Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được, qua kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác phòng chống tham nhũng tại Thành ủy TP.HCM cho thấy còn có những hạn chế, nếu không được kịp thời
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH – TỪ THỰC
TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH – TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TẦN XUÂN BẢO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Người cam đoan
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trích dẫn, các số liệu nêu trong luận văn đảm bảo tính trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng.
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7
7 Kết cấu 7
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 8
1.1 Những khái niệm liên quan 8
1.1.1 Cơ sở khoa học về phòng, chống tham nhũng 8
1.1.2 Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh 15
1.2 Một số vấn đề lý luận Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng 18
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm QLNN về phòng, chống tham nhũng 18
1.2.2 Mục đích quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng 20
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng 21
1.2.4 Công cụ, phương thức quản lý nhà nước về PCTN 26
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong QLNN về PCTN và những giá trị tham khảo cho Thành phố Hồ Chí Minh 31
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 31
1.3.2 Những giá trị tham khảo cho Thành phố Hồ Chí Minh 36
Tiểu kết chương 1 38
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG
THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH – TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH39
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của TP.HCM tác động đến QLNN về PCTN trong cơ
quan hành chính của TP.HCM 39
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Tình hình kinh tế -xã hội 40
2.1.3 Cơ quan hành chính nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.2 Đánh giá thực trạng 43
2.2.1 Đánh giá việc thực hiện các nội dung QLNN về PCTN 43
2.2.2 Kết quả, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác QLNN về PCTN tại các cơ quan HCNN TPHCM 63
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PCTN TRONG CƠ QUAN HCNN CẤP TỈNH – TỪ THỰC TIỄN TPHCM 71
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng 71
3.2 Định hướng phòng, chống tham nhũng tại Thành phố Hồ Chí Minh 73
3.3 Các giải pháp 75
3.3.1 Giải pháp về thể chế QLNN về PCTN 75
3.3.2 Giải pháp về tổ chức bộ máy, phân công thực hiện QLNN về PCTN81 3.3.3 Giải pháp về nhân sự 89
3.3.4 Giải pháp về quản lý nguồn lực công 95
3.3.5 Thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm 100
3.3.6 Một số giải pháp khác 113
3.4 Một số kiến nghị 114
3.4.1.Kiến nghị về thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, chống lãng phí tại Thành phố Hồ Chí Minh 114
3.4.2 Kiến nghị về điều chỉnh, sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng 116
Tiểu kết chương 3 118
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 6số 55/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một
số Điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13
Trang 7Biểu đồ 2.3 Số cuộc kiểm tra việc thực hiện các quy định về định mức, tiêu
chuẩn trong phòng ngừa tham nhũng tại TP Hồ Chí Minh 2012-2015
Biểu 2.4 Tỷ lệ số cuộc thanh tra phòng, chống tham nhũng tại TP.Hồ Chí
Minh 2013-2016(%)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế, chính trị khoa học và kỹ thuật.Tuy nhiên, trong quá trình này chúng ta phải đối mặt với rất nhiều trở ngại và thách thức, và một trong các vấn đề lớn đó chính là tệ nạn tham nhũng.Tệ nạn này
nhũng đã có những tiến bộ nhất định nhưng đây vẫn là một nguy cơ mang tính toàn cầu, đe dọa sự phát triển của xã hội.Với quy mô, thủ đoạn ngày càng diễn biến phức
phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cơ quan hành chính, hình
sự và của từng thành viên trong xã hội
Trải qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp tích cực để phòng, chống tham nhũng Đại hội lần thứ XI (nhiệm
kỳ 2011-2015) Đảng ta khẳng định: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm Tiếp tục hoàn thiện thể chế
và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch
vụ công, doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công Thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định Xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng, lãng phí Xử lý đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng, tịch thu sung công tài sản tham nhũng và có nguồn gốc tham nhũng; có cơ chế khuyến khích
và bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Tổng kết, đánh giá
cơ chế, mô hình tổ chức cơ quan phòng, chống tham nhũng để có chủ trương, giải pháp phù hợp” Ngoài ra, Luật phòng, chống tham nhũng 2005, sửa đổi bổ sung năm 2007, 2012cùng các văn bản dưới luật cũng đã được ban hành để kịp thời, nhanh chóng hạn chế tệ nạn nguy hiểm này
Trang 9Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước cùng với sự cố gắng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đã tạo những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động trong PCTN Công tác PCTN đã đạt được những kết quả bước đầu, nhất là trong xây dựng thể chế và công tác phòng ngừa Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá, công tác PCTN trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, đó là: Giữa quyết tâm chính trị và hành động thực tiễn còn khoảng cách đáng kể.Mặc dù công tác PCTN đã có chuyển biến theo hướng tích cực nhưng chưa tạo được sự chuyển đổi mạnh mẽ, tình hình tham nhũng hiện nay vẫn ở mức nghiêm trọng, diễn biến phức tạp; xảy ra ở nhiều cấp – ngành - lĩnh vực, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức suy thoái đạo đức, lối sống; hình thức, thủ đoạn tham nhũng ngày càng tinh vi, gây bức xúc xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn chiến lược trọng yếu, có vị trí, vai trò đầu tàu về kinh tế - xã hội đối với khu vực và cả nước, luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù, góp phần tạo thuận lợi cho phát triển bền vững Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được, qua kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác phòng chống tham nhũng tại Thành ủy TP.HCM cho thấy còn có những hạn chế, nếu không được kịp thời chấn chỉnh, khắc phục sẽ kìm hãm sự phát triển của thành phố và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tham nhũng: Cụ thể, công tác tuyên truyền, quán triệt các văn bản quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng chưa được sâu rộng, chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức có chức vụ quyền hạn.Việc tự phát hiện tham nhũng của các cơ quan, đơn vị hiệu quả chưa cao Việc theo dõi, giám sát xử lý sau thanh tra đối với một số vụ việc chưa được chặt chẽ Theo ông Nguyễn Thành Phong - Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho biết nhiều năm qua tình hình chống tham nhũng và công tác điều tra, truy
tố, giám định tư pháp còn chậm, chưa đạt yêu cầu: “Trên thực tế tham nhũng ngày càng tinh vi, được che chắn, tiềm ẩn dưới hình thức như lợi ích nhóm, vận chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài Trong những vụ việc phát hiện tham nhũng có biểu hiện lợi ích nhóm rất tinh vi, thậm chí cấu kết chặt chẽ thành một nhóm người, có những
Trang 10vụ việc tạo ra lợi ích nhóm từ việc xây dựng cơ chế chính sách để làm lợi cho một
