1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QLNN về du lịch cộng đồng

46 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 444,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG ĐẶT VẤN ĐỀDu lịch ngày nay, không chỉ tại Việt Nam mà còn trên thế giới, đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng. Việc phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đang là yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, tốc độ phát triển quá nhanh của ngành du lịch, đã dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên, hủy hoại môi trường, các văn hóa truyền thống bị mai một… Chính vì vậy, cần có những giải pháp tối ưu để hạn chế những tiêu cực đó. Và một số loại hình du lịch đã được ra đời, bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi trường và văn hóa bản địa như: du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch khám phá, du lịch cộng đồng.. đã góp phần cao hiệu quả của mô hình du lịch có trách nhiệm, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.Hà Giang một tỉnh miền núi thuộc vùng kinh tế Tây Bắc, với nhiều lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, cùng vị trí địa lý thuận lợi trong những năm qua đã và đang khai thác nhiều loại hình du lịch như: du lịch địa chất, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh…Trong đó, hoạt động du lịch cộng đồng được coi là một trong những thế mạnh của Hà Giang. Tuy nhiên, cũng có thể nhận ra được rằng, hoạt động du lịch cộng đồng vẫn còn khá mới mẻ đối với người dân nơi đây. Nên trong quá trình phát triển vẫn còn tồn tại nhiều điều mâu thuẫn và hạn chế. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế đó là do công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng còn nhiều bất cập, chưa thực sự tạo được điều kiện để ngành du lịch địa phương vươn lên và phát triển. Do vậy, việc tìm ra những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng là cần thiết, nhằm thúc đẩy du lịch cộng đồng của Hà Giang phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong tương lai.

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 3

1.1 Khái niệm, đặc điểm du lịch cộng đồng: 3

1.1.1 Khái niệm du lịch cộng đồng: 3

1.1.2 Đặc điểm du lịch cộng đồng: 4

1.1.3 Phát triển du lịch cộng đồng 4

1.2 Khái niệm, yêu cầu và vai trò quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng 5

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng 5

1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng: 6

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG 9

2.1 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Hà Giang 9

2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và du lịch của tỉnh Hà Giang 9

2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng của Tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2019 13

2.2 Thực trạng QLNN về DLCĐ ở tỉnh Hà Giang 17

2.2.1 Quan điểm QLNN về DLCĐ trên địa bàn tỉnh Hà Giang 17

2.2.2 Thực trạng QLNN về DLCĐ của tỉnh Hà Giang 17

2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng tại tỉnh Hà Giang 26

2.3.1 Những ưu điểm 26

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 27

CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG 30

Trang 3

3.1 Quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển du lịch và quan điểm

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Du lịch ngày nay, không chỉ tại Việt Nam mà còn trên thế giới, đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng Việc phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đang là yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, tốc độ phát triển quá nhanh của ngành du lịch, đã dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên, hủy hoại môi trường, các văn hóa truyền thống bị mai một… Chính vì vậy, cần có những giải pháp tối ưu để hạn chế những tiêu cực đó

Và một số loại hình du lịch đã được ra đời, bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi trường và văn hóa bản địa như: du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch khám phá, du lịch cộng đồng đã góp phần cao hiệu quả của mô hình du lịch có trách nhiệm, đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Hà Giang - một tỉnh miền núi thuộc vùng kinh tế Tây Bắc, với nhiều lợi thế

về tài nguyên du lịch tự nhiên, cùng vị trí địa lý thuận lợi trong những năm qua đã

và đang khai thác nhiều loại hình du lịch như: du lịch địa chất, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh…Trong đó, hoạt động du lịch cộng đồng được coi là một trong những thế mạnh của Hà Giang Tuy nhiên, cũng có thể nhận ra được rằng, hoạt động du lịch cộng đồng vẫn còn khá mới mẻ đối với người dân nơi đây Nên trong quá trình phát triển vẫn còn tồn tại nhiều điều mâu thuẫn và hạn chế Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế đó là do công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng còn nhiều bất cập, chưa thực sự tạo được điều kiện để ngành du lịch địa phương vươn lên và phát triển Do vậy, việc tìm ra những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng là cần thiết, nhằm thúc đẩy du lịch cộng đồng của Hà Giang phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong tương lai

Xuất phát từ những lý do đó, nhận thấy được những tiềm năng phát triển du

lịch cộng đồng tỉnh Hà Giang, nhóm đã quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà

nước về du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hà Giang” để thực hiện bài tập

nhóm

Trang 5

Trong quá trình thực hiện bài tập nhóm, tuy rằng đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, sai sót và cả nhầm lẫn Sự nhận xét và góp ý của cô sẽ là động lực để nhóm hoàn thiện bài làm một cách tốt hơn

Xin trân trọng cảm ơn !

Trang 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

Theo như Luật Du lịch được ban hành vào ngày 19/6/2017, “du lịch” và “các hoạt động du lịch” được định nghĩa như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”; còn “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và

cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch.”

