1. Hành vi pháp lý - cơ sở của điều chỉnh pháp luật
Đối tượng của pháp luật luôn là hành vi pháp lý của các chủ thể pháp luật, là sự thể hiện trong thực tế cách thức xử sự của chủ thể pháp luật, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Dựa vào quy định pháp luật, người ta có thể đánh giá tính chất của hành vi pháp lý là hợp pháp hay không hợp pháp. Hành vi pháp lý hợp pháp là cách xử sự đúng với quy định của pháp luật. Hành vi pháp lý không hợp pháp là cách thức xử sự trái với quy định của pháp luật. Trong khoa học pháp lý, hành vi pháp lý là sự kiện pháp lý điển hình, được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động của chủ thể.
Hành vi pháp lý được thể hiện bằng hành động cụ thể như ký kết hợp đồng, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác như cố ý gây thương tích, tặng, cho tài sản, từ chối nhận di sản thừa kế... Hành vi pháp lý được thể hiện bằng hành động đa dạng, có thể sử dụng hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện để thực hiện.
Hành vi pháp lý không được thể hiện bằng hành
động là hành vi vi phạm pháp luật, là việc chủ thể không thực hiện các hành v1 pháp lý mà pháp luật buộc chủ thể phải thực hiện.
2. Quy phạm pháp luật
Hành vi như đã nói ở trên là sự thể hiện ra bên ngoài cách thức xử sự của các chủ thể trong đời sống xã hội. Sự đa dạng của hành vi này dẫn tới cần phải đặt cách xử sự này trong một khuôn mẫu nhất định và luôn mang tính điển hình cho số đông xã hội. Các chuẩn mực xử sự này cũng đa dạng tùy thuộc vào loại quy tắc được sử dụng để điều chỉnh (thường gọi là quy phạm xã hội), trong đó, quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự có vai trò quan trọng nhất trong điều chỉnh quan hệ xã hội, được nhà nước ban hành và áp dụng đối với mọi chủ thể xã hội. Quy phạm pháp luật là kết quả của hoạt động có tính mục đích của nhà làm luật (tính ý chí của quy phạm pháp luật). Ý chí này phản ánh nhu cầu quản lý, thiết lập trật tự xã hội hay loại hành vi cần được mô hình hóa bằng những khuôn mẫu và luôn chịu sự chi phối của đời sống xã hội. Hướng tiếp cận này nhấn mạnh đến trạng thái động của quy tắc xử sự được ghi nhận trong quy phạm pháp luật. Bởi lẽ, các hành vi pháp lý trong xã hội không ngừng vận động và phát triển nên nội dung quy tắc xử sự theo đó cũng phải thay đổi theo cho phù hợp.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: Quy phạm pháp luậtlà quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện (Khoản 1 Điều 3). Về nguyên tắc, quy phạm pháp luật có ba bộ phận là giả định, quy định, chế tài.
+ Giả định là phần xác định chủ thể tham gia quan hệ pháp luật và những hoàn cảnh, điều kiện mà chủ thể phải làm khi gặp phải hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong phần giả định (có quyền, nghĩa vụ, phải tránh các xử sự bị cấm). Những tình huống, điều kiện vô cùng phong phú, đa dạng. Về hoàn cảnh có thể là sự kiện liên quan đến hành vi của con người, sự biến động trong xã hội như thiên tal, sự sinh, tử... được đặt trong không gian và thời gian xác định. Điều kiện được dự liệu trong giả định cũng rất đa dạng như độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn... Do tính đa dạng của giả định nên khi xây dựng pháp luật cần dự liệu đây đủ nhất có thể, đồng thời tạo ra các tiêu chí mang tính định hướng, dự liệu cho những diễn tiến mới có thể xảy ra trong đời sống xã hội để xác định, tránh tạo ra những lỗ hổng pháp luật.
+ Quy định là một bộ phận cấu thành của quy phạm pháp luật nêu lên những cách xử sự mà các chủ thể được, không được hoặc buộc phải thực hiện khi gặp những hoàn cảnh đã nêu ở bộ phận giả định của quy phạm pháp luật. Đây là bộ phận cốt lõi của quy phạm pháp luật, phản ánh đậm nét ý chí, kỳ vọng của người
ban hành pháp luật đối với cách xử sự của các chủ thể pháp luật; trật tự xã hội kỳ vọng; những biện pháp ứng phó, xử lý khi xảy ra vi phạm pháp luật... Nội dung quy định thường là cho phép thực hiện (như quy định mọi người có quyền kết hôn, quyền lao động, quyền tự do cư trú...), không được phép thực hiện (thể hiện rõ trong quy định về xử lý vi phạm hành chính và tội phạm) và hướng dẫn chủ thể thực hiện (Hiên quan nhiều đến cách thức, trình tự, thủ tục, chỉ dẫn để chủ thể dựa vào đó mà thực hiện cho đúng).