số người có chức vụ, quyền hạn” Chủ tịch UBND TP đã nhận định tham nhũng là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong nhân dân Do đó, từ nhiều năm nay, Đảng bộ, chính quyền TP luôn chú trọng công tác phòng, chống tham nhũng; và cũng đã sớm ban hành các quy định về phòng chống tham nhũng
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng của UBND thành phố cho thấy, từ năm 2006-2015, Công an TP đã thụ lý điều tra 152 vụ án tham nhũng, chức vụ với 463 bị can Tổng giá trị tài sản thiệt hại, phạm tội trên 600
tỉ đồng và 136.000 USD.Đến nay, quá trình khởi tố, điều tra, kết luận không có trường hợp nào bị oan sai phải bồi thường
Riêng Viện kiểm sát nhân dân TP đã thụ lý 151 vụ với 396 bị can, truy tố 140
vụ với 323 bị can Toà án nhân dân TP xét xử 199 vụ Tính từ năm 2006 đến nay, các vụ án hình sự sơ thẩm thuộc thẩm quyền thụ lý của Toà án nhân dân TP liên quan đến tham nhũng có tăng nhưng không đáng kế về số lượng vụ Tuy nhiên, số
bị cáo ngày càng tăng mạnh, đặc biệt có năm số bị cáo tăng đột biến
Do vậy, với vai trò là một đơn vị hành chính rộng lớn, phát triển vượt trội về mọi mặt, trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa – du lịch nước ta, Thành phố Hồ Chí Minh cần nhanh chóng, khẩn trương tăng cường hơn nữa công tác QLNN trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, đặc biệt trong cơ quan hành chính để đảm bảo thực hiện chức năng QLNN, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động, duy trì sự ổn định trong sự phát triển kinh tế - xã hội, lấy lại niềm tin từ người dân
tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh – từ thực tiễn Thành phố
Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có nhiều nghiên cứu
về vấn đề PCTN Tuy nhiên, các nghiên cứu phần lớn thiên về hệ thống chính sách, pháp luật, mà ít đề cập đến nội dung quản lý nhà nước về PCTN, nhất là trong các
cơ quan hành chính nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau:
- Luận án Tiến sĩ Luật học: “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Trần Đăng Vinh, Đại học Luật Hà Nội,
2012 Luận án tập trung nghiên cứu nội dung Pháp luật về PCTN tại Việt Nam gồm:
lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật – đây là cơ sở lý thuyết
để tôi vận dụng váo xây dựng luận cứ nội dung thể chế QLNN nói chung và QLNN
về PCTN nói riêng Nội dung này chỉ là một nhánh trong nội dung QLNN về PCTN, luận án chỉ đề cập đến pháp luật mà chưa nhắc đến các nội dung QLNN về PCTN Vì vậy, vấn đề QLNN về PCTN sẽ được đào sâu nghiên cứu trong luận văn của tôi
- Luận văn Quản lý công: “Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng của
cơ quan Thanh tra nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Xuân Dương,
2010 Luận văn này có đề cập đến nội dung QLNN về PCTN – phần luận văn của tôi kế thừa, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của luận văn này hạn chế trong cơ quan thanh tra ở Việt Nam, chứ không phải toàn hệ thống cơ quan thực hiện chức năng QLNN về PCTN
- Luận văn Quản lý công: “Tham nhũng, phòng và chống tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Từ Thanh Sơn, 2007 Luận văn tiếp cận theo hướng hệ thống hóa lý luận chung về PCTN, đánh giá thực trạng PCTN tại cơ quan hành chính TP.HCM và đưa ra giải pháp – nghiên cứu này cung cấp cho tác giả hệ thống các đánh giá thực trạng công tác PCTN tại TP.HCM, để tác giả vận dụng vào chương 2 luận văn Tuy nhiên, đối tượng luận văn nghiên cứu là hoạt động PCTN, chứ không xoáy vào nội dung QLNN về PCTN Vì vậy, một mặt kế thừa các nghiên cứu về vấn đề PCTN, luận văn của tôi đã tập trung vào nội dung còn chưa rõ trong việc QLNN về PCTN
- Luận văn Quản lý công:“Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Nga,2011 Luận văn hệ thống hóa lý luận quản lý nhà nước về PCTN gồm các nội dung: các khái niệm, đặc trưng, nội dung QLNN, kinh nghiệm một số nước về PCTN Sau đó, luận văn đánh giá thực
Trang 12thực trạng QLNN về PCTN tại Việt Nam hiện nay trên các nội dung của QLNN về PCTN, đánh giá những kết quả, hạn chế Cuối cùng, luận văn hệ thống quan điểm
và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về PCTN ở Việt Nam hiện nay Đây
là luận văn thiên về phân tích thực trạng QLNN về PCTN, tuy nhiên phạm vi đề cập tại Việt Nam nói chung Luận văn của tôi sẽ kế thừa nội dung QLNN về PCTN tại luận văn này, đồng thời chủ động đánh giá thực trạng QLNN về PCTN tại cơ quan hành chính TP Hồ Chí Minh Đây là điểm khác biệt trong luận văn của tôi
Ngoài ra, còn rất nhiều các tài liệu, giáo trình, đề tài khác, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập rõ ràng, sâu sắc về nội dung QLNN về PCTN, đặc biệt tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh, ví dụ:
- Luận văn Quản lý công:“Hiệu quả quản lý nhà nước trong phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ” của tác giả Lương Duy Huy,2012;
- Luận văn Quản lý công:“Tăng cường cơ chế dân biết, dân bàn, dân kiểm tra trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nghiêm Thị Thanh Nga,2012;
- Luận văn Quản lý công:“Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước khi để xảy ra tham nhũng, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Đào Quốc Trưởng,2014;
- Đề tài cấp bộ:“Một số vấn đề về quản lý nhà nước trong phòng, chống tham nhũng” của tác giả Ngô Mạnh Hùng,2013;
- Tài liệu giảng dạy về phòng, chống tham nhũng dùng cho các trường đại học, cao đẳng không chuyên về luật, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 2014;
- Tài liệu bồi dưỡng về phòng, chống tham nhũng (dành cho giáo viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp), Viện khoa học Thanh tra, Thanh tra chính phủ, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011
Vì các nghiên cứu liên quan đến QLNN về PCTN tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh tại Thành phố Hồ Chí Minh có khá ít tác giả nghiên cứu, nên tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và lựa chọn nội dung này làm tên luận văn thạc sĩ của mình Đây là đề tài không trùng lặp, nghiên cứu vấn đề hoàn toàn mới, còn bỏ ngõ
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ luận văn
- Mục đích: hệ thống hóa cơ sở khoa học của hoạt động QLNN về PCTN, các
cơ quan HCNN làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về PCTN tại cơ quan hành chính nhà nước trên địa bànTPHCM; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về PCTN tại cơ quan hành chính nhà nước trên địa bànTPHCM
- Nhiệm vụ:
Một là, khái quát cơ sở khoa học quản lý nhà nước về về phòng, chống tham
nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước
Hai là, tìm hiểu thực trạng quản lý nhà nước về về PCTN tại TPHCM.Trong
nhiệm vụ này cần làm rõ những kết quả, hạn chế trong công tác quản lý và tìm ra nguyên nhân
Ba là, đưa ra các quan điểm chung của Đảng, nhà nước trong PCTN; vạch ra
những định hướng của TPHCM; đề xuất các giải pháp khắc phục hạn chế trong quản lý nhà nước về PCTN từ thực tiễn TPHCM
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng trong
cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh (thực tiễn từ UBND TP.HCM)
- Phạm vi:
Không gian: tại UBND Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian: 2011 – 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng và nhà nước về PCTN
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nguồn nghiên cứu chủ yếu là các công trình,
đề tài, luận văn, luận án, sách, giáo trình Tác giả đọc tài liệu và rút ra các nhận định, trích dẫn những nội dung cần thiết liên quan đến luận văn
Trang 14Phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp và xử lý số liệu: Tác giả thống kê các con số đánh giá thực trạng QLNN về PCTN qua các năm, tổng hợp, so sánh và đưa