1.1.1.2 Khái niệm cộng đồng:

Cộng đồng là một nhóm người, thường sống tại cùng một khu vực địa lý, những người được định nghĩa thuộc về một nhóm người Những người trong một cộng đồng thường có chung một dòng máu hoặc quan hệ hôn nhân Họ cũng có thể cùng chung một tôn giáo, quan điểm chính trị, đẳng cấp và quan niệm sống

1.1.1.3 Khái niệm về du lịch cộng đồng:

Theo khoản 15 - điều 3 Luật Du lịch năm 2017 định nghĩa rằng: “Du lịch

cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức và khai thác và hưởng lợi”

Trang 7

Điều đó có thể thấy được rằng, du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do cộng đồng tổ chức, dựa vào thiên nhiên và văn hóa địa phương với mục tiêu bảo vệ môi trường, đề cao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Với du khách, du lịch cộng đồng tạo được cơ hội để tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hóa, trải nghiệm cuộc sống thường nhật của cộng đồng

lượng lao động chủ yếu trong việc đáp ứng nhu cầu tham quan, trải nghiệm của khách du lịch Họ sẽ được tham gia chủ yếu vào việc lên kế hoạch, triển khai và kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào quá trình tổ chức, thực hiện các hoạt động du lịch, từ đó lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻ công bằng và rộng khắp

● Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng: Thực tế thì các các chương trình du lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương Tuy nhiên, các giá trị văn hóa của cộng đồng phải được bảo vệ, giữ gìn với sự đóng góp tích cực của các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch

1.1.3 Phát triển du lịch cộng đồng

1.1.3.1 Khái niệm phát triển du lịch cộng đồng

Phát triển du lịch cộng đồng trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cộng đồng được hưởng quyền lợi vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên

Việc phát triển du lịch cộng đồng nhìn chung phải dựa trên hai khía cạnh:

Trang 8

Như vậy, để thành công được điều này, đòi hỏi phải có sự quan tâm đến lợi ích cộng đồng đầu tiên, từ đó phát huy giá trị của văn hoá bản địa để phục vụ du khách Đây cũng là sự khác biệt lớn của du lịch cộng đồng so với các loại hình du lịch khác nói chung

1.1.3.2 Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng

Để có thể phát triển du lịch cộng đồng của một địa phương, một quốc gia thì cần quan tâm đến những điều kiện sau:

- Có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn với khả năng thu hút khách di lịch Đây là điều kiện cơ bản để tổ chức các hoạt động du lịch Tuy nhiên, mức độ thu hút khách của một khu vực phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chúng loại, tính độc đáo,… của nguồn tài nguyên, đồng thời là khả năng duy trì và phát triển các giá trị của tài nguyên trong vùng đó

- Có cộng đồng dân cư sinh sống hoặc liền kề với khu vực phát triển du lịch Trong phát triển du lịch cần đặc biệt quan tâm đến các yếu tố như: phong tục tập quán, lối sống, trình độ học vấn, quy mô cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp… của địa phương đó

- Có cơ chế chính sách và các biện pháp khuyến khích hợp lý từ các tổ chức quản lý, ban ngành có liên quan để tạo môi trường thuận lợi cho du lịch cộng đồng

- Có thị trường khách đủ lớn về số lượng và đảm bảo chất lượng ổn định cho vùng, từ đó đảm bảo khối lượng công ăn việc làm, thu nhập đều đặn cho người dân

1.2 Khái niệm, yêu cầu và vai trò quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng

Hiểu theo nghĩa chung nhất, quản lý nhà nước vừa là chức năng nhưng cũng

là quyền hạn và nhiệm vụ của nhà nước, được hiểu là việc Nhà nước sử dụng quyền lực chung đã được thể chế hoá tác động thường xuyên và liên tục đến các quá trình, lĩnh vực hay quan hệ xã hội nhằm được mục đích quản lý

Dựa trên cách hiểu về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng được hiểu theo những cách sau đây:

Theo nghĩa chung nhất, quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh liên tục bằng quyền lực công cộng chủ yếu thông qua pháp luật dựa trên nền tảng của thế chế chính trị nhất định đối với quá trình, hoạt

Trang 9

động du lịch cộng đồng nhằm đạt được hiệu quả và mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước đặt ra

Dưới góc độ hành chính – kinh tế thì quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng được hiểu là hoạt động, là quá trình chỉ đạo, điều hành, điều chỉnh các mối quan hệ

xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh du lịch cộng đồng bằng việc thông qua pháp luật, các chủ thể quản lý nhà nước tác động tới các đối tượng quản lý trong quá trình kinh doanh hoạt động du lịch cộng đồng nhằm hướng cho các hoạt động vận động, phát triển theo mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước đặt ra

Tóm lại, khái niệm QLNN về DLCĐ được hiểu như sau: “QLNN về DLCĐ

là phương thức mà thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý để định hướng cho các hoạt động DLCĐ vận động, phát triển đến mục tiêu đã đề ra trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế”

