1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dap an mon chinh tri hoc so sanh

26 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 199 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN HỌC CHÍNH TRỊ HỌC so SÁNH Câu hỏi Nhóm 1 (5 điểm) Câu 1 Chính trị học so sánh là gì? Trình bày đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu chính trị học so sánh? Chính trị học so sánh là gì? Chính trị học so s.

Trang 1

và khác biệt, từ đó có nhận thức khách quan về đời sống chính trị thế giới và khu vực, phục vụ nhu cẩu phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Trình bày đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu chính trị học so sánh?

Đối tượng nghiên cứu

Căn cứ vào tính chất ghép của thuật ngữ, có thể xác đinh vai trò của Chính trịhọc so sánh ở hai khía cạnh:

1) đơn vị xác định là các chế độ chính trị trong lịch sử thế giới, là quốc gia, khu vực;

2) phương pháp cơ bản nhất là so sánh, trả lời câu hỏi: cái gì được so sánh? làm như thế nào? Phương pháp so sánh không phải là nguyên lý nhận thức khoa học vốn dùng

làm tiền đề cho kiểm chứng lý thuyết, mà nó cho phép so sánh về các kết quả đạtđược của nghiên cứu thực nghiệm

Xuất phát từ cách tiếp cận mà Chính trị học so sánh xác định đối tượng nghiên

cứu khác nhau Từ cách tiếp cận lịch đại, môn học so sánh các chế độ chính trị đã

tồn tại trong lịch sử; từ cách tiếp cận không gian, môn học tập trung so sánh đặcđiểm chính trị giữa các khu vực trên thế giới Ngoài ra, có thê so sánh chính trị giữacác quốc gia tiêu biểu cho một mô hinh chính trị hoặc một khu vực trên thế giới

Từ những cách tiếp cân như trên, có thể hiểu, đối tượng nghiên cứu của môn học là tìm ra những quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống chứứì ừị của các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới thông qua phân tích, so sánh, phục vu cho việc xâỵ diứìg và hoàn tììiện nền chứửì trị quốc gia, bảo vệ và phát triển lợi ích dân tộc.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 2

Chính trị học so sánh có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:

* Thứ nhất, mô tả, phân tích đúng đắn các mô hình, chê' độ chính trị trong lịch sử,

đặc điểm chính trị các khu vực ữên thế giới Cung cấp những kiến thức tương đốitoàn diện và đáng tin cậy về các quốc gia và các khu vực trên thế giới trên các mặtđịa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Hệ thống hóa những kiến thức về cáckhu vực và các nước, nhất lả các nưốc láng giềng cùng khu vực nhằm tạo cơ sổ khoahọc cho vỉệc phát triển chính sách đối ngoại và hợp tác nhiều mặt với các nước vàkhu vực đó

* Thứ hai, so sánh để tìm những điểm tương đồng và khác biệt về chính trị giữa

các thời đại lịch sử và giữa các khu vực trong giai đoạn hiện nay So sánh để tìm ranhững quy luật chung và những nét đỗc thù của các mô hình chính trị các nước vàcác khu vực

* Thứ ba, đánh giá về những ưu điểm và hạn chê' của các chế độ chính trị, thể

chê' chính trị, từ đó đề xuất khả năng vận đụng các ưu điểm vào xây dựng, hoànthiện thể chế chính trị nước mình

* Thứ tư, tìm ra đặc điểm riêng, những nét đặc thù của các chế độ chính trị, chỉ ra

được sự biến đổi, kê thừa và phát triển qua các thời kỳ lịch sử; nhận thức rõ bần sắcchính trị của từng khu vực trên thế giới và môi quan hệ của nó với các khu vực khác

* Thứ năm, đánh giá một cách khoa học quy luật phát triển và vị thế quốc tế của các quốc gia hay khu vực được nghiên cứu, trong đó cơ bản nhất là xác định được cơ

sở về mọi mặt của các quốc gia điển hình trung tâm.

* Thứ sáu, đào tạo các chuyên gia về các khu vực quô'c tế Họ không chỉ có

những kiến thức lý thuyết, mà đồng thời còn là những người đi mở đường cho cácquan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị với các nước, các khu vực được nghiên cứu Họcần được trang bị cả công cụ ngôn ngữ giao tiếp của quốc gia hay khu vực đó để cóthể tham gia trưc tiếp vào hoạt động kinh doanh, quan hệ quốc tế và phân tích khuvực

Trang 3

Câu 2: Phân tích những điều chỉnh của chế độ tư bản chủ nghĩa hiện đại?