ra các kết luận dựa vào số liệu cụ thể
Phương pháp phân tích: Trên cơ sở số liệu thu thập được, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để so sánh, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước
về PCTN tại TPHCM qua các năm, tìm ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại Trong chương 3, luận văn phân tích, diễn giải cụ thể từng nhóm giải pháp để giải quyết tồn tại, hạn chế này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Đề tài cung cấp những kiến thức cơ bản về về PCTN trong cơ
quan hành chính nhà nước - nội dung ít được nghiên cứu cho các cơ quan nhà nước Đồng thời hệ thống hóa những nội dung cần thiết nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về về PCTN trong cơ quan hành chính nhà nước tại TPHCM
- Về thực tiễn: đề tài góp phần cung cấp thực trạng QLNN về PCTN trong cơ quan hành chính nhà nước tại TPHCM giúp các cơ quan quản lý nhìn nhận, đánh giá thực trạng một cách khách quan, chính xác nhất Đồng thời đề tài tìm ra những hạn chế tồn tại để giúp cơ quan quản lý tìm ra giải pháp khắc phục hiệu quả
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.1 Những khái niệm liên quan
1.1.1 Cơ sở khoa học về phòng, chống tham nhũng
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các hành vi tham nhũng
Khái niệm tham nhũng
Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.[33,tr 8]
Theo nghĩa hẹp và cũng là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2007, 2012), “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn
đó vì vụ lợi” [33, tr.8] Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác
là ở nơi có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng
cơ bản như sau:
a) Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn
Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức
vụ, quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn
vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan
Trang 16chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó [33] b) Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao
“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng Người thực hiện hành vi tham nhũng phải lợi dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng
c) Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi
Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích Hiện nay,pháp luật Việt Nam quy định việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tham nhũng chủ yếu dựa trên những lợi ích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được, để từ đó quyết định mức độ xử lý
Các hành vi tham nhũng
Bộ luật hình sự, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2007, 2012 phân loại tham nhũng theo hành vi Theo đó, các hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng:
- Tham ô tài sản: là lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình
có trách nhiệm quản lý;
- Nhận hối lộ: là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ;
- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;
Trang 17- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi:
là việc cá nhân vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân;
- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi: là cá nhân vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước và xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi: là việc cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm;
- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi: là cá nhân vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây: Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; Làm, cấp giấy tờ giả; Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn[36, tr 247-254];
- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn
để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi: là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của nhà nước để phục
vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ cho lợi ích công Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuê tài sản như: nhà xưởng, trụ sở,
xe ôtô và các tài sản khác nhằm vụ lợi Số lượng tài sản cho thuê nhiều khi lớn;
- Nhũng nhiễu vì vụ lợi: là hành vi “đòi hối lộ” một cách gián tiếp hoặc ở mức
độ chưa thật nghiêm trọng và có thể dùng biện pháp xử lý hành chính;
- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi: là hành vi thường được gọi là
“bảo kê” của những người có trách nhiệm quản lý, đặc biệt là một số người làm việc
Trang 18tại chính quyền địa phương cơ sở, đã “lờ” đi hoặc thậm chí tiếp tay cho các hành vi
vi phạm để từ đó nhận lợi ích từ những kẻ phạm pháp
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi [69]
1.1.1.2 Tác hại của tham nhũng
Tham nhũng có thể gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Có thể khái quát những tác hại chủ yếu ở những điểm chính sau:
Một là, tác hại về chính trị
Tham nhũng là cản trở lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, làm chậm sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội
Thực hiện đổi mới đất nước đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế
và chính trị vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Tuy nhiên, trên thực tế, sự phát triển gặp rất nhiều khó khăn thách thức và một trong những cản trở lớn nhất là tham nhũng Quan điểm và tư duy đổi mới cùng với cơ chế, pháp luật đúng đắn, phù hợp
đã bị tệ tham nhũng làm cho méo mó Đối tượng tham nhũng đã lợi dụng sự thông thoáng của cơ chế, chính sách để thực hiện hành vi tham nhũng Cơ chế, chính sách
đã trở thành công cụ để thực hiện những lợi ích cá nhân Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, tham nhũng sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư dù Việt Nam được coi là quốc gia ổn định, an toàn về chính trị, xã hội
Hai là,tác hại về kinh tế
Tham nhũng gây thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, của doanh nghiệp
và của nhân dân Ở nước ta, trong thời gian qua, nạn tham nhũng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiền của, thời gian, công sức của nhân dân Hàng loạt vụ tham nhũng lớn, nghiêm trọng
đã bị phát hiện Giá trị tài sản bị thiệt hại, bị thất thoát liên quan tới tham nhũng của
Trang 19mỗi vụ lên tới hàng chục, hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn tỉ đồng.Đó là những con
số lớn và đáng lo ngại so với ngân sách hằng năm của đất nước Trong điều kiện là một nước đang phát triển, mọi nguồn lực cần phải huy động tối đa cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời phải nỗ lực cho việc xoá đói, giảm nghèo
và thực hiện các chính sách xã hội khác thì việc lãng phí, thất thoát tài sản, tiền của, thời gian, công sức do tham nhũng cần được coi là một thứ tội ác phải đấu tranh và
xử lý mạnh mẽ Ở mức độ thấp hơn, việc một số cán bộ, công chức quan liêu, sách nhiễu đối với nhân dân trong khi thực thi công vụ, lạm dụng quyền hạn trong khi thi hành công vụ khiến cho doanh nghiệp và nhân dân phải mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để có thể thực hiện được công việc của mình như xin cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận, hoặc các loại giấy tờ khác
Ba là, tác hại về xã hội
Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Trước những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được khi thực hiện hành vi tham nhũng, nhiều CB,CC,VC