1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng:

Thứ nhất, định hướng hoạt động DLCĐ

Nhà nước thực hiện các chức năng hoạch định để định hướng hoạt động du lịch, bao gồm: hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch; phân tích và xây dựng chính sách; quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường; xây dựng hệ thống pháp luật; xây dựng các chương trình, dự án…

Thứ hai, tổ chức và phối hợp

Nhà nước thành lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về DLCĐ, để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy để thực hiện những vấn đề thuộc về QLNN, nhằm đưa ra chính sách phù hợp Việc hình thành các cơ quan và hệ thống quản lý đã hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan QLNN và DLCĐ với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý du lịch cộng đồng của trung ương, tỉnh, thành phố, huyện, xã

Thứ ba, điều tiết các hoạt động du lịch cộng đồng và can thiệp thị trường

Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh nói

Trang 10

Một mặt nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định hướng đã vạch ra Mặt khác, nhà nước phải can thiệp, điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô

Trong hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng ở nước ta hiện nay, cạnh tranh chưa bình đẳng, không lành mạnh là một trong những vấn đề gây trở lại lớn cho quá trình phát triển DLCĐ

Thứ tư, giám sát các hoạt động du lịch cộng đồng

Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh du lịch cộng đồng cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó (về mặt đăng ký kinh doanh, phương án sản phẩm, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, môi trường ô nhiễm, cơ chế quản lý kinh doanh, nghĩa vụ nộp thuế…)

Nhà nước ra quyết định điều chỉnh thích hợp khi phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật

Nhà nước cũng phải kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý du lịch cộng đồng của Nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ QLNN về hoạt động du lịch, đồng thời bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng

Một là, Hoạch định phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng

Việc ban hành các cơ chế, chính sách địa phương vừa phải bảo đảm đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên, vừa phải phù hợp với tình hình nguồn nhân lực của địa phương để khuyến khích phát triển, tạo công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương, đồng thời cũng đảm bảo tính

ổn định và bình đẳng trong quá trình thực hiện

Hai là, tổ chức điều hành phát triển hoạt động du lịch cộng đồng

• Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước hoạt động du lịch và du lịch cộng đồng

• Đảm bảo sự vận hành và phối hợp của bộ máy quản lý nhà nước theo đúng

kế hoạch

• Tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật chung về Nhà nước liên quan đến hoạt động du lịch cộng đồng và ban hành các văn bản quy phạm pháp

Trang 11

luật, chính sách phát triển du lịch mang tính đặc thù của địa phương có thẩm quyền

Ba là, Kiểm soát phát triển du lịch cộng đồng

Sự phát triển nhanh của du lịch cộng đồng sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như: khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa địa phương, quốc gia… Do đó, chính quyền các cấp phải chỉ đạo thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra, và giám sát đối với hoạt động du lịch, đề phòng và ngăn ngừa kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra

Để thực hiện tốt những yêu cầu này, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về những quy định đầu tư, khai thác tài nguyên du lịch; thực hiện đăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh; xử phạt nghiêm mọi hành

vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn, đồng thời tăng cường hoạt động giám sát, kiểm tra của các cấp ngành trên đối với các cấp, ngành dưới

Trang 12

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG

• Điều kiện tự nhiên

Hà Giang là tỉnh miền núi, nằm ở Phía Bắc, đỉnh đầu của tổ quốc và thuộc vùng kinh tế Tây Bắc So với các tỉnh lân cận trong khu vực, Hà Giang có điều kiện thuận lợi để phát triển DLCĐ như: quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở với các dạng địa hình đan xen nhau khá phong phú; khí hậu thuận lợi cho việc phát triển tập trung thành các vùng có quy mô khá lớn đối với các loại cây trồng có giá trị kinh tế; hệ thống hồ, sông, suối, hang động phong phú, tài nguyên rừng đa dạng

• Tài nguyên DLCĐ tự nhiên

Những điều kiện tự nhiên như vậy đã tạo cho Hà Giang một tiềm năng du lịch thiên nhiên phong phú, là điều kiện thuận lợi phát triển nhiều loại hình du lịch đặc biệt là DLCĐ, Hà Giang được biết tới với một số điểm DLCĐ nổi tiếng như: Cao nguyên đá Đồng Văn, Danh thắng Cột cờ Lũng Cú (huyện Đồng Văn), Núi đôi Quản Bạ (huyện Quản Bạ), Đèo Mã Pì Lèng (huyện Mèo Vạc), Hoa Tam Giác Mạch, Danh thắng Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, Thác Tiên - Đèo Gió (huyện Xín Mần), Hệ thống hang động, …

• Tài nguyên DLCĐ nhân văn

Hà Giang có 19 dân tộc chung sống, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm

đa số, Mỗi dân tộc đều có một di sản văn hóa riêng, làm nên tính độc đáo, đặc sắc của vùng đất, không những thế, một số dân tộc như La Chí, Pu Péo, Cờ Lao… được coi là có duy nhất ở hà Giang với những sắc thái riêng biệt Chính từ đặc điểm có nhiều dân tộc cùng chung sống đã tạo nên cho Hà Giang có một diện mạo văn hóa vừa phong phú vừa độc đáo là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng Cũng như đa số

Trang 13

các cư dân nông nghiệp khác, do sống trong điều kiện hầu như hòa nhập vào tự nhiên nên nhân dân các dân tộc thiểu số ở Hà Giang còn lưu giữ được nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống phản ánh quan hệ về thế giới tự nhiên và tín ngưỡng của họ

Hà Giang còn là nơi có các nghề thủ công truyền thống phong phú và đa dạng, có giá trị phục vụ du lịch cao như: Nghề rèn của người Mông, Dao, Cờ Lao; nghề đan lát của các dân tộc tạo đã ra các sản phẩm đặc trưng (gối, bàn ghế, quầy tấu )

Hà Giang có nhiều sản vật tự nhiên và món ăn độc đáo hấp dẫn du khách và trở thành tài nguyên du lịch nhân văn như 34 chào đứng (hay cháo Ấu tẩu), thịt bò bun khỏi, thịt trâu gác bếp, lạp xưởng vùng cao, thắng cổ, mèn mén, cơm lam, xôi ngũ sắc, nấm hương, măng rừng khô, rượu thóc Nàng Đôn, Tùng Bá, rượu ngô Thanh Vân, Thiên Hương, rượu Ngô Hạ Thổ, chè san tuyết, cam sành, mật ong hoa bạc hà Hương vị của những món ăn trên góp phần thu hút khách và kéo dài thời gian lưu lại trên đất Hà Giang Chợ phiên là một nét văn hóa khá độc đáo và không thể thiếu ở Hà Giang…

Các bản dân tộc thiểu số với bản sắc văn hóa đặc trưng kết hợp môi trường cảnh quan, nghề thủ công truyền thống tạo thành nguồn tài nguyên giá trị để phát triển DLCĐ tỉnh Hà Giang

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội của tỉnh Hà Giang

a Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

Giai đoạn 2015–2018: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm

tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm bình quân đạt mức 6,8%, mức khá so các tỉnh trong khu vực, tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2020 đạt 30 triệu đồng/người, tăng 57,4% so năm 2015 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm

tỷ trọng nông-lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch

vụ Giai đoạn 2015 – 2020, huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, ước đạt gần 44,7 nghìn tỷ đồng, tăng 71,3% so với giai đoạn 2010 - 2015 Tổng thu ngân sách

Trang 14

nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 ước gần 10,7 nghìn tỷ đồng, riêng năm 2020 thu ngân sách đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, tăng 51,2% so năm 2015

Đồng thời, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ, quyết liệt và có nhiều mô hình, cách làm hay, sáng tạo Giai đoạn 2016 -2020 Tỉnh đã huy động được nguồn vốn đầu tư cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được trên 5,1 nghìn tỷ đồng, trong đó nguồn

xã hội hóa và nhân dân đóng góp chiếm 25,5%

Đặc biệt, sau một thời gian thực hiện các giải pháp phát triển du lịch, tốc độ tăng trưởng bình quân trong lĩnh vực du lịch đạt 16%/năm, lượng khách quốc tế đến Tỉnh ngày càng tăng Bên cạnh đó, nhiều chính sách đảm bảo an sinh xã hội được triển khai, đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng thuận cao và được cả hệ thống chính trị vào cuộc Quốc phòng, an ninh được bảo đảm, giữ vững đường biên, mốc giới; các hoạt động đối ngoại trên tinh thần “hòa bình, hữu nghị, hợp tác” với Trung Quốc và với các nước khác được tăng cường, nhất là các nước có nguồn vốn ODA, qua đó tạo động lực lớn cho phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy, trong suốt 05 năm qua, nền kinh tế của tỉnh Hà Giang đã đạt được những thành tựu lớn, quy mô nền kinh tế ngày càng tăng mạnh tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển trong các giai đoạn tiếp theo (Cục thống kê Hà Giang, 2018; Tổng cục thống kê, 2018)

b Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch cộng đồng

Hà Giang đã đẩy mạnh phát triển DLCĐ gắn với nông thôn mới, coi đây là bước đột phá trong phát triển DL của địa phương Trong những năm qua Hà Giang mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với những cố gắng vượt bậc, đến nay

Hà Giang đã hình thành được mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng góp phần rất quan trọng cho phát triển KT XH trong thời gian qua và trong tương lai

• Giao thông:

Hà Giang chỉ có duy nhất đường bộ là hệ thống giao thông chỉnh, giao thông đường thủy không phát triển mặc dù mạng lưới sông suối nhiều nhưng do điều kiện địa hình phức tạp, bị chia cắt độ dốc lớn, nhiều thành đủ và đá ngầm, hiện tại chưa

có đường sắt, đường hàng không, mặc dù có sân bay Phong Quang là sân bay quân

Trang 15

sự nhưng hiện không sử dụng Tuy nhiên hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi cho việc kết nối và rút ngắn khoảng cách giữa Hà Giang với nhiều tỉnh trong khu vực kinh tế Tây Bắc và các tỉnh khác so với trước đây thông qua hệ thống các đường Quốc lộ và đường nội tỉnh như: Quốc lộ 2, Quốc lộ 34, Quốc lộ 4C, Quốc lộ

279, tỉnh lộ 4D, 183, 177 nối liền Hà Giang với các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Các Tỉ lệ thôn, bản có đường xe cơ giới đi được đến thôn đạt 100%

Hệ thống lưới điện của tỉnh đã được đầu tư phát triển mạnh, đảm bảo cung cấp điện lưới cho 11/11 huyện, thành phố và 184/195 xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia, với 120.629 hộ được sử dụng điện chiếm 73,38% tổng số hộ Theo quy hoạch, dự kiến đến năm 2020 hoàn thành và đưa vào sử dụng 44 nhà máy thủy điện, nâng tổng số nhà máy thủy điện trên địa bàn toàn tỉnh 70 nhà máy, đáp ứng mục tiêu phát triển KTXH nói chung, tạo điều kiện mở rộng, phát triển một số loại hình du lịch đặc trưng

Hệ thống thông tin - bưu chính viễn thông từng bước được trang bị kỹ thuật hiện đại, đồng bộ Hình thành mạng lưới điện thoại tử tỉnh đến tất cả các xã, điện thoại di động đã phủ sóng đến các vùng sâu, vùng xa đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân và phục vụ cho nhu cầu phát triển KTXH, đảm bảo quốc phòng, an ninh Tính đến tháng 12 2013 tỷ lệ phủ sóng 97%, mật độ điện thoại 66 máy 100 dân, mật độ thuê bao internet 3,7 thuê bao/100 dân, có 154/195 xã có Bưu điện văn hóa xã

c Dân số, nguồn nhân lực

km2 Hà Giang là vùng đất có nhiều có nhiều dân tộc cùng chung sống hòa thuận, với 19 nhóm ngành dân tộc

● Nguồn nhân lực Do kết cấu dân số trẻ nên Hà Giang có nguồn lao động tương đối dồi dào Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực còn chưa cao

Trang 16

2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng của Tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2019

2.1.2.1 Các điểm du lịch cộng đồng

DLCĐ ở Hà Giang đã không còn đơn thuần chỉ là cung cấp cho du khách những trải nghiệm về ẩm thực mà còn có những trải nghiệm và khám phủ về bản sắc văn hóa, thiên nhiên

Từ năm 2013, các điểm DLCĐ mới bắt đầu hình thành ban quản lý, rồi tiếp đến là các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác ta đời Đến nay (2019), toàn tỉnh đã xây dựng được 25 làng văn hóa DLCĐ, trong đó 15 lãng đã đi vào hoạt động, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, lưu trú như: lãng văn hóa du lịch thôn Tha, Tiến Thắng Hạ Thành, Tùy (thành phố Hà Giang); thôn Kiểm (huyện Bắc Quang); thôn Bản Lạn (huyện Bắc Mê thôn Thanh Sơn (huyện Vị Xuyên); thôn Nà Ràng (huyện Xín Mần); thôn Chì (huyện Quang Bình) - gắn với văn hóa dân tộc Tày; thôn Bục Bản (huyền Yên Minh) – dân tộc Giáy; thôn Nậm Hồng, Phìn Hồ (huyện Hoàng Su Phì); thôn Nậm Đăm (huyện Quản Bạ ) - dân tộc Dao; thôn Sang Pa A (huyện Mèo Vạc) - dân tộc Lô Lô; thôn Lũng Cẩm Trên (huyện Đồng Văn) - dân tộc Mông

Một số huyện ở tỉnh Hà Giang đã khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, cung cấp cho du khách những sản phẩm lưu niệm độc đáo như các sản phẩm dệt lanh (huyện Quản Bạ), mây tre đan (huyện Vị Xuyên Bắc Quang), rượu ngô Thanh Vân (huyện Quản Bạ), rượu Nàng Đôn (huyện Hoàng Su Phi) Trang phục truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây, Lô Lô, Pà Thẻn, Dao cũng được đông đảo du khách nước ngoài đặc biệt yêu thích Đặc biệt, tại thôn Nặm Đăm, xã Quản Bạ (Quản Bạ) 100% hộ dân trong thôn là dân tộc Dao chàm, sống tập trung, còn gìn giữ được nhiều nét văn hóa quý báu như các lễ hội: cấp sắc, bắt cả, các làn điệu dân gian cùng nếp sống gian đi, hiểu khách