Trong những thập kỷ gần đây, chế độ chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa đã

có những điều chỉnh lớn, xuất phát từ sự thay đổi cơ cấu giai cấp và lợi ích của các

nhóm xã hội

Trong giai cấp tư sản, tầng lớp tư bản chức năng, các nhà kỹ trị nắm giữ quyền quần lý,

kinh doanh, các tiến bộ kỹ thuật ngày càng tăng trong xã hội Lợi ích của tầng lớpnày phụ thuôc vào thành tựu cách mạng khoa học - công nghệ, cho nên họ luônmuốn làm giàu bằng sự đổi mới, chống lại những hình thức bóc lột cũ Tầng lớp tưbản sở hữu, tư bản thực lợi ngày càng phổ biến hơn Ngoài ra, còn có các tầng lớp tưsản khác: tầng lớp đại tư bản tài chính đang nắm giữ nhiều ngành quan trọng; tầnglớp tư bản vừa và nhỏ tăng nhanh về số lượng và hoạt động năng động, hiệu quả;tầng lớp tư bản quân phiệt có lợi ích gắn với việc sản xuất, buồn bán vũ khí; tầng lớp

tư bản quan liêu có lợi ích gắn với giới cầm quyền; tầng lớp tư bản maphia gắn lợiích với các hoạt động phi pháp Họ có nhiều lợi ích chung của giai cấp, nhưngđồng thời giữa họ cũng tồn tại nhiều bất đồng, thậm chí xung đột về lợi ích, dẫn đếnnhững cuộc đâu tranh quyết liệt với nhau

Giai cấp công nhân cũng có những thay đổi quan trọng Tầng lớp công nhân trí thức

có tay nghề cao là lực lượng lao động chủ yếu trong các công ty, được trả lương cao,thưởng lớn, được ưu tiên mua cổ phiếu Phần lớn họ thuộc tầng lớp trung lưu Tầnglớp công nhân không có tư liệu sản xuât, phải bán sức lao động để sống hiện còn rất

ít và vai trò đã giảm rõ rệt Tầng lớp những người thất nghiệp thường chiếm khoảng

10% tổng số lao động, trong họ luôn tiềm tàng sự phản kháng Nhưng chế độ trợ cấpthất nghiệp đã làm giảm bớt mức chống đối Tầng lớp tiêu tư sản là tầng lớp đôngđảo nhất trong các nước tư bản phát triển, chiếm 60-70% dân số Họ có cuộc sốngkhá giả, có lợi ích gắn chặt với xã hội tư bản chủ nghĩa và các tầng lớp tư bản khác

Giai cấp nông dân ở các nước tư bản phát triển chỉ còn chiếm 1-10% lực lượng lao

động, một phần họ đang tiếp tục phân hóa vào giai cấp tư sản, công nhân hay tầnglớp trung lưu

Như vậy, bằng chính sự phát triển các quan hệ kinh tế, giai cấp tư sản đã tạo ranhững mối quan hệ ràng buộc và thồng nhất về lợi ích giữa họ với các tầng lớp khácnhau trong xã hội nhiều hơn là sự chống đối Điều đó giải thích tại sao trong nhữngthập kỷ gần đây tuy vẫn xảy ra nhiều cuộc biểu tình, bãi công của công nhân, nhưng

Trang 4

mức độ khồng còn nghiêm trọng như trước.

Từ sự thay đổi về cơ cấu xả hội và lợi ích như trên, hệ thống chính trị tư bản chủnghĩa đã điều chỉnh theo những hướng sau:

Luôn tự điều chỉnh để duy trì sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế Công cụ chủ yếu để đạt mục tiêu này là nhà nước và pháp luật tư sản.

Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập, các cơ quan nhà nướckiêm tra, giám sát lẫn nhau, buộc phải thỏa thuận, nhân nhượng nhau để bảo đảm sự

ổn định Pháp luật là tối cao, hệ thống luật pháp là cơ sở cho mọi hoạt động của xãhội Tất cả các quan hệ lợi ích đều được luật pháp quy định Sự điều chỉnh hệ thốngchính trị được thể hiện trước hết ở điều chỉnh luật pháp

Sự tập trung quyền lực vào tay tổng thống hoặc thủ tướng là một điều chỉnh lớncủa hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa hiện đại Tòa án hiến pháp có vai trò quantrọng trong giải quyết những tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, cơchế tam quyền phân lập cũng tạo ra những bất hợp lý: quá nhiều pháp luật dẫn đếnchổng chéo, mọi quan hệ xã hội đều được xử theo pháp luật, không còn sự thỏathuận, cảm thông; gây tốn kém; Nhiều tổng thống, thủ tướng bị truy tố trước phápluật, nhiều đảng thất cử vì tham nhũng

Chế độ đa nguyên tư sản chấp nhận sự tồn tại hợp pháp và canh tranh của các lựclượng xã hội, chấp nhân sự luân phiên cai trị của các thế lực chính trị và đặt quyềncai trị dưới quyền bỏ phiếu của nhân dân Đây là sự điều chỉnh nổi bật, tạo cơ hộicho các phe phái đối lập khả năng cầm quyền bằng con đường hòa bình, tránh bạolưc Các tổ chức xã hội (công đoàn, phụ nữ, tôn giáo ) có vai trò ngày càng tăng,gây sức ép đến các cuộc bầu cử và quá trình thông qua các quyết định chính trị.Chính phủ thường phải tính đến yếu tố dư luận xã hội - lợi ích của các nhóm khithông qua các chính sách Chính điều này cản trỏ những tư duy mới, những cải cáchmang tính đột phá

Đảm bảo đẩy mạnh việc áp dạng các tiến bộ khoa học - công nghệ Đó là: thúc đẩy tự do

tư tưởng, tự do phát minh sáng chế, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển,đầu tư manh cho giáo dục Tiến bộ khoa học - công nghệ được áp dụng nhanh chóngvào tất cả các lĩnh vực, kể cả hoạt động nhà nước Nhờ tận dụng được những thànhtựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã pháttriển vượt bậc về lực lượng sản xuất Các nước tư bản phát triển chiếm ưu thế tuyệt

Trang 5

đối trong nghiên cứu và sản xuất, nhất là các ngành công nghệ cao

Chủ trương hội nhập sâu, rộng vào sinh hoạt khu vực và thế giới Các nước tư bản phát

triển gia nhập vào hầu hết các tổ chức quốc tế, ký nhiều hiệp ước với nước ngoài Bộmáy nhà nước không chỉ chịu sức ép trong nước, mà còn chịu sức ép của dư luận thếgiới Vì vậy, một điều chỉnh quan trọng của hệ thống chính trị các nước tư bản chủnghĩa là gia tăng tính quốc tế của bộ máy nhà nước Không chỉ bộ ngoại giao mà các

cơ quan nhà nước khác đều tham gia hoạt động đối ngoại, ngân sách cho hoạt độngđối ngoại ngày càng lớn Hiện nay, các nước tư bản phát triển chi phối hoạt độngcủa các tổ chức quốc tế lớn như; UN, G7, OECD, VVB, IMF, WTO, EU, NAFTA

Chính trị tư bản chủ nghĩa đã điều chỉnh chính sách kinh tế Tất cả các đảng

cầm quyền, dù cánh tả hay cánh hữu, thông qua nhà nước đã điều chỉnh đường lối,chính sách kinh tế nhằm giảm áp lưc xã hội Chế độ sở hữu tư nhân đối với tư liệusản xuất đã có những thay đổi rất lớn Ngày nay, sở hữu nhà nước đã được thiết lập

ở các nước tư bản chủ nghĩa với mức độ khác nhau Khu vực sở hữu nhà nước nắmnhững ngành kỹ thuật mũi nhọn, những lĩnh vực mà tư nhân không làm dược; và cácchính phủ tư sàn dựa vào đó để điều tiết, Ổn đinh nền kinh tế Hình thức sở hữu cổphần trở nên phổ biến Đông đảo nhân dân, công nhân, người ăn lương đều là chủ sởhữu các cổ phần, măc dù số cổ phần lớn nhất vẫn thuộc về chủ tư bản Hình thức sởhữu hỗn hợp cũng phổ biến ở các nước tư bản với những loại hình hết sức đa đạng

Trong hơn ba thập kỷ qua, hệ thống tài chính tư bản chủ nghĩa có nhiều biếnđộng nhưng vẫn không ngăn chặn được khủng hoảng kinh tế Một lẩn nữa, chủnghĩa tư bản lại phải tự điểu chỉnh để vượt qua khủng hoảng Tuy nhiên, các nước tưbản chủ nghĩa vẫn nắm phần lớn vốn, khoa học công nghệ hiện đại, kiến thức quản

lý tiên tiến và lực lượng quân sự của thế giới Nền công nghiệp và dịch vụ của cácnước tư bản chủ nghĩa vẫn chiếm ưu thế trên thế giới; nền kinh tế tri thức của cácnước tư bản chủ nghĩa vẫn đang phát triển

Trang 6

Câu 3: Phân tích xu hướng vận động của chế độ tư bản chủ nghĩa về chính trị?