đã không giữ được phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng Vì vậy, tham nhũng không chỉ phát sinh ở trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai… mà còn có xu hướng lan sang các lĩnh vực mà từ trước tới nay ít có khả năng xảy ra tham nhũng như: văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao Hành vi tham nhũng còn xảy ra trong một số chương trình trợ cấp cho thương binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách; tham nhũng cả tiền, hàng hoá cứu trợ cho đồng bào gặp thiên tai; tham nhũng trong cả xét duyệt công nhận di tích lịch sử, văn hoá, thi đua khen thưởng Tham nhũng còn xảy ra ở một số cơ quan bảo vệ pháp luật, những cơ quan đại diện cho công lý và công bằng xã hội[69]
1.1.1.3 Ý nghĩa và tầm quan trọng của phòng, chống tham nhũng
Phòng, chống tham nhũng là các hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, đó là việc thực hiện các phương thức, biện pháp để ngăn ngừa, hạn chế, đấu tranh phát hiện, xử lý các hành vi của các chủ thể có chức vụ, quyền hạn và
lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để vụ lợi Trong đó:
Trang 20- Phòng ngừa tham nhũng: là việc áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự
Trong chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, Chính phủ nhận định: “Tham nhũng trở thành vật cản lớn cho thành công của công cuộc đổi mới, cho sức chiến đấu của Đảng, đe dọa sựtồn vong của chế độ”[23,Tr.494] Như vậy, phòng, chống tham nhũng không chỉ có mục đích đơn thuần là làm giảm tình hình vi phạm pháp luật nói chung, tội phạm nói riêng mà nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Do đó, phòng, chống tham nhũng cần được xem như là một nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai, Phòng, chống tham nhũng góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân
Trang 21Tham nhũng làm hao tổn lớn nguồn lực kinh tế của quốc gia, làm chậm nhịp tăng trưởng của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực và thế giới Mặt khác, tham nhũng còn làm cho người dân bị thiệt hại hơn về kinh tế thông qua việc “buộc phải đưa hối lộ” Tham nhũng làm tăng thêm gánh nặng về kinh tế đối với người dân trong điều kiện kinh tế vốn đã rất khó khăn Tham nhũng còn làm cho sự chênh lệch về tài sản, sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng Các lợi ích kinh tế trong xã hội không được phân chia hợp lý Điều này không chỉ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế mà còn làm tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn, bất ổn trong xã hội
Vì vậy, để phát triển kinh tế nhanh và vững chắc, đồng thời không ngừng nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần cho nhân dân cần thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng ngừa và đấu tranh không khoan nhượng với tham nhũng Việc tích cực phòng, chống tham nhũng có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với việc phát triển, tăng trưởng nền kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn, góp phần quan trọng trong việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
Thứ ba, Phòng, chống tham nhũng góp phần duy trì các giá trị đạo đức truyền thống, làm lành mạnh các quan hệ xã hội
Các giá trị đạo đức truyền thống của xã hội, của dân tộc như lòng nhân ái, đức
hy sinh, tinh thần tương thân tương ái… không những không được đề cao mà ngày càng mai một Tư tưởng coi trọng quyền lực và đồng tiền (quá mức) đã làm cho nhiều người (có chức vụ, quyền hạn) thiếu trách nhiệm đối với nhà nước và xã hội, thờ ơ vô cảm với đồng loại, thậm chí hống hách, coi thường kỷ cương, vi phạm pháp luật Tham nhũng đã và đang tấn công mạnh mẽ sang cả những lĩnh vực vốn được cả xã hội tôn vinh, kính trọng là y tế và giáo dục Để bảo vệ xã hội, bảo tồn và phát triển các giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống thì Nhà nước, mỗi người dân và toàn xã hội cần đồng lòng, chung sức đấu tranh không khoan nhượng với các hành
vi tham nhũng và tội phạm về tham nhũng Việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng chính là hoạt động góp phần duy trì các giá trị đạo đức truyền thống và làm lành mạnh các quan hệ xã hội
Trang 22Thứ tư, Phòng, chống tham nhũng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ và pháp luật
Nạn tham nhũng ở Việt Nam thời gian qua diễn ra rất tinh vi, phức tạp và ngày càng nghiêm trọng và điều đó đã gây ra những thiệt hại lớn về cả kinh tế và xã hội cũng như làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và pháp luật, khiến cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng càng thêm khó khăn Nguyên nhân chủ yếu là bởi sự tha hóa của một bộ phận không nhỏ của CB, CC, VC trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao Vì vậy, nhiệm vụ làm trong sạch bộ máy, tăng cường sức mạnh cho bộ máy nhà nước mà chủ yếu thông qua con đường đấu tranh không khoan nhượng với nạn tham nhũng cần được thực hiện một cách quyết liệt Chỉ có như vậy mới loại bỏ được hành vi tham nhũng, mới khôi phục được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và pháp luật [26]
1.1.2 Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh
Hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận hợp thành của bộmáy Nhà nước, được thành lập để thực thi quyền hành pháp Đó là hoạt động chấp hành
và điều hành của hệ thống hành chính Nhà nước trong quản lý xã hội theo quy định pháp luật Hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước được thành lập từ Trung ương đến địa phương, có tính trực thuộc và tính thứ bậc chặt chẽ Cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương bao gồm Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trong đó Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một bộ phận của bộ máy nhà nước, có chức năng quản lý hành chính trong đơn vị lãnh thổ là địa phương mình theo quy định pháp luật.Cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương bao gồm Ủyban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) và cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủyban nhân dân các cấp (sở, phòng, ban) Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan thẩmquyền chung, thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước đối với mọi mặtđời sống xã hội trên phạm vi lãnh thổ địa phương; còn các cơ quan chuyên mônthuộc Ủy ban nhân dân
Trang 23các cấp là cơ quan thực hiện chức năng tham mưu, giúpỦy ban nhân dân cùng cấp quản lý hành chính Nhà nước về ngành, lĩnh vực ởđịa phương mình
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013và Luật Tổ chức Chính uyền địa phương 2015,chính quyền địa phương được tổ chức ở 3 cấp tương ứng đối với các đơn vị hành chính sau đây:Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)
Do đó, có thể nói, cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh gồm: Ủy bannhân dân cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên; cáccơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có sở và cơ quan ngang sở
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: là cơ quan hành chính của các địa phương
ấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có từ 11 đến
17 thành viên, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, ủy viên thư ký và các ủy viên khác Thường trực Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, và ủy viên thư ký.Bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương cấp tỉnh gồm Văn phòng ủy
ban nhân dân và các sở, ban, ngành, chia thành các khối
Đặc điểm cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh liên quan đến nguy cơ phát sinh tham nhũng
Thứ nhất, cơ quan hành chính Nhà nước cấp tỉnh là cơ quan thực hiệnhoạt