Bên cạnh đó, nhiều khu di tích, danh thắng như: Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn; Khu di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Vương, di tích danh thắng Cột cờ Quốc gia Lũng Cú, di tích kiến trúc nghệ thuật phố cổ Đồng Văn cũng đang tạo cơ hội lớn để Hà Giang phát triển du lịch, từ đó nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bản

Trang 17

Một số điểm DLCĐ được đánh giá cao như Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn đã được các cấp chính quyền quan tâm và thành lập một số cơ quan độc thủ như: Ban quản lý CVĐC toàn cầu CNĐ Đồng Văn và 04 Trung tâm thông tin khu vực tại 04 huyện vùng cao núi đá Phía Bắc (huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ) để thực hiện quản lý, bảo tồn, phát triển các giá trị của Công viên địa chất

Tuy nhiên, do hoạt động DLCĐ vẫn còn khá mới mẻ đối với người dân Hà Giang nên trong quá trình phát triển vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa việc giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc với nhu cầu của cuộc sống hiện đại Những nơi còn lưu giữ khi nguyên vẹn các giá trị văn hóa truyền thống lại nằm ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế khó khăn, hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc yếu kém Ở Hà Giang, nghề truyền thống hầu hết đã bị thất truyền do sự xâm nhập của hàng hóa được sản xuất theo dây chuyền công nghiệp nên việc khôi phục làng nghề truyền thống để sản xuất hàng lưu niệm phục vụ khách du lịch gặp rất nhiều khó khăn

2.1.2.2 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật

Hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được quan tâm đầu tư phát triển, từng bước được xây dựng, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng các chỉ tiêu phát triển du lịch nội dung và DLCĐ nói riêng, góp phần tạo nên diện mạo mới cho tỉnh

Ngành du lịch Hà Giang cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch Nhìn chung số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh tế tăng nhanh cả về số lượng, quy mô và phương thức hoạt động

Công tác đầu tư đã được chủ trọng và đứng hướng, thu hút nhiều nguồn đầu

tư đem lại hiệu quả Đặc biệt, hiện toàn tính đã có 366 nhà nghỉ cộng đồng Vào các buổi tối, du khách có thể đắm mình vào không gian của những làn điệu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc tại các homestay

Các huyện cũng đã chủ động cân đối nguồn ngân sách, hỗ trợ nhân dân xây dựng một số công trình cơ bản như: đường bê tông nông thôn, nhà văn hóa DLCĐ cổng làng, công trình vệ sinh khép kín, bể chứa nước sạch Tiêu biểu đã là Làng Văn hóa thôn Nặm Đăm, xã Quản Bạ (Quản Bạ) – đã thực sự trở thành điểm sáng

Trang 18

hộ trong đó 9 hộ dân làm dịch vụ homestay đủ tiêu chuẩn đón khách, 50 hộ có nhà trình tường theo kiểu kiến trúc truyền thống Nhiều hộ có hệ thống nhà tắm, nhà vệ sinh khép kín, người dân đã chủ động đưa chuồng trại ra xa nhà, 100% gia đình đã hoàn thành việc bỏ hè, láng nền, đường nông thôn đã được bé - tăng hóa, tất cả các

hộ được sử dụng điện lưới Quốc gia và nước sinh hoạt hợp vệ sinh

2.1.2.3 Đội ngũ lao động

Số lao động phục vụ DLCĐ: Giai đoạn 2016-2019 số lượng nhân lực phục

vụ cho hoạt động DLCĐ tăng mạnh trong đó số lao động năm 2016 là 745 người, năm 2018 là 2105 nguồn (tăng 3 lần so với năm 2016) Năm 2019 là 2891 người (tầng 41 lần so với năm 2016)

Giai đoạn 2015-2018 số hộ dân tham gia làm du lịch tại các điểm DLCĐ trên địa bàn tỉnh Hà Giang tăng dần theo từng năm, trong 04 năm con số này tăng 2.5 lần Điều này cũng phản ánh tình hình phát triển du lịch tại các điểm DLCĐ ngày càng tốt lên, người dân tham gia làm du lịch tăng dần, điều này sẽ góp phần tăng thu nhập cho người dân tại các điểm DLCĐ, hướng đến phát triển du lịch bền vững

Mặc dù thu nhập ban đầu từ các dịch vụ du lịch tuy chưa cao nhưng cũng là nguồn động viên, khích lệ dễ người dân tích cực tham gia phát triển DLCĐ Với

366 nhà nghỉ cộng đồng tại 15 làng đã đi vào hoạt động đã thu hút đông đảo người diễn địa phương tham gia làm du lịch; tạo được nhiều việc làm; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước tạo động lực cho phát triển KT-XH của tỉnh

Điều này dẫn khẳng định được vị thế và đưa DLCĐ dần đi vào nề nếp, mang lại sự chủ động thật sự cho người dân làm du lịch đúng với ý nghĩa của một điểm DLCĐ