- Xu hướng vân động

Chủ nghĩa tư bản trong thời đại ngày nay đã khác nhiều so với chủ nghĩa tư bảnđầu thế kỷ XX, càng khác xa so với chủ nghĩa tư bản cổ điển ở thế kỷ XIX mảC.Mác, Ph.Ăngghen từng chứng kiến Chủ nghĩa tư bản thời C.Mác là chủ nghĩa tưbản tiền độc quyền, thời V.I Lênin lả chủ nghĩa tư bản độc quyền và ngày nay làchủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá

Trong thời gian tới, chủ nghĩa tư bản hiện đại sẽ tiếp tục phăt triển thông quachính những cuộc khủng hoảng, những cuộc cải cách để thích ứng trong khuôn khổcủa chủ nghĩa tư bản Khuôn khổ đó là: nền văn minh công nghiệp vẫn còn tíu thế,

sở hữu tư nhân vẫn là nền tảng, kinh tế thị trưòng vẫn thống trị, nhà nước vẫn dogiai cắp tư sản chi phối Nhưng đã xuất hiện những yếu tố của xã hội mới: kinh tế trithức phát triển, tính chất xã hội của sở hữu ngày càng gia tăng, sự điều tiết của nhànước đốỉ với thị trường ngày càng hữu hiệu, tính nhân dân và xã hội của nhà nướctăng lên, những vân đề phúc lợi xã hội và môi trường ngày càng được giải quyết tốthơn

Tuy nhiên, chủ nghía tư bản toàn cầu - giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tưbản đang phái triển đến những giới hạn mà nó không thể vượt qua được Sau này, sựphát triển đó sẽ đi đên một bế tắc: muốn tồn tại thì phải có những chính sách kinh tế

- xã hội mới mẻ, tiến bộ hơn, nhưng nếu thực hiện những chính sách đó thì nó ỉại tựphủ định chính mình Sự thích nghi đê’ tiếp tục phát triển của chủ nghĩa tư bảnchính là sự xã hội hóa theo lối tư bản chủ nghĩa các quan hệ kinh tế, đáp ứng một

phần các mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản giữa xã hội hóa cao độ các lực lượng

sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sự xã hội hóa đó lằ cógiới hạn, chủ nghĩa tư bản sẽ tiếp tục thích nghi để phát triển, nhưng các tiềm năngthích nghi của nó không còn nhiều nữa Sẽ đến lúc nhân loại hội đủ các điều kiện đểvượt qua chủ nghĩa tư bản

Chủ nghĩa tư bản sáng tạo ra những tiền đề vật chất và những yếu tố xã hội chủnghĩa cho một sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Chính C.Mác đãcho rằng, đến một giai đoạn phát triển nhât định của các ỉực lượng sản xuất vật chất

và của những hình thái sản xuất xã hôi tương ứng với những lực lượng đó, thì mộtphương thức sản xuất mới tất yếu sẽ nảy sinh và phát triên từ trong lòng phương

Trang 7

thức sản xuất cũ Muốn chuyển từ xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển ở trình độ caolên xã hội chủ nghĩa thì quyền lực nhà nước phải chuyển về tay nhân dân và xã hộiquá độ đó sẽ kéo dài nhiều chục năm, có khi hàng trăm năm.

