máy đó, mà do cộng đồng, nhân dân trao quyền, ủy quyền để sử dụng vì mục đích chung!.

Từ các quan điểm và phân tích trên cho thấy, các vấn đề cốt yếu của quyền lực cần được đề cập đến là:

() Quyền chi phối đến các đối tượng, quá trình xã hội một cách công khai, có hệ thống, có trật tự. Khả năng chi phối này được bảo đảm bằng nhiều yếu tố như uy tín của người đang nắm giữ, sử dụng quyền lực; sự phù hợp của chính sách với nhu cầu phát triển cộng đồng; hệ thống các công cụ cưỡng chế...

đi) Hệ thống quy tắc xử sự là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất để thực hiện quyền lực. Cốt lõi của quyền lực là nhằm thiết lập các trật tự theo ý định của người có quyền sử dụng quyền lực. Để thiết lập được trật tự, tổ chức, cá nhân chịu sự chi phối của quyền lực cần biết mình được làm gì, được làm như thế nào, những hành vi nào bị cấm... Thông qua các quy định này, tổ chức, cá nhân biết được mình được làm, phải làm, không được làm bằng những chỉ dẫn cụ thể mà nếu không thực hiện đúng các chỉ dẫn này, tổ chức, cá nhân có thể phải gánh chịu các biện pháp cưỡng chế từ phía các chủ thể đang nắm giữ, sử dụng quyền lực.

1. Xem Trần Thành: “Tha hóa quyền lực và kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay”, truy cập ngày 21⁄8/2017, http://tenn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010070/0/37575/Tha_hoa_q uyen_luc_va_kiem_soat_quyen_luc_nha_nuoc_o_nuoc_ta_hien_nay.

(1) Quyền quyết định và sử dụng các biện pháp cưỡng chế đối với đối tượng quản lý để thiết lập, duy trì trật tự theo ý định của người hiện đang nắm giữ quyền lực nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra. Tùy thuộc vào tính chất của quyền lực mà các biện pháp cưỡng chế có sự khác nhau về bản chất và hình thức thực hiện. Nếu quyền lực trong thể chế xã hội dân chủ thì các biện pháp cưỡng chế được sử dụng hạn chế. Trong xã hội phản dân chủ, độc tài, các biện pháp cưỡng chế mang nặng tính trừng trị, răn đe hơn là giáo dục, thuyết phục để đối tượng chịu tác động của quyển lực hiểu và hành động đúng với yêu cầu thiết lập trật tự dựa trên quyền lực.

1v) Có sự kế thừa liên tục. Sự kế thừa của quyền lực chứng tỏ rằng, quyền lực vận động, thay đổi cùng với sự - vận động, chuyển biến của chính xã hội mà quyền lực đang tác động, chi phối. Sự kế thừa của quyền lực có thể được thực hiện trong trạng thái hòa bình như chuyển giao dựa trên nguyên tắc cha truyển con nối, theo chế độ bầu cử dân chủ dựa trên nguyên tắc phổ thông, tự do, bình đẳng, bỏ phiếu kín và cũng có thể chuyển giao bằng biện pháp bạo lực (như lật đổ chính quyền thông qua biện pháp đảo chính)...

v) Phù hợp với quy luật phát triển xã hội qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Điều này làm cho quyền lực luôn ở trạng thái động. Tính chất động của quyền lực được thể hiện ở chỗ không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn có sự chuyển giao liên tục giữa các thế hệ nắm giữ quyền lực trong xã hội.

2. Quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước là một loại quyền lực trong xã hội có tính phổ biến, phạm vi áp dụng rộng, gắn liền với lãnh thổ quốc gia và được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, gắn liền với quyền lực chính trị, là công cụ của quyển lực chính trị. Nhà nước thể hiện một cách tập trung quyền lực chính trị!.

Theo tác giả Vũ Thư, quyền lực nhà nước là hiện tượng đặc biệt, tồn tại trong các xã hội có giai cấp và có nhà nước. Ai nắm giữ quyền lực nhà nước sẽ là người định đoạt, chi phối những vấn đề cơ bản, quan trọng liên quan đến đường hướng vận động, phát triển xã hội, các quy tắc và hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong đời sống xã hội. Bởi vậy, quyền lực nhà nước là vấn đề trung tâm của mọi nền chính trị. Các giai cấp, tầng lớp xã hội đều bằng cách này hay cách khác tìm cách nắm giữ hoặc tác động đến quyền lực nhà nước để phục vụ lợi ích của mình (có tính đến lợi ích của các giai tầng xã hội khác)?.