Mặc dù vậy, Hà Giang là tỉnh miền núi có nhiều dân tộc anh em cùng nhau sinh sống, giao thông đi lại còn khó khăn, dân trí của đồng bào còn nhiều hạn chế,

vì vậy nhận thức của đồng bảo vệ lợi ích của kinh tế DL còn thấp, nên việc chuyển biến về văn hóa ứng xử, thái độ giao tiếp của người dân đối với du khách chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của du lịch, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo

Trang 19

2.1.2.4 Lượng khách du lịch, doanh thu và đóng góp của DLCĐ ở tình Hà Giang

Lượng khách, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống toàn tỉnh nói chung và tại các điểm DLCĐ không ngừng tăng với tốc độ khá nhanh Những năm gần đây, số lượng khách du lịch đến với Hà Giang ngày càng đồng Năm 2019, tỉnh Hà Giang

đã đón hơn 1.401.366 lượt người Trong đó khách quốc tế là 145.693 lượt người., doanh thu lên đến hàng chục tỷ đồng

Tại một số làng đón được lượng khách cao như Thôn Lũng Cú trên 50.000 lượt khách, doanh thu trên 1 tỷ đồng; thôn Lô Lô Chải, huyện Đồng Văn đón 25.00 lượt khách, doanh thu trên 500 triệu đồng, thôn Nam Kim, huyện Quản Bạ đòn 5.380 lượt khách (tăng 256 khách so với cùng kỳ năm 2018, doanh thu đạt trên 1,5 tỷ đồng; thôn Hạ Thành và thôn Lâm Đồng, thành phố Hà Giang 11.520 lượt khách, doanh thu đạt 3.45 tỷ đồng tăng trưởng đạt 20% so với cùng kỳ năm 2018; thôn Chỉ, huyện Quang Bình đón được 3.981 lượt khách, doanh thu gần 1 tỷ đồng; thu nhập bình quân các hộ làm dịch vụ du lịch (homestay) tại các làng văn hóa du lịch trung binh đạt 30 đến 50 triệu đồng năm

Sau khi các làng văn hóa du lịch tiêu biểu được công nhận, đời sống nhân dẫn từng bước ổn định đã đem lại một diện mạo mới làm đổi thay rõ rệt theo hướng tích cực Người dân đã chủ động trong việc phát triển DLCĐ gắn với phát triển kinh

tế, ý thức bảo tồn văn hóa, bảo vệ tài nguyên du lịch được hình thành và củng cố; các làng nghề truyền thống đang dần được khôi phục và bảo tồn, đại đa số người dân đã nhận thức được phát triển DLCĐ là đem lại lợi ích cho cá nhân người tham gia và chung cho cả cộng đồng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho nhân dân trong thôn chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phát triển du lịch dịch vụ; tạo được công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn toàn tỉnh

Trang 20

2.2 Thực trạng QLNN về DLCĐ ở tỉnh Hà Giang

2.2.1 Quan điểm QLNN về DLCĐ trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Để du lịch phát triển nhanh, mạnh và bền vững, hoà nhập cùng với xu hướng phát triển chung của du lịch Việt Nam, ngành du lịch Hà Giang cần nắm vững các quan điểm sau:

Nhà nước: phát triển du lịch cộng đồng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch của tỉnh, tạo bước phát triển mới về kinh tế du lịch trong những năm tới

nhọn là hướng tích cực để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành khác phát triển, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước

tình và đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với phát triển du lịch liên vùng của cả nước

sự tham gia tích cực của tất cả các thành phần kinh tế và toàn xã hội

xã hội; tạo môi trường an toàn, thân thiện, vừa giữ được sự ổn định cho cuộc sống người dân trong vùng

ứng nhu cầu của sự phát triển, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của cơ quan QLNN về du lịch

phát triển của các thế hệ tương lai

2.2.2 Thực trạng QLNN về DLCĐ của tỉnh Hà Giang

2.2.2.1 Hoạch định phát triển du lịch

Đến nay, Luật Du lịch 2017 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018, các Nghị định, thông tư hướng dẫn đã có hiệu lực, các quy định về quản lý về du lịch của

Trang 21

tỉnh, hệ thống quy tắc ứng xử văn minh trong du lịch, đề án DLCĐ thông minh đã được UBND tỉnh ban hành và triển khai là những tiền đề hết sức quan trọng, cần thiết để phát triển DLCĐ bền vững, có chất lượng, có chiều sâu, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DL Hà Giang

Cụ thể:

- Quyết định 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030";

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"

- Quyết định số 980/QĐ-TTg ngày 21/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch xây dựng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030"

- Quyết định số 310/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị CVĐC toàn cầu CN Đồng Văn giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030

- Quyết định 826 /QĐ-TTg ngày 30/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch xây dựng công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, đến năm 2030

- Quyết định số 1064/QĐ-TTg ngày 08/07/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và Miền núi phía Bắc đến năm 2020