Mặt khác, cũng phải nhận thức rằng CNTB trong quá trình phát triển của nóvẫn luôn luôn hàm chứa một nhân tố: tự hạn chế và tự phủ định đo chính mâu thuẫn

cơ bản của phương thức sản xuất TBCN sinh ra Mặc dù CNTB ngày nay đã có điềuchỉnh nhất định trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối, và ở một chừng mựcnhất định, sự điều chỉnh đó cũng đã phần nào làm giảm bớt tính gay gắt của mâuthuẫn này Song tất cả những điều chỉnh ấy vẫn chưa vượt ra khỏi khuôn khổ củaquan hệ sản xuất TBCN Vì vậy, mâu thuẫn vẫn không bị thủ tiêu, đối kháng về lợiích trong quá trình sản xuất vẫn còn đó, mâu thuẫn giai cấp vẫn tồn tại… Bên cạnhmâu thuẫn cơ bản vốn chưa giải quyết được lại xuất hiện thêm nhiều mâu thuẫn mớiphát sinh, đẩy CNTB vào những khó khăn mới về kinh tế, chính trị, xã hội dướinhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế

kỷ XXI Đó là mâu thuẫn giữa năng lực sản xuất vô hạn với tiêu dùng và khả năngthanh toán hạn chế; mâu thuẫn giữa khả năng sản xuất vô hạn với nguồn tài nguyênhạn chế; mâu thuẫn giữa nhu cầu nhất thể hóa kinh tế quôc tế và lợi ích quốc gia;mâu thuẫn giữa các nước CNTB trung tâm với các nước ngoại vi Những mâuthuẫn này diễn ra đồng thời, vẫn là những thách thức và đe dọa sự tồn vong củaCNTB

Tuy nhiên, như C.Mác và V.I.Lênin đã nhận định: phương thức sản xuấtTBCN không tự diệt vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa cũng không

tự phát hình thành mà phải được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội, trong

đó giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội này chính là giai cấpcông nhân

Trang 8

Câu 4: Phân tích những giá trị, hạn chế của chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa?

- Giá trị

Chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa góp phần quan trọng vào việc giữ cho chủnghĩa tư bản phát triển trong quỹ đạo của nó, liên tục đổi mới thích ứng với nhữngbiến đổi của kinh tế thế' giới, điều chỉnh quan hệ sản xuất bước yêu cầu phát triểnmanh mẽ lực lượng sản xuất Hiên pháp, pháp luật trở thành nền tảng pháp lý cho sựtồn tại và phát triển của chê' độ tư bản chủ nghĩa, ỉà công cụ hữu hiệu thể chế hoáđường lối của đảng cầm quyền, công cụ quản lý nhà nước và xã hôi Không gianchính trị được rộng mở với việc ghi nhận và thực hiện ở mức độ nhất định các quyền

tự do, dân chủ và quyền con người Đã đưa dân chủ hoá, pháp chế hoá vào quỹ đạohoạt động chính trị Hình thành được những hệ thống thiết chế, cơ chế chính trị -pháp lý, làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của hệ thông chính trị Hình thành

cơ chế canh tranh giữa các đảng, các nhóm lợi ích trên cơ sở đối thoại tự do, côngkhai, phản biện Hê thống chính trị dung hoả được nhiều bất đồng và xung đột trong

xã hội, tận dụng được những tiên bộ trong kinh tê' khoa học - công nghệ Trong cuộcchạy đua với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đãnhanh chóng ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoạ học - công nghệ vàosản xuất và đạt được sự phát triển vượt bậc, chiếm ưu thế về kinh tế Trong xã hộiphương Tây đã hình thành và phát triển văn hoá chính trị: văn hoá công dân, vănhoá dân chủ, văn’hoa pháp luật, văn hoá ứng xử

Tóm lại, CNTB ngày nay - với những thành tựu và đóng góp của nó đối với

sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đềcho sự ra đời của CNXH trên phạm vi toàn thế giới Nhưng bước chuyển từ CNTBlên CNXH vẫn phải thông qua các cuộc cách mạng xã hội Dĩ nhiên, cuộc cáchmạng xã hội sẽ diễn ra bằng phương pháp nào - hòa bình hay bạo lực, điều đó hoàntoàn tùy thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của từng nước và bối cảnh quốc

tế chung từng thời điểm, vào sự lựa chọn của các lực lượng cách mạng

- Han chế

Còn khoảng cách lớn giữa việc ghi nhận các quyền của người đân trong hiếnpháp, pháp luật với đời sông chính trị hiện thực Thiêu số người giàu vẫn áp bức,bóc lột đa số nghèo Quyền lực nhà nước chỉ thuộc về một số ít người Phần lớn

người dân vẫn thờ ơ với chính trị Phổ thông đầu phiếu chỉ là sự hợp pháp hoá quyền