+ Chế tài là bộ phận thứ ba cấu thành nên quy phạm pháp luật, trong đó chứa đựng thái độ của nhà nước đối với các hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các trách nhiệm, nghĩa vụ mà nhà nước yêu cầu phải thực hiện hoặc có hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Về bản chất, chế tài là biện pháp cưỡng chế mang tính trừng phạt mà nhà nước áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thực hiện không đúng, không đầy đủ những mệnh lệnh đã được nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.
Việc xác định các bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật có nhiều ý nghĩa trong hoạt động nghiên cứu, học tập, xây dựng pháp luật. Khi nói tới khái niệm quy phạm pháp luật là nói tới đầy đủ các bộ phận cấu thành là giả định, quy định, chế tài. Trong thực tiễn áp dung, không phải lúc nào cũng có thể xác định ngay được các
bộ phận của quy phạm pháp luật. Đồng thời, quy phạm pháp luật không đồng nhất với một điều luật. Các điều khoản trong văn bản quy phạm pháp luật chỉ thể hiện một hoặc một số bộ phận của quy phạm pháp luật.
Chính vì vậy, chúng ta có thể tìm kiếm, nhận diện các bộ phận của quy phạm pháp luật tại các điều khoản cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Chẳng hạn:
- Quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 170 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hạt”.
- Nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 583 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả tài sản thì phải thanh toán chi phí cần thiết mà người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản”.
- Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyển lợi của người tiêu dùng theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng
thì phải bồi thường”.
- Xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán được quy định tại
Khoản 3 Điều 132 Luật Chứng khoán năm 2019! như sau “Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 12 của Luật này là 10 lần khoản thu trái pháp luật có được từ hành vi vi phạm.
Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 4 Điều này thì áp dụng mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 4 Điều này. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định phương pháp tính khoản thu trái pháp luật có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán...”.
3. Quan hệ pháp luật
Hai yếu tố cơ bản, cần thiết của quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội và pháp luật nên có thể hiểu quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật đối với chủ thể pháp luật, gắn với các quyền, nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định hoặc theo sự thỏa thuận của các bên. Do đó, quan hệ pháp luật là quan hệ mang tính ý chí, có mục đích của các chủ thể pháp luật.
Điều này được thể hiện trên hai khía cạnh: 1) Quan hệ pháp luật hình thành, phát triển, chấm dứt dựa trên cơ
1. Luật Chứng khoán được thông qua ngày 26/11/2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.
sở quy phạm pháp luật - sản phẩm hoạt động có ý thức, thể hiện ý chớ của nhà làm luật; và ù) Những mệnh lệnh mang tính ý chí của nhà nước và pháp luật chứa đựng trong lòng quan hệ pháp luật, các quyền và nghĩa vụ pháp lý thể hiện trong quan hệ pháp luật chỉ thực hiện, trở thành hiện thực thông qua hoạt động có ý thức của con người). Ngoài ra, quan hệ pháp luật được hình thành do ý chí của các bên cũng rất phổ biến. Cơ chế hình thành quyền và nghĩa vụ pháp lý là do luật định và do các bên tự tạo lập dẫn tới cơ chế bảo đảm thực thi quyền của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật cũng rất khác biệt, đặc biệt là tiếp cận từ khía cạnh quan hệ pháp luật mang tính chất công và quan hệ pháp luật mang tính chất tư. Được hình thành dựa trên quy phạm pháp luật nên quan hệ pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện và có thể cả bằng biện pháp cưỡng chế kết hợp với biện pháp giáo dục thuyết phục, biện pháp
kinh tế, tổ chức - hành chính. |
3.1. Chủ thể quan hệ pháp luật
Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức đáp ứng yêu cầu, điều kiện luật định và tham gia vào các quan hệ pháp luật, trong đó, nhà nước vừa tham gia trực tiếp là một chủ thể của quan hệ pháp luật, vừa là