động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tạiđịa phương Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước cấp tỉnh diễn ra trên tất cả cácngành, lĩnh vực của đời sống xã hội, giải quyết quyền, lợi ích của rất nhiều tổchức, cá nhân trong phạm vi địa phương mình quản lý Do đó, nếu quyền lựckhông được kiểm soát tốt sẽ xảy ra tình trạng cán bộ, công chức lợi dụng quyềnđược cơ quan hành chính Nhà nước giao để trục lợi bằng cách nhận một quyềnlợi nào đó để mang lại lợi ích cho cá nhân hay tổ chức, hoặc cố ý làm trái côngvụ để mang lại lợi ích cho chính bản thân mình So với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội… thì cơ quan hànhchính nhà nước là nơi trực tiếp và thường xuyên tiếp xúc với nhân dân và
Trang 24doanhnghiệp hơn, đồng thời đây cũng là nơi giải quyết các lợi ích của các tổ chức, cánhân trong xã hội nhất là giải quyết các thủ tục hành chính như xin cấp các
loạigiấy phép, giấy chứng nhận, cấp kinh phí, quyết toán vốn đầu tư… Một số lĩnhvực quản lý có đối tượng nhạy cảm, có thể mang lại những lợi ích vật chất rấtlớn như đất đai, tài nguyên khoáng sản, tiền bạc, chức quyền, cấp phép
kinhdoanh, rất dễ xảy ra tham nhũng, chính là mảnh đất màu mỡ phát sinh hành vi tham nhũng
Thứ hai, các cơ quan hành chính Nhà nước cấp tỉnh sử dụng nguồn lựcvật chất
lớn nên luôn tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng Cơ quan hành chính Nhà nước cấp tỉnh
là nơi sử dụng nguồn lực vật chấtlớn thông qua việc mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, đi lại, xây dựngtrụ sở, quản lý nguồn tiền cơ quan và tiền của các chương trình, dự án… nênnhững người được giao quản lý, sử dụng nguồn lực vật chất này lợi dụngnhững kẻ hở để chiếm đoạt tiền bạc, ngân sách Nhà nước như kê khống vật tưxây dựng, liên kết với nhà cung cấp nâng giá trị sản phẩm, hàng hóa, đòi hỏi tiền hoa hồng trong mua sắm trang thiết bị, đầu tư xây dựng…
1.1.2.2 Vai trò
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt Một mặt, với tư cách
là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất trên lãnh thổ Việt Nam Mặt khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp cao hơn
Trang 251.2 Một số vấn đề lý luận Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm QLNN về phòng, chống tham nhũng
1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng
Quản lý
Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản
lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được mục đích của người quản lý.Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Quản lý nhà nước
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác
động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN” [22,tr 407] Như
vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt
Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước,
từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp
Trang 26Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật
Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng
Theo các luận điểm trên, có thể hiểu khái niệm Quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn
bộ hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu phòng ngừa, ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng là sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động phòng, chống tham nhũng do các cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng từ Trung ương đến cơ
sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền
1.2.1.2 Đặc điểm QLNN về PCTN
Cũng như QLNN nói chung, QLNN về PCTN có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, chủ thể QLNN về PCTN là các cơ quan nhà nước, bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp;
Hai là, khách thể của QLNN về PCTN là các quá trình xã hội (trật tự QLNN, trật tự xã hội,…do pháp luật quy định) và các hoạt động của con người;
Ba là, QLNN về PCTN là hoạt động chấp hành và điều hành Chấp hành là hoạt động thực hiện trên thực tế các quy định pháp luật của nhà nước Điều hành là
hoạt động chỉ đạo trực tiếp đối với đối tượng quản lý Trong hoạt động điều hành cơ quan quản lý có thể áp dụng các hình thức tổ chức xã hội trực tiếp và những hình thức ít mang tính pháp lý khác Đặc trưng của hoạt động điều hành là ban hành văn
Trang 27bản pháp luật(văn bản dưới luật) mang tính chất pháp lý – quyền lực được đảm bảo bằng khả năng áp dụng cưỡng chế, trong đó chủ yếu là văn bản cụ thể hoặc văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật;
Bốn là, QLNN về PCTN là hoạt động mang tính tổ chức trực tiếp của nhà nước trên mọi lĩnh vực và mọi mặt của đời sống xã hội;
Năm là, QLNN về PCTN là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo, được thực hiện ở hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động PCTN trong phạm vi cả nước;
Sáu là, QLNN về PCTN là hoạt động được đảm bảo vềphương diện tổ chức
bộ máy, trước hết là bộ máy các cơ quan PCTN Đây là hệ thống các cơ quan được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, hình thức và phương thức hoạt động;
Bảy là, QLNN về PCTN mang tính chính trị Bởi vì, Nhà nước là tổ chức chính trị thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và ý chí đó được các cơ quan nhà nước đưa vào cuộc sống;
Tám là, QLNN về PCTN mang tính dân chủ Có ba hình thức thực hiện quyền lực QLNN về PCTN, đó là: hình thức dân chủ tập trung trực tiếp, hình thức dân chủ đại diện và hình thức chuyên nghiệp thực hiện chức năng QLNN về PCTN;
Chín là, QLNN về PCTN phải đảm bảo tính khoa học, việc quản lý phải dựa vào một số cơ sở lý luận nhất định để quản lý, nắm bắt được các quy luật phát triển của xã hội và sự tác động của các quy luật đó vào quản lý;
Mười là, QLNN về PCTN là hoạt động được đảm bảo bằng cơ sở vật chất, tài chính, tài sản của nhà nước, của tập thể và của công dân
Trang 28hội.Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt
để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức
kỷ cương, liêm chính
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng
Hoạt động QLNN về PCTN là dạng quản lý đặc biệt.Một vấn đề có tính tất yếu là QLNN về PCTN phải dựa vào pháp luật và thực hiện pháp luật Do đó, QLNN về PCTN có các nội dung chủ yếu sau:
1.2.3.1 Ban hành các quy định QLNN về PCTN
Một trong những đặc điểm cơ bản của QLNN là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo được thể hiện ở hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (văn bản dưới luật) mang tính chất pháp lý – quyền lực, và được đảm bảo bằng khả năng áp dụng cưỡng chế, trong đó chủ yếu là văn bản cụ thể hoặc văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật
Thứ nhất, ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm tiếp tục hoàn thiện
cơ chế chính sách PCTN: đểPCTN có hiệu quả thì hệ thống pháp luật phải hoàn
thiện, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, tạo khung pháp lý và môi trường phát triển kinh tế - xã hộicũng như môi trường PCTN.Cuộc đấu tranh PCTN
là cuộc đấu tranh trong nội bộ của bộ máy nhà nước, do vậy rất khó khăn, phức tạp Xác định được đối tượng và phương thức là vấn đề quan trọng, vì vậy cần thiết phải
Thứ ba, xây dựng chương trình, kế hoạch, chiến lược PCTN Việc xây dựng và
ban hành chương trình, kế hoạch, chiến lược PCTN với tầm nhìn dài hạn sẽ giúp
Trang 29cho công cuộc đấu tranh PCTN có hiệu quả hơn, do thấy rõ các mục tiêu cần đạt được trong những mốc thời gian xác định và hệ thống các hoạt động, giải pháp đã đưa ra thiết thực, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và khuôn khổ pháp luật
Thứ tư, kiểm tra, thanh tra và đôn đốc việc thực hiện pháp luật về PCTN
Thông qua công tác thanh, kiểm tra nhằm phát hiện kịp thời những thiếu sót trong
cơ chế QLNN, những kẽ hở của pháp luật để kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, đây là biện pháp phòng ngừa tham nhũng hữu hiệu nhất ở nước ta hiện nay