1. Xem Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp: Từ điển Luật

học, Sảd, tr.652.

2. Xem Vũ Thư: “Bàn về tổ chức quyền lực nhà nước”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2017, truy cập tại địa chỉ:

https://vass.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlLis tProcess=/noidung/tintuc/Lists/KhoaHocCongNghe&ListId=54cc e€737-f91c-4ee7-a6b7~a640c041b93b&SitelId=37596567-bc8d-47 de-878d-a9d5b872324b&ItemID=71&SiteRootID=4c750500-35 ba-4ff2-bcd4-8e21529aba05 ngay 7/5/2019.

Quyền lực nhà nước được xem là khả năng của nhà nước để buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải phục tùng nhà nước, được hình thành do những ưu thế mà chỉ riêng nhà nước mới có như: nhà nước là tổ chức bao trùm toàn bộ xã hội, đại diện chính thức cho toàn thể xã hội, có cơ sở xã hội rộng lớn, nó tên tại và hoạt động dựa vào cả xã hội, có các cơ quan chuyên môn để cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, nhà tù, tòa án và các lực lượng vũ trang khác'.

Từ quan niệm về quyền lực nhà nước nêu trên, các tác giả chỉ ra những đặc trưng của quyền lực nhà nước như sau: 1) Quyền lực nhà nước là quyền lực công cộng đặc biệt, có tính khách quan, tất yếu trong một giai đoạn lịch sử nhất định; 2) Quyền lực nhà nước được hình thành từ sự ủy quyền; 3) Quyền lực nhà nước mang tính giai cấp, tổn tại trong môi trường chính trị; 4) Quyển lực nhà nước cần hợp pháp và chính danh; 5) Quyền lực nhà nước gắn liền với chủ quyền quốc gia; 6) Quyền lực nhà nước được thực hiện bằng cơ chế đặc biệt; 7) Quyền lực nhà nước phải được tổ chức và thực hiện có hiệu lực, hiệu quả và phải có sự kiểm soát; 8) Quyền lực nhà nước

1. Xem Nguyễn Minh Đoan (Chủ biên): Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia

Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.5-6.

thực hiện chức năng tổ chức và quản lý hầu hết các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội!.

Khi đề cập đến quyền lực nhà nước, cần quan tâm làm rõ:

Thứ nhất, cội nguồn của quyền lực nhà nước chính là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi quyền lực nhà nước xuất phát từ đâu. Trả lời câu hỏi này, tùy thuộc vào cách thức luận giải mà xuất hiện các học thuyết khác nhau về quyền lực nhà nước.

Các nhà tư tưởng theo thuyết thần quyền cho rằng, quyền lực nhà nước do thượng đế ban cho, nhà vua là thiên tử, là sứ giả của thần linh, là cái bóng của thượng đế, nhận quyền lực từ thượng đế để “thế thiên hành đạo”, thay mặt cho thượng đế cai quản xã hội.

Các nhà tư tưởng theo học thuyết gia trưởng cho rằng, quyền lực nhà nước là sự phát triển tiếp tục quyền lực của người gia trưởng và về bản chất cũng giống như quyền lực của người gia trưởng. Theo thuyết khế ước xã hội, quyền lực nhà nước xuất phát từ dân chúng (nhân dân) được trao cho nhà nước thông qua một khế ước chung làm cơ sở để nhà nước thay mặt nhân dân bảo vệ các quyền, tự do của người dân. Theo thuyết bạo lực, quyền lực nhà nước là kết quả của các cuộc

1. Xem Nguyễn Minh Đoan (Chủ biên): Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđủ, tr.14-25.

chiến tranh, quyền lực nhà nước thông qua hệ thống cơ quan nhà nước là hệ thống cơ quan bạo lực đặc biệt, đó chính là nhà nước. Dựa trên quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp, đồng thời dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, quyền lực nhà nước là bạo lực có tổ chức của giai cấp này (giai cấp thống trị) đối với giai cấp khác (giai cấp bị trị. Nhà nước và quyền lực nhà nước là biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được'. Dưới góc độ lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại mỗi học thuyết, quan điểm luận giải cội nguồn quyền lực nhà nước có những điểm hợp lý tương ứng với từng giai đoạn lịch sử. Sự phát triển tư tưởng luận giải cội nguồn quyền lực nhà nước vừa mang tính kế thừa, vừa có tính phân hóa, đôi khi cũng có sự loại trừ lẫn nhau. Tuy nhiên, giá trị và tính hợp lý của mỗi học thuyết luận giải cội nguồn nhà nước, theo thời gian sẽ được khẳng định và tiếp tục tổn tại.