Trang 9

lực của những người giàu, vẫn tồn tại các mâu thuẫn: giữa bình đảng về pháp lý với

bình đẳng về kinh tế và xã hội; mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản thông qua cácđảng phái; mâu thuẫn giữa các nhánh quyền lực chính là cuộc đấu tranh giữa các tậpđoàn tư bản Sự điều tiết bộ máy hành chính khổng lồ gây hậu quả lo ngại, hàng

nghìn luật lệ, quy tắc làm tăng giá thành sản phẩm hàng hoá, ngăn cản canh tranh tự

do và giới kinh doanh nhỏ

Dù điều chỉnh đến đâu, hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa cũng đang tỏ rakhông thích hợp với tình hình mới, không giải quyết được rihiều vấn đề nan giảitrong xã hội, chưa đủ làm thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản, các thế lực hiếuchiến vẫn muốn sử dụng vũ lực, chiến tranh để giải quyết các xung đột trên thế giới,các tổ chức phátxít, các thế lực dân tộc cực đoan vân hoạt động ngay trong lòng xãhội phương Tây, một số thế lực chính trị vẫn ngăn cản thực hiện các chính sách côngbằng xã hội, trợ giúp người nghèo, xử lý ô nhiễm môi trường

Kinh tế tư bản đặt lợi nhuận làm nền tảng, do đó thường gây ra các vấn nạn ônhiễm môi trường, hủy hoại môi sinh, bất chấp hậu quả đối với sức khỏe cộng đồng

Trang 10

Câu 5: Phân tích các giá trị của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa? Ý nghĩa đối với việc xây dựng và hoàn thiện chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ờ Việt Nam? Giá trị

Chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa trong gần 90 năm tồn tại đã đạt những thành tựu tolớn, có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi bộ mặt thế giới hiện đại:

Chủ nghĩa xã hội tạo được thế cân bằng sức manh quân sự đối với chủ nghĩa đếquốc, ngăn chặn chiến tranh thê' giới, góp phần quan trọng trong công cuộc tiêu diệtchủ nghĩa phátxít, bảo vệ hòa bình thế giới

Chủ nghĩa xã hội đã là đồng minh chiến lược, chỗ dựa vững chắc của phong tràogiải phóng dân tộc, một trào lưu cách mạng to lớn làm biên đổi cục diện chính trị thế

kỷ XX Chủ nghĩa xã hội là niềm cổ vũ cho phong trào cách mạng thế giới, là tấmgương và niềm tin ở tương lai tươi sáng cho loài người

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động được giải phóng khỏi ách ápbức, bóc lột, phát huy tinh thần sáng tạo trong xây dựng xã hội mới với những thànhtựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Các tầng lớp tihân dân thamgia ngày càng rộng rãi vào đời sống chính Irị, trực tiếp quản lý nhả nước và xã hội.Chủ nghĩa xã hội tác động tích cực đến cuộc đấu tranh của nhân dân trong lòngcác nước tư bản chủ nghĩa, nhờ đồ đạt được những giá trị dân chủ và tiến bộ xã hội

Ý nghĩa đối với việc xây dựng và hoàn thiện chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ờ Việt Nam?

Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới cũng là quá trình không ngừng đổi mới,hoàn thiện hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của ĐảngCộng sản cầm quyền; tăng cường xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa và xây dựng, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất và khối đại đoàn kếttoàn dân tộc Một trong những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới là giữ vững

sự ổn định chính trị, giữ vững và làm sáng tỏ con đường xã hội chủ nghĩa Có được

sự ổn định chính trị mới có điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và phát triển đất nướcbền vững Hệ thống chính trị vững mạnh có vai trò quyết định đối với sự ổn địnhchính trị, phát triển đất nước

Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị phải hướng tới việc xây dựng tổ chức bộmáy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp chức năng, nhiệm vụ; xây dựng đội

Trang 11

ngũ cán bộ, công chức hợp lý về số lượng, bảo đảm chất lượng chính trị, chuyênmôn, có tiền lương, thu nhập bảo đảm cuộc sống.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là tạo dựng một xã hội mới tốt đẹp, dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Xây dựng một xã hội như thế là quá trình xáclập nền tảng kinh tế, chế độ kinh tế và kiến trúc thượng tầng thích hợp Ở Việt Nam,đang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để đitới hoàn thiện nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Điều đó đòi hỏi phải hoàn thiện cơ cấukinh tế, cơ chế quản lý, tái cấu trúc nền kinh tế và nắm khâu đột phá, hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đào tạo nguồn nhân lực có chấtlượng cao và xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại Với nền tảngkinh tế như thế đòi hỏi phải đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, hoàn thiện kiếntrúc thượng tầng để thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển Với tư cách là bộ phận quantrọng nhất của kiến trúc thượng tầng, hệ thống chính trị phải không ngừng đổi mới

và hoàn thiện

Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa

xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở

để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”

Trang 12

Câu 6: So sánh bản chất và đặc điểm của chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa với chế độ xã hội chủ nghĩa?