UBND tỉnh đã phối hợp xây dựng dự thảo đề cương và nhiệm vụ cho Quy hoạch tổng thể phát triển DL tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch thành phố Hà Giang thành Điểm DL Quốc gia; Quy hoạch phát triển tổng thể DL Quản Bạ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quy hoạch tổng thể phát triển Khu DL quốc gia Cao nguyên địa chất toàn cầu đến năm 2030 để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt:

- Quyết định 1646/QĐ-UBND 2014 ngày 20/08/ 2014 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030,

Trang 22

- Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 29 tháng 9 năm 2015 của Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015 – 2020 chương trình phát triển du lịch gắn với phát triển bền vững được xác định là một trong năm chương trình trọng tâm

- Nghị quyết số 35/2016/NQ-HĐND, ngày 21/7/2016 của Hội đồng nhân dân tinh về quy định một số chính sách khuyến khích phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh

- Kế hoạch số 331/KH-UBND ngày 08/8 2018 của UBND tỉnh về thực hiện Chương trình số 29-CTr/TU ngày 24/7/2017 của Tỉnh ủy Hà Giang thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn - Nghị quyết số 17-NQ TU ngày 07/9/2018 của Tỉnh

ủy Hà Giang về tái cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Giang đến năm 2030

- Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 07 tháng 4 năm 2017 về việc quy hoạch xây dựng công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đến năm 2030

- Quyết định số 2057/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 2017 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch khu du lịch quốc gia cao nguyên đá Đồng Văn Tỉnh Hà Giang đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

- Kế hoạch số 166/KH-UBND, ngày 26 tháng 9 năm 2013 của UBND tỉnh

Hà Giang về việc Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị công viên địa chất toàn cầu CNĐ Đồng Văn, tỉnh Hà Giang giai đoạn

2012 đến 2020, tầm nhìn 2030

- Quyết định số 2572/QĐ-UBND ngày 10 tháng 08 năm 2016 của UBND Tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt đề án năm DLCĐ quốc gia 2017 - Hà Giang - Tây Bắc

Từ các văn bản của Nhà nước, Tỉnh ủy, HĐND, UBND đều xem du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng là thể mạnh cần phải quan tâm đầu tư phát triển

Trang 23

Được sự định hướng của các cấp chính quyền, một số huyện ở tỉnh Hà Giang

đã khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, cung cấp cho du khách những sản phẩm lưu niệm độc đáo

Du lịch Hà Giang đã có định hướng phát triển để nâng cao thu nhập cho người dân Năm 2019, toàn tỉnh đã có 59 hồ sơ được thụ hưởng hỗ trợ đầu tư phát triển với số tiền 3,5 tỷ đồng

Để phát triển DLCĐ, tỉnh Hà Giang đã có Nghị quyết số 35/2016/NQ- HĐND ngày 21 tháng 7 năm 2016 và chính sách hỗ trợ người dân phát triển các làng nghề, bảo tồn, giữ gìn nếp nhà truyền thống Phát triển DLCD phải đồng hành với viện bảo tồn nét văn hóa và các làng nghề, phương thức canh tác độc đáo,

sự đa dạng về văn hóa ẩm thực của đồng bào các dân tộc, đặc biệt là cảnh quan kiến trúc thôn bản truyền thống

Bên cạnh đó, với sự trợ giúp của Tổ chức Phát triển Hàn Quốc (KOICA) tỉnh

Hà Giang đã hoàn thành việc xây dựng Quy hoạch DLCĐ bền vững Trong giai đoạn vừa qua, tính ưu tiên đầu tư vào 6 khu DLCĐ trọng điểm là thành phố Hà Giang, huyện Đồng Văn, huyện Quản Bạ, huyện Yên Minh, huyện Bắc Quang huyện Hoàng Su Phi, trong đó, Cao nguyên đá Đồng Văn được coi là trung tâm phát triển DLCD của tỉnh

Nhận thấy tiềm năng phát triển DLCĐ, UBND các huyện trong đó có huyện Quản Bạ đã ban hành Đề án xây dựng Làng Văn hóa DLCĐ Nam Đàm đạt tiêu chuẩn "Du lịch dựa vào cộng đồng ASEAN" giai đoạn 2018-2020 Theo đó, mục tiêu đến năm 2020, thôn Nặm Đàm sẽ đạt tiêu chuẩn “Du lịch dựa vào cộng đồng ASEAN" với tất cả các hộ tham gia làm dịch vụ, du lịch và được hưởng quyền lợi

từ du lịch; cộng đồng Năm Đâm sẽ có đủ khả năng tổ chức, quản lý và phát triển du lịch Dự kiến đến năm 2020, Nam Đêm thu hút khoảng 10 nghìn lượt khách, tổng thu từ dịch vụ, du lịch đạt trên 5 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người ít nhất 30 triệu đồng năm

2.2.2.2 Tổ chức điều hành

Tổ chức bộ máy điều hành

Tại tỉnh Hà Giang, trong hệ thống cơ quan quản lý, Ban Thường vụ, Thường

Ngày đăng: 07/11/2022, 10:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w