Thứ hai, quyền lực nhà nước luôn chính đáng và chính danh. Tính chính đáng của quyền lực nhà nước 1. Tham khảo thêm các học thuyết luận giải nguồn gốc nhà

nước tạ!:

- Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Sđd, tr.28-36.

- Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,

2005, tr.61-77.

được thể hiện ở chỗ nếu không có quyền lực nhà nước thì các tổ chức, cá nhân luôn đối điện với nhiều rủi ro trong suốt quá trình tồn tại của mỗi tổ chức, cá nhân. Điều đó có nghĩa là, quyền lực nhà nước luôn cần thiết, vì nó có thể chi phối đối với mọi thành viên trong xã hội mà không có sự loại trừ nào. Tính chính đáng và chính danh của quyền lực nhà nước, đúng như Ngân hàng Thế giới đã nhận định: Các chính phủ đã có những cải thiện to lớn về giáo dục và chăm sóc sức khỏe cũng như giảm sự bất bình đẳng trong xã hội. Một nhà nước hiệu lực, nghĩa là quyền lực nhà nước được thực thi hiệu quả và chính đáng, là nhân tố thiết yếu cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cũng như các quy định và thể chế cho phép thị trường phát triển mạnh mế và con người có đời sống khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn. Nói cách khác, nếu quyền lực nhà nước được sử dụng và thực thi một cách chính đáng và chính danh thì khi đó quyền lực nhà nước đóng vai trò là trung tâm trong phát triển kinh tế - xã hội, không phải với tư cách là một người trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng, mà là đối tác, là chất xúc tác và là người tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng đó!. Thông qua pháp luật, những người sử dụng quyền lực nhà nước sẽ dùng lực lượng chung để bảo vệ con người, bảo vệ quyền tự do và tài sản; để giữ gìn quyền của mỗi người và làm cho công lý

1. Xem Ngân hàng Thế giới: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Sảd, tr.8.

ngự trị trên tất cả chúng ta. Nếu quốc gia được xây dựng dựa trên cơ sở như thế thì trật tự sẽ giữ thế thượng phong trong quan hệ giữa người với người, cả trong suy nghĩ cũng như trong hành động, đây là một chính phủ cực kỳ đơn giản, dễ được chấp nhận, không tốn kém, nhỏ gọn, không áp bức, công chính và bền vững nhất mà ta có thể tưởng tượng được - dù hình thức chính trị của nó có như thế nào đi chăng nữa!. Tính chính đáng và chính danh của quyền lực nhà nước chỉ đạt được nếu như dựa vào chủ quyền nhân dân, nghĩa là nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và chuyển giao quyền lực nhà nước cho một lực lượng xã hội được sử dụng quyền lực nhà nước. Đồng thời, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ bảo đảm tính chính đáng và chính danh của quyền lực nhà nước mà còn là một lý do căn bản nhất giải thích tại sao quyền lực nhà nước phải bị kiểm soát.

3. Quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân đân

Lịch sử phát triển ở Việt Nam đã minh chứng chủ thể của quyền lực nhà nước là thuộc về Nhân dân, dù

1. Xem Claude Frédéric Bastiat: Luat phap, Pham Nguyén Trường dịch, tái bản lần thứ hai, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2018, tr.46-47,

2. Xem Nguyễn Đăng Dung: Kiểm soát quyền lực nhà nước, Sdd, tr.31. ,

trong nhà nước phong kiến. Điều này được minh chứng ở việc Vua (đại diện và trực tiếp sử dụng quyền lực nhà nước) hỏi ý kiến Nhân dân trước khi quyết định vấn đề quan trọng của quốc gia (chống giặc hay đầu hàng giặc

khi đất nước bị xâm lăng) và tổ chức quyền lực nhà nước'.