Thứ năm, hướng dẫn tuyên truyền pháp luật và việc thực hiện pháp luật về PCTN, tuyên truyền về công tác PCTN.Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao
nhận thức pháp luật và ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành trong đấu tranh PCTN Công khai công luận là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức của người dân, cán bộ, công chức, giúp họ thấy được tác hại của tham nhũng
và các hành vi tham nhũng, từ đó lên án, tố cáo các hành vi tham nhũng; đồng thời tạo ra phong trào đấu tranh PCTN trong toàn xã hội
Thứ sáu, thực hiện hợp tác quốc tế về PCTN Trong bối cảnh hội nhập, hành vi
tham nhũng ngày càng được “quốc tế hóa”, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế về PCTN
là yêu cầu tất yếu Việt Nam cần chủ động tham gia các chương trình sáng kiến, diễn đàn quốc tế về PCTN trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi Nội dung hợp tác theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng bao gồm cả về tương trợ tư pháp trong PCTN(hợp tác thực thi pháp luật, chuyển giao vụ án, phối hợp điều tra, thu hồi tài sản tham nhũng,…)và hợp tác về nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, trao đổi thông tin, hỗ trợ tài chính, trợ giúp kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm PCTN [29]
UBND cấp tỉnh ban hành các quy định, văn bản hành chính, dưới luật nhằm cụ thể hóa quan điểm QLNN về PCTN của cấp trên, đồng thời phù hợp với địa bàn đang quản lý
Trang 301.2.3.2 Thiết lập mạng lưới tổ chức bộ máy PCTN
Thứ nhất, thành lập và quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ hệ thống tổ chức,
bộ máy cơ quan PCTN
Đấu tranh chống tham nhũng là đấu tranh chống lại các hành vi trái pháp luật của những người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước Cuộc chiến này không giống như hoạt động chống các tội phạm thông thường Vì vậy, để đạt hiệu quả cần phải có tổ chức chống tham nhũng độc lập với các cơ quan nhà nước, trực thuộc người đứng đầu chính phủ.Tổ chức này phải có những quyền hạn nhất định, được áp dụng các biện pháp mạnh mẽ, độc lập về tài chính, ngân sách trong hoạt động và được bảo vệ tốt Cán bộ phải là những người có phẩm chất, liêm chính, có năng lực, trình độ, có bản lĩnh, trung thành với tổ quốc Bộ máy phải gọn nhẹ, linh hoạt, có thể tiến hành các chiến dịch chống tham nhũng trên quy mô rộng lớn Được trang bị điều kiện, phương tiện làm việc thuận lợi để kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng
Quy định thành lập, cụ thể chức năng, nhiệm vụ hệ thống tổ chức, bộ máy cơ quan PCTN cấp tỉnh: Thanh tra TP.HCM, Ban Nội chính Thành ủy, Ban Cán sự Đàng Thành ủy,
Thứ hai, tăng cường hoạt động của các cơ quan thanh tra kiểm tra Các cơ
quan thanh tra nhà nước với vai trò QLNN về công tác PCTN thực hiện nhiệm vụ thanh, kiểm tra Trong quá trình kiểm soát, xem xét việc chấp hành chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước, cơ quan thanh tra phát hiện ra những sơ hở, khiếm khuyết trong cơ chế chính sách dễ làm phát sinh tham nhũng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Bên cạnh đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan thanh tra cũng góp phần không nhỏ trong việc phát hiện, phòng ngừa và chống tham nhũng
Thứ ba, tăng cường hoạt động của các cơ quan tư pháp trong PCTN
Với tính chất là các cơ quan bảo vệ pháp luật, trực tiếp đấu tranh với tội phạm tham nhũng, các ngành Công an, Tòa án, Viện kiểm sát đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN theo tinh thần của Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị quyết Trung
Trang 31ương 3 (Khóa X) Một mặt, các ngành tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý các vụ việc tham nhũng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Mặt khác, cũng tăng cường các biện pháp để đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực trong nội bộ của ngành, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan bảo
vệ pháp luật, thực sự trở thành đội quân đắc lực trong đấu tranh PCTN Đồng thời các cơ quan tư pháp cũng nghiên cứu và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động trong đấu tranh chống tham nhũng cũng như tạo các điều kiện cần thiết, thuận lợi cho sự tham gia của xã hội, của mọi công dân vào việc phát hiện các hành vi tham nhũng.[29]
Tăng cường hoạt động các cơ quan tư pháp trong PCTN cấp tỉnh: Công an TP.HCM; Tòa án Nhân dân TP.HCM; Viên Kiểm sát Nhân dân TP.HCM
1.2.3.3 Xây dựng đội ngũ CB, CC thực hiện công tác QLNN về PCTN
Vấn đề cán bộ luôn là yếu tố quan trọng chi phối kết quả hoạt động và chất lượng của bộ máy nhà nước, ở đâu có đội ngũ công chức có phẩm chất và năng lực thì ở đó bộ máy hoạt động có hiệu quả Yêu cầu đối với đội ngũ công chức làm việc tại các cơ quan QLNN về PCTN phải có trình độ, đã qua thử thách, có lập trường,
tư tưởng vững vàng, có phẩm chất, kỷ cương, liêm chính và được đào tạo đa dạng
về lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chế độ phụ cấp ưu đãi gắn liền với cơ chế kiểm soát, giám sát đặc biệt để một mặt tạo điều kiện cho đội ngũ này thực thi nhiệm vụ một cách độc lập, khách quan, công tâm Mặt khác, chủ động phòng, chống tiêu cực phát sinh trong đội ngũ những người làm công tác đặc biệt này Trên tinh thần đó, cần hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định về tuyển dụng, tiếp nhận, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC,VC; xử lý kiên quyết, kịp thời các vi phạm trong quản lý, sử dụng CB,CC,VC; tăng cường giáo dục liêm chính, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ CB,CC,VC trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng.[29]
Trang 32Xây dựng đội ngũ CB,CC thực hiện công tác QLNN về PCTN tại TP.HCM: Trong các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn TP.HCM: UBND TP.HCM; UBND quận, huyện, phường xã
1.2.3.4 Quản lý các nguồn lực phục vụ công tác QLNN về PCTN
Yêu cầu nguồn lực tổng thể phục vụ công tác PCTN là yêu cầu bức thiết Nguồn lực bao gồm không chỉ nguồn lực về tài chính mà còn là nguồn nhân lực và
kỹ thuật Đấu tranh PCTN được thừa nhận là không thể kết thúc một cách nhanh chóng và ít tốn kém Nó đòi hỏi một sự cam kết sâu sắc về chính trị cũng như sự đóng góp của nguồn lực xã hội và tài chính Những nỗ lực này chỉ phát huy tác dụng trên thực tiễn khi bản chất thực và phạm vi của vấn đề cũng như mối nguy hại
mà tham nhũng gây ra cho xã hội đã được làm rõ
Việc phân bổ nguồn lực trong một số trường hợp cần phải được kiểm soát Nếu thiếu kinh phí có thể dẫn đến hạn chế việc sử dụng nguồn nhân lực và các nguồn lực khác.Tuy nhiên, nếu quá nhiều nguồn lực tài chính sẽ dẫn đến lãng phí Cần phân bổ nguồn lực tài chính hợp lý cho đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, trụ
sở, phương tiện, điều kiện làm việc bảo đảm hoạt động của cơ quan QLNN về PCTN; đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, gắn với cải cách thủ tục hành chính, lề lối làm việc, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, xét xử các hành vi tham nhũng Tăng cường kinh phí đầu tư cho công tác nghiên cứu, dự báo về tham nhũng Cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu báo cáo về công tác PCTN của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương để phục vụ tốt công tác lãnh đạo, sơ kết, tổng kết về tình hình tham nhũng.[29]
1.2.3.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong QLNN về PCTN
Thanh tra là việc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, tổ chức để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm
pháp luật; kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét, kết luận