1. Xem Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Sdd, tr.630.
chủ thể gián tiếp hỗ trợ các chủ thể trong các quan hệ pháp luật về thủ tục, về biện pháp thi hành hoặc sửa đổi, bổ sung thêm quy định pháp luật cho phù hợp với diễn tiến của đời sống xã hội. Để tham gia vào quan hệ pháp luật, chủ thể phải có năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
a) Năng lực pháp luật của chủ thể pháp luật: Năng lực pháp luật là khả năng mà pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức có thể được tham gia vào từng quan hệ pháp luật cụ thể, tức là khả năng đảm nhận được một vai trò nào đó trong đời sống pháp luật. Nói một người có năng lực pháp luật không hẳn có nghĩa người đó thực hiện toàn bộ các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ năng lực pháp luật. Năng lực pháp luật giống như chiếc
“mặt nạ” thời cổ, là một thứ biểu tượng mà xã hội cho phép con người tự tạo cho mình như một trạng thái vay mượn, một trạng thái hoàn toàn mang tính quy ước.
Dưới cái vô bọc này con người được giao những quyền và nghĩa vụ, những thứ làm cho con người trở thành một chủ thể pháp luật!.
Trong lĩnh vực dân sự, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Về tính chất, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là như nhau, có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Nội dung năng
1. Xem Jean-Claude Ricci: Nhập môn luật hoc, Sdd, tr.87-88.
lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm: 1) quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; ii) quyển sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản; ii) quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó!.
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của các kỹ thuật y học đã làm nảy sinh các trường hợp sống nhân tạo: hôn mê kéo dài, có thể sống được ướp lạnh. Có nhiều trường hợp rất khó xác định khi mà chết lâm sàng (mọi chức năng sống ngừng hoạt động) không tương đồng với chết bộ não (được xác nhận thông qua điện não đồ “phẳng”? và do đó cũng gây khó khăn cho việc xác định thời điểm chấm dứt năng lực pháp luật.
Ngoài ra cũng còn có một số ngoại lệ khác như vắng mặt - chỉ tình trạng một cá nhân không xuất hiện trong một khoảng thời gian rất lâu mà không trở về nên không thể xác định được xem hiện tại năng lực pháp luật của người đó có còn hay không, điều đó sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện quyền của các chủ nợ cũng như quyển của các chủ thể có liên quan. Một trường hợp nữa là tình trạng mất tích trong trường hợp xác định chắc chắn một người là đã chết nhưng không tìm thấy xác như đắm tàu, hỏa hoạn, động đất nên không thể làm thủ tục khai tử, nên buộc tuyên bố một người là đã
1. Điều 16, Điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Xem Jean-Claude Ricci: Nhap mén luat học, Sdd, tr.90.
chết!. Những trường hợp này Bộ luật Dân sự Việt Nam
cũng đã giải quyết khá cụ thể, chỉ tiết?. Nội dung năng
lực pháp luật có những yếu tố cho phép cá thể hóa mỗi người về mặt pháp lý và trao cho người đó năng lực riêng của anh ta dựa trên ba yếu tố: họ tên, nơi cư trú,
hộ tịch.
Đối với pháp nhân, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, luật khác có liên quan quy định khác. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập _ hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghỉ vào sổ đăng ký và chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân".
b) Năng lực hành vi của chủ thể pháp luật: Năng lực hành vi của chủ thể pháp luật là khả năng làm nhà nước thừa nhận cho các cá nhân, tổ chức bằng hành vi của mình xác lập (tham gia) và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Năng lực hành vi của cá nhân được xác định dựa trên độ tuổi theo quy định của các lĩnh vực 1, 8. Xem Jean-Claude Ricci: Nhap mén luat hoc, Sdd, tr.91, 92-100.
2. Xem từ Điều 64 đến Điều 73 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2015.
pháp luật chuyên ngành! và khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Khả năng nhận thức và điều khiển
1. Chẳng hạn:
- Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyển ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 27 Hiến pháp năm 2013).
- Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29 Hiến pháp năm 2018).
- Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động thì được tham gia vào quan hệ pháp luật lao động. Kế thừa quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là từ đủ 15 tuổi và có nhiều quy định chỉ tiết cho người lao động chưa thành niên. Theo đó, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc bị cấm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Lao động năm 2019. Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Người chưa đủ 13 tuổi thì người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng để làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao, nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về luật lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là: 1. Người
từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; :
2. Người từ đủ 14 tuổi đến đưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 178, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266,
286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.