1. Vũ Quốc Thông đưa ra hai ví dụ để chứng minh:

- Vua Trần Nhân Tông trước khi ấn định chính sách đối với nhà Nguyên đã triệu họp các bô lão tại điện Diên Hồng, thành Thăng Long để hỏi ý kiến nên chiến hay nên hòa.

- Về những vấn đề quan trọng, nhà Vua trước khi quyết định bao giờ cũng hỏi ý kiến các quan triều thần chứ không quyết định một cách độc đoán. Đó là chế độ đình nghị. Theo đó, mở các phiên họp quan lại văn võ trong triều để bàn xét việc nước. Các quan lại

bất luận phẩm trật cao thấp, một khi đã được dự hội đồng đều có quyền và có nhiệm vụ trình bày ý kiến riêng của mình, dù cho ý kiến đó có trái với ý kiến của số đông. Dưới triều vua Minh Mạng nhà Nguyễn, thủ tục đình nghị được ấn định như sau:

A. Thành phần hội đồng gồm các quan văn từ chức Kiểm sự trở lên, quan võ từ chức Chưởng cơ, tức là các quan hàng từ

Chánh tứ phẩm trở lên. ,

B. Nhật kỳ đình nghị: Mỗi tháng hội đồng họp trong bốn ngay chan 2, 8, 16, 24.

C. Thẩm quyền và quyền hạn: Vì là cơ quan công luận để phản chiếu tư tưởng của triều đình, hội đồng có quyền xét tất cả việc nước quan yếu, có quyền tuyển lựa các viên chức theo nhu cầu công vụ và ngoài ra, còn có quyền duyệt lại các bản án quan trọng do bộ Hình và do Tam pháp ty chuyển sang. Tuy nhiên, quyền quyết. định tối hậu vẫn thuộc về nhà Vua.

Sự hạn chế vương quyền được tác giả Vũ Quốc Thông lý giải bằng ba lý do: 1) Quyền lực của Vua bị giới hạn bằng các tiếng là minh quân hay anh quân, cần phải cư xử có đức độ, trọng phép trị nước và phải lấy dân làm gốc; 2) Chế độ tự trị xã hội đã hạn chế rất nhiều quyền hành của nhà Vua; 3) Chế độ công vụ, nhất là quan lại được lựa chọn trong số những người có chân D. Thủ tục làm việc: Bộ sở quan hay Nha sở quan có vấn đề nào cần nêu ra để hội kiến của Hội đồng cần phải lập một tờ trình về vấn đề. Tờ trình đó gọi là Nghị án phải được chuyển trước cho các quan văn hay quan võ trong hội đồng xem trước ít nhất trong hai ngày trước khi hội đồng họp. Lúc họp đình nghị, các quan văn, quan võ có nhiệm vụ ghi rõ ý kiến của mình và ký tên ở dưới tờ tấu gọi là Nghị sách. Nếu ý kiến giống nhau, phải ghi chú ý và ký tên vào bên cạnh. Nếu ý kiến dị biệt cũng phải ghi chú vào một Nghị án riêng. Tất cả hỗ sơ gồm cả hai loại ý kiến thuận, nghịch đều phải đệ trình nhà Vua duyệt lãm. Bổn phận của các quan văn, quan võ trong hội đồng là phải hiện diện tại buổi họp, phải phát biểu ý kiến rõ ràng, và phải thương đồng nghị tấu, nghĩa là cùng bàn cãi với nhau. Nhà Vua đặt ra hai quan chức thay cho Đô sát viện để theo dõi hành động của mỗi vị quan trong khi đình nghị để xem xét các vị quan này có làm tròn nhiệm vụ của mình hay không? Về thời gian làm việc của Hội đồng thời bấy giờ, hai trường hợp tốc nghị do lệnh của nhà Vua thì nội trong 5 ngày Hội đồng đình thần phải xét xong và Hội đồng có thể nhóm họp những phiên bất thường. Về trường hợp thường nghị, theo lệ thường thì trong 10 ngày phải xét xong.

Nguồn: Vũ Quốc Thông: Pháp chế sử Việt Nam, Tủ sách đại học Bài Gòn, 1968, tr.63-64.

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn luật học (Trang 93 - 119)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(428 trang)