Có thể nói giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm tương đồng, có mối quan hệ đan xen nhau Bởi vì thanh tra và kiểm tra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của quản lý nhà
Trang 33nước, là hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình quản lý” Qua thanh tra, kiểm tra, các cơ quan quản lý nhà nước có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra Các hoạt động, thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việc kiểm tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh, đối chiếu, đánh giá, xác minh…tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra…đó là kiểm tra
Thanh tra, kiểm tra thực hiện chức năng quản lý của các cấp quản lý hành chính nhà nước.QLNN về PCTN là một vấn đề phức tạp Thanh tra, kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm để đảm bảo phát hiện, xử lý kịp thời đối tượng có hành vi tham nhũng, đảm bảo lợi ích xã hội và lợi ích của Nhà nước.Để đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc pháp luật về PCTN, Nhà nước cũng cần nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật lệ, các quy tắc, quy phạm cụ thể, nhằm hạn chế tối đa những hành vi tham nhũng, nhằm giúp cơ quan quản lý điều hành thuận lợi trong công cuộc PCTN
1.2.4 Công cụ, phương thức quản lý nhà nước về PCTN
Phương thức QLNN về PCTN chính là Nhà nước sử dụng các công cụ thích hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra trong các hoạt động kinh tế - xã hội Một số công cụ chính:
Thứ nhất, QLNN về PCTN bằng Pháp luật,kế hoạch
- Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình
Phương thức quản lý bằng pháp luật hay còn gọi là “mệnh lệnh và kiểm soát” truyền thống, có nghĩa là dùng các quy định và mệnh lệnh cho các hành động, hoặc thực hiện và xác định hậu quả nếu sự phục tùng quy định và mệnh lệnh không đầy
Trang 34đủ.Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật điều chỉnh có tính cưỡng chế, nghĩa là Nhà nước buộc các chủ thể phải tuân thủ các chuẩn mực theo quy định
Hệ thống văn bản pháp luật chủ yếu về QLNN về PCTN: Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Vai trò: xác lập trật tự kỷ cương
xã hội; tạo cơ sở pháp lý Luật pháp được sử dụng hiệu quả nhất khi được phổ biến giáo dục rộng rãi đến các đối tượng và chủ thể quản lý
Một số văn bản quy phạm pháp luật và văn bản dưới luật quy định về PCTN điển hình như sau
Thông tư số 35/2016/TT-BTCHướng dẫn việc mua sắm tài sản Nhà nước theo phương thức tập trung; Thông tư số 04/2014/TT-TTCPQuy định về nhận định tình hình tham nhũng và đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 78/2013/NĐ-CPMinh bạch tài sản, thu nhập;Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày
31 tháng 10 năm 2013 của Tổng Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 06 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng; Thông tư liên tịch số 70/2016/TTLT-BTC-TTCP ngày 06 tháng
05 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Tổng Thanh tra chính phủ quy định việc lập, quản lý và sử dụng quỹ khen thưởng về phòng chống tham nhũng; Thông
tư số 04/2014/TT-TTCPngày 18 tháng 09 năm 2014 của Tổng Thanh tra Chính phủ Quy định về nhận định tình hình tham nhũng và đánh giá công tác phòng chống tham nhũng; Quyết định số 3299/QĐ-BTCCông bố, công khai số liệu dự toán ngân sách nhà nước năm 2013; Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Kết luận 21-KL/TW ngày 25/05/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về
"tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí" giai đoạn 2012 – 2016; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật
số 27/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một
Trang 35số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật số 07/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội về Phòng, chống rửa tiền; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Luật số 02/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội về Khiếu nại; Luật số 03/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội về Tố cáo; Thông tư số 05/2011/TT-TTCP ngày
10 tháng 01 năm 2011 của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định về phòng, chống tham nhũng trong ngành Thanh tra;Quyết định số 445/QĐ-TTgQuyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Quyết định số 137/2009/QĐ-TTg ngày 02/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; Công ước của Liên hiệp quốc về phòng chống tham nhũng 2009…
- Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu phải làm, và các phương tiện, nguồn lực, phương thức tiến hành để đạt các mục tiêu đã định Kế hoạch gồm các loại: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án Kế hoạch có vai trò là sự tính toán, cân nhắc kỹ trước khi hành động; nhờ đó ách tắc, rủi ro sẽ bị hạn chế, các nguồn lực được sử dụng tốt; kế hoạch là cơ sở cho công tác kiểm tra có căn cứ thực hiện Quyết định số 445/QĐ-TTgngày 07/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng;Quyết định số 137/2009/QĐ-TTgngày 02/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; Kế hoạch số 5650/KH-BKHngày 16/8/2010 của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư tuyên truyền các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng…
Thứ hai, QLNN về PCTN bằng Tổ chức bộ máy
Quản lý bằng tổ chức bộ máy là hoạt động quản lý thông qua hệ thống các cơ quan QLNN về PCTN
Luật PCTN 2005, SĐBS 2007, 2012 nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức đơn vị trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về
Trang 36phòng, chống tham nhũng; trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, là những cơ quan có vai trò quan trọng trong công tác đấu tranh chống
tham nhũng Riêng Thanh tra Chính phủ, Luật PCTN năm 2005, SĐBS 2007, 2012
quy định thêm một số trách nhiệm với vai trò là đầu mối trong việc theo dõi, thực
hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.Luật PCTN năm
2005, SĐBS 2007, 2012 quy định nội dung phối hợp giữa các cơ quan thanh tra,
kiểm toán nhà nước, điều tra, viện kiểm sát, toà án trong đấu tranh chống tham nhũng; sự phối hợp giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước với cơ quan điều tra; về phối hợp công tác giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước với Viện kiểm sát Các quy định nêu trên vừa quy định phương thức phối hợp công tác giữa các cơ quan trong đấu tranh chống tham nhũng, vừa tạo cơ chế ràng buộc, giám sát lẫn nhau để tránh tình trạng có thể bỏ lọt vụ việc tham nhũng trong quá trình hoạt động của các cơ quan này
Luật PCTN năm 2005, SĐBS 2007, 2012 đã quy định một cơ chế và tổ chức
mới có tính chất chuyên trách hơn để đảm nhiệm công tác này Cụ thể: Về việc thành lập Ban Chỉ đạo PCTN Trung ương và các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng trong một số cơ quan nhưtrong Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Các đơn vị chuyên trách PCTN tại Thanh tra Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an đã đi vào hoạt động từ đầu năm
2007 Cùng với quy định thành lập các Ban chỉ đạo về PCTN và đơn vị chuyên trách về PCTN, Luật PCTN quy định nhiều nội dung quan trọng nhằm hoàn thiện
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát với những nội dung cơ bản
Thứ ba, QLNN về PCTN bằng Tuyên tuyền, phổ biến và giáo dục
Cách này được dùng trong những hoạt động mà Nhà nước không cần hoặc
không thể cưỡng chế, mà bằng tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN.PCTN là
sự nghiệp của toàn xã hội, có huy động được toàn dân tham gia thì công tác PCTN mới thành công Do đó, tuyên truyền, phổ biến có vai trò to lớn trong công cuộc