Chế độ chính trị XHCN được xây dựng trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác –Lênin Nền kinh tế XHCN được xác lập trên cơ sở quan hệ sản xuất XHCN, nềntảng là chế độ công hữu về TLSX dưới hai hình thức toàn dân và tập thể Nhân dân

là chủ thể TLSX, làm chủ quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm làm ra

Chế độ chính trị XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, biểu hiện và vàthực hiện lợi ích chung cho toàn xã hội Hệ thống chính trị XHCN mà hình thái banđầu là hệ thống chuyên chính vô sản gồm 3 thực thể chính trị chủ yếu: Đảng Cộngsản – lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội; nhà nước kiểu mới, đại diện cho ý chí,quyền lực của nhân dân, phấn đấu cho lợi ích của nhân dân, cơ sở xã hội của đảng

và nhà nước Chủ thế tự giác và tích cực của sự sáng tạo lịch sử đó là giai cấp côngnhân và nhân dân lao động Chế độ chính trị XHCN dựa trên nền tảng liên minhcông – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nền chính trị XHCN, các đảng Cộng sảnthực hiện những nguyên tắc cơ bản là:

1 Thực hiện quyền làm chủ của NDLĐ, từng bước xóa bỏ nạn áp bức, bóc lột;

2 Xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN;

3 Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội;

4 Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc với nhiệm vụchủ yếu là tổ chức xây dựng CNXH;

5 Xây dựng và củng cố khối liên minh công – nông – trí thức và các tầng lớp nhândân lao động khác làm cơ sở chính trị - xã hội của hệ thống chính trị;

6 Hệ thống chính trị được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nhà nướcđược tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN;

7 Xác lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội về TLSX chủ yếu, làm nền tảng cho chế

độ chính trị - xã hội;

8 Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tôn trọng chủ quyền các quốc gia, bảo vệhòa bình thế giới, giải quyết mọi bất đồng quốc tế bằng phương pháp hòa bình.Nguyên tắc cao nhất của hệ thống chính trị XHCN là liên minh công – nôngdưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Hệ thống chínhtrị XHCN bao gồm các thành tố cơ bản là:

Trang 13

- Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo xã hội chủyếu bằng nhà nước và thông qua nhà nước; Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chủtrương, bằng công tác cán bộ và bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghịquyết của Đảng.

- Nhà nước XHCN đại diện cho ý chí và lợi ích của nhân dân lao động Quyền lựcnhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, có sự phân công, phối hợp vàkiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là bộ máy chính trị - hành chính, cơ quancưỡng chế, vừa là tổ chức quản lý kinh tế - xã hội của nhân dân Nó luôn giữ vai tròtích cực và sáng tạo, là công cụ để xây dựng một xã hội nhân đạo, công bằng vàbình đẳng

- Các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho lợi ích, nguyện vọng của các tầng lớpnhân dân, là cơ sở chính trị - xã hội cho hệ thống chính trị Các tổ chức này khôngngừng nâng cao chất lượng hoạt động, bảo vệ lợi ích chính đáng cho hội viên củamình, đồng thời phát huy vai trò giám sát quyền lực, phản biện xã hội, tham giaquản lý nhà nước, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa xã hội

Cơ sở tư tưởng của chính trị TBCN là chủ nghĩa cá nhân và tự do tư sản Chế

độ chính trị TBCN là tập hợp các phương pháp và thủ đoạn mà giai cấp tư sản sửdụng để thực hiện nền chuyên chính tư sản.Chúng dùng hai phương pháp: bạo lực và

tự do chủ nghĩa, tương ứng là chế độ quân phiệt và chế độ dân chủ tư sản

Với mục tiêu bảo vệ lợi ích của mình, hệ thống chính trị tư bản dù ở thời kỳnào cũng hoạt động theo nguyên tắc cơ bản như:

1 Bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất;

2 Bảo vệ quyền tự do cá nhân, quyền công dân và quyền con người;

Ngày đăng: 05/11/2022, 11:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w