Trang 37PCTN của quốc gia Đây là công cụ tạo ra trong bản thân các đối tượng QLNN tính
tự giác, từ đó hành động không vì cưỡng chế hay sự vụ lợi nào
Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục là phương pháp tác động về mặt nhận thức, tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm đối với sự nghiệp phát triển đất nước lên các đối tượng quản lý để họ tự có ý thứcphát hiện đấu tranh PCTN Vai trò: biến hoạt động của con người từ thụ động sang chủ động Hình thức: thông qua phương tiện thông tin đại chúng, dư luận xã hội, đoàn thể xã hội, giáo dục cá biệt, phổ biến pháp luật về PCTN.Biện pháp: Đưa nội dung PCTN vào Chương trình giáo dục ở mọi cấp học,Tổ chức các lớp tập huấn các kiến thức về PCTN,Nêu gương, tuyên dương, khen thưởng những người có thành tích trong phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng
và có cơ chế bảo vệ họ
Thứ tư, QLNN về PCTN bằng thống kê và thanh tra
Thông qua phương pháp này, chủ thể quản lý có thể phân tích được tình hình, xác định xu thế phát triển, các tiến trình, quy luật vận động và thiết lập phương cách tác động điều chỉnh theo định hướng và mục tiêu mong đợi
Thống kê, thanh tra là một biện pháp nhằm xem xét, kiểm tra, đánh giá các hoạt động của cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan trong việc thực hiện các quy định của Nhà nước về PCTN
Thứ năm, QLNN về PCTN bằng phương pháp hành chính
Là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết định dứt khoát mang tính bắt buộc của nhà nước lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Vai trò: xác lập trật tự cho các đối tượng hoạt động; giải quyết vấn đề nhanh chóng, dứt khoát; khâu nối các phương pháp lại Hình thức thực hiện: ban hành pháp luật; tiêu chuẩn hóa cán bộ, bộ máy; nâng cao chất lượng các quyết định
Thứ sáu, QLNN về PCTN bằng phương pháp xử lý hình sự
Xử lý hình sự khi đối tượng quản lý có hành vi vi phạm luật PCTN nghiêm trọng, có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, sẽ bị xửlý theo Luật Hình sự hiện hành.Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc
Trang 38sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.(Điều 28 Các hình phạt – Bộ luật Hình sự)
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong QLNN về PCTN và những giá trị tham khảo cho Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương
1.3.1.1 Hà Nội
Tại hội nghị báo cáo kết quả thực hiện Chương trình 07-CTr/TU về “Nâng cao
hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
giai đoạn 2016-2020”, ngày 15-12, Thành ủy Hà Nội cho rằng, nhận thức về công
tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong cán bộ, đảng viên và nhân dân không ngừng được nâng lên Ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ, công chức có nhiều
tiến bộ, tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ có chuyển biến QLNN về PCTN tại Hà Nội thực hiện giải pháp nổi bật là Tiếp tục thanh tra, kiểm tra các điểm “nóng”; Đặc biệt, làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo thông qua việc phân công cán bộ các cấp trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc
công dân để lắng nghe, giải quyết ngay từ cơ sở, hạn chế việc khiếu kiện, tố cáo đông người, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động
Bên cạnh đó, Hà Nội thực hiện hàng loạt giải pháp phòng ngừa tham nhũng
theo Kế hoạch số 241/KH-UBND về công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2018 của thành phố Hà Nội: tăng cường công khai minh bạch trong
hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải
Trang 39cách thủ tục hành chính; minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Thực hiện quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp; xây dựng và thực hiện tốt các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của UBND thành phố để đảm bảo tính đồng
bộ, thống nhất Các đơn vị được yêu cầu tăng cường kiểm tra việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập tại các cơ quan, đơn vị Tiếp tục triển khai thực hiện Chuyên đề: “Nâng cao chất lượng công tác kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản theo tinh thần Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị”;
xử lý kịp thời các đơn tố cáo có liên quan đến tham nhũng Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện xử lý tham nhũng, tập trung vào các lĩnh vực như: quản lý tài chính, ngân sách, quản lý sử dụng đất đai, môi trường; quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản; tiếp nhận và bổ nhiệm cán bộ Các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện, thị xã phối hợp với các cơ quan tư pháp trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN; thanh tra, kiểm tra công vụ về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao để kịp thời phát hiện,
xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng, tiêu cực Nâng cao đạo đức, kỷ luật, kỷ cương công vụ, ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức thành phố; thực hiện chủ đề năm 2018 là “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị” gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (Khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Thành phố cũng yêu cầu nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức trong công tác PCTN; nghiêm túc thực hiện quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm, chất lượng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử Sở Tư pháp tăng
Trang 40cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác PCTN; hướng dẫn, đôn đốc các sở, ngành, quận, huyện, thị xã thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN nói riêng Các sở, ban, ngành rà soát các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn, quy trình nghiệp vụ công tác trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhằm phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực
1.3.1.2 Bình Dương
Năm 2017, công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến các quy định của pháp
luật về phòng, chống tham nhũng (PCTN) được các sở, ban, ngành, UBND huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh Bình Dương quan tâm, chú trọng, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng: Hội nghị tập huấn cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt, các cơ quan,
ngành, đoàn thể tham gia; cấp phát tờ gấp tuyên truyền về Luật phòng, chống tham nhũng đơn vị xã, phường, thị trấn Toàn tỉnh tổ chức cuộc tuyên truyền pháp luật có lồng ghép nội dung PCTN Tiếp tục triển khai đưa nội dung PCTN vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo
Các cơ quan, đơn vị, địa phương đẩy mạnh việc công khai, minh bạch trong hoạt động; gắn công khai, minh bạch với cải cách thủ tục hành chính Đã thực hiện công khai 19 lĩnh vực, hơn 80 nội dung với nhiều hình thức như: niêm yết tại cơ quan, đơn vị, đăng tải các văn bản, thông tin về cơ chế, chính sách trên cổng thông tin điện tử…Hầu hết các đơn vị trong tỉnh đã xây dựng Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội Công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về quy tắc ứng xử được chú trọng Việc chuyển đổi vị trí công tác công chức, viên chức nhằm phòng ngừa tham nhũng được quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; hiện tại, tỉnh đã triển khai thực hiện cung cấp mức độ 3 và 4 đối với 116 thủ tục hành chính trên Trang thông tin hành chính công của tỉnh Mô hình Trung tâm hành chính công của tỉnh từng bước được củng cố, kiện toàn và hoạt động ổn định, hiệu quả; Bộ phận một cửa cấp xã, huyện được đầu tư sửa chữa, nâng cấp