MỞ ĐÂU Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng ta đã đưa ra chính sách đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường. Đến giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã bắt đầu hội nhập vào cộng đồng kinh tế quốc tế. Với những cố gắng và nỗ lực hết mình nhằm cải cách chính sách để hội nhập nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước nhà đã có những cơ hội phát triển trông thấy, biểu hiện là sau hơn 25 năm đổi mới nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng tăng dần qua từng thời kỳ, lạm phát được đẩy lùi, cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể. Qua đó từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tếxã hội, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, đời sống nhân dân được cải thiện và ngày càng được nâng cao. Đặc biệt quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc. Từ chỗ chỉ quan hệ với các nước trong khối SEV , đến nay Việt Nam đã có mối quan hệ thương mại với hơn 200 nước trên thế giới. Việt Nam lần lượt ra nhập nhiêu tổ chức kinh tế thương mại khu vực và trên thế giới như AFTA, APEC, WTO; Ký hiệp định song phương (BTA) với Mỹ và nhiều nước khác. Đạt được những thành tích đó là do đường lối tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong tiến trình hội nhập chúng ta đã dựa vào và phát huy lợi thế so sánh của đất nước. Song để một nước còn ở trình độ phát triển thấp như Việt Nam có thể hội nhập thành công, tiếp tục phát huy lợi thế so sánh, sử dụng nó như thế nào để phát huy một cách tích cực đặc biệt là trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế thì sử dụng như thế nào, phát huy lợi thế so sánh ra sao là một vấn đề mà chúng ta cần quan tâm. Chính từ những quan tâm đó, em xin chọn đề tài: “ Sử dụng lợi thế so sánh của Việt Nam trong hoạt động xuất, nhập khẩu” làm đề tài tiểu luận môn học Quan hệ kinh tế quốc tế. Kết cấu đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận có kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Một số quan điểm về lợi thế so sánh Chương 2: Thực tế sử dụng lợi thế so sánh nói chung và xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng ở Việt Nam Chương 3: Nhận xét và một số hướng giải pháp để phát huy và sử dụng lợi thế so sánh về xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam một cách có hiệu
Trang 1MỞ ĐÂU
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng ta đã đưa ra chính sách đổi mớitheo đó cải tổ bộ máy nhà nước và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thịtrường Đến giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã bắt đầu hội nhậpvào cộng đồng kinh tế quốc tế Với những cố gắng và nỗ lực hết mình nhằmcải cách chính sách để hội nhập nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước nhà đã
có những cơ hội phát triển trông thấy, biểu hiện là sau hơn 25 năm đổi mớinền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng tăng dần qua từng thời kỳ, lạm phátđược đẩy lùi, cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể Qua đó từng bướcthoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội, đưa đất nước thoát khỏitình trạng đói nghèo, đời sống nhân dân được cải thiện và ngày càng đượcnâng cao Đặc biệt quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam đã đạt đượcnhững tiến bộ vượt bậc
Từ chỗ chỉ quan hệ với các nước trong khối SEV , đến nay Việt Nam
đã có mối quan hệ thương mại với hơn 200 nước trên thế giới Việt Nam lầnlượt ra nhập nhiêu tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và trên thế giới nhưAFTA, APEC, WTO; Ký hiệp định song phương (BTA) với Mỹ và nhiềunước khác
Đạt được những thành tích đó là do đường lối tích cực và chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế Trong tiến trình hội nhập chúng ta đã dựa vào vàphát huy lợi thế so sánh của đất nước Song để một nước còn ở trình độ pháttriển thấp như Việt Nam có thể hội nhập thành công, tiếp tục phát huy lợi thế
so sánh, sử dụng nó như thế nào để phát huy một cách tích cực đặc biệt làtrong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay,đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế thì sử dụng như thế nào, phát huy
Trang 2lợi thế so sánh ra sao là một vấn đề mà chúng ta cần quan tâm Chính từ những
quan tâm đó, em xin chọn đề tài: “ Sử dụng lợi thế so sánh của Việt Nam trong hoạt động xuất, nhập khẩu” làm đề tài tiểu luận môn học Quan hệ kinh
tế quốc tế
Kết cấu đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu
tham khảo, tiểu luận có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số quan điểm về lợi thế so sánh
Chương 2: Thực tế sử dụng lợi thế so sánh nói chung và xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng ở Việt Nam
Chương 3: Nhận xét và một số hướng giải pháp để phát huy và sử dụng lợi thế so sánh về xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam một cách có hiệu
Trang 3NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ LỢI THẾ SO SÁNH
1.1 Lợi thế so sánh theo quan điểm của David Ricardo
Theo quan điểm của nhà Kinh tế học Người Anh David Ricardo(1772-1823), người khởi xướng những lý luận về lợi thế so sánh đã chỉ rarằng : sự chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất và trao đổi thương mạiđem lại lợi ích cho tất cả những người cùng trao đổi với nhau Mỗi nền kinh
tế địa phương ắt sẽ có lợi trong việc chuyên môn hóa trong một hay một sốkhu vực có một lợi thế so sánh cho dù đó là nguồn nhân công dồi dào hay rẻtiền, hay là tài nguyên khoáng sản và các tiềm năng về năng lượng: than đá,dầu mỏ, …Tóm lại là sự chuyên môn hóa từ phạm vi nhỏ ở các địa phươngđến những không gian lớn hơn giữa các quốc gia trong hoạt động thươngmai đều đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia Lý thuyết này được Ricardo
đề ra năm 1987 và gọi là quy luật lợi thế so sánh Đây là một ly thuyết quantrọng mà tất cả mọi nền kinh tế đều phải áp dụng trong thực tiễn để có được
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ổn định trong quan hệ kinh tế hiện đạiTrường hợp có nhiều hàng hoá với chi phí không đổi và có hai quốc gia thì
lợi thế so sánh của từng hàng hoá sẽ được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên
từ hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng hoá có lợi thế so sánh thấpnhất và mỗi nước sẽ tập trung vào sản xuất những mặt hàng có lợi thế sosánh từ cao nhất đến cao ở mức cân bằng Ranh giới mặt hàng nào là có lợithế so sánh cao ở mức cân bằng sẽ do cung cầu trên thị trường quốc tế quyếtđịnh Trường hợp có nhiều quốc gia thì có thể gộp chung tất cả các nướckhác thành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích trênvẫn giữ nguyên tính đúng đắn của nó Lợi thế so sánh không những áp dụngtrong trường hợp thương mại quốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng
Trang 4trong một quốc gia một cách hoàn toàn tương tự.Toàn bộ phân tích củaRicardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác nhau giữa các nướctrong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và đòi hỏi lao động đơn
vị khác nhau Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế sosánh với nền tảng công nghệ như nhau:
- Các nước phát triển có cung yếu tố đầu vào về tư bản nhiều hơn cácnước đang phát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn.Ngược lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triểnlại lớn hơn các nước phát triển Như vậy giá thuê tư bản ở các nước pháttriển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đangphát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản Nóimột cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còncác nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công
- Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào màmình có lợi thế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hànghóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này.Điềunày lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô (dầu thô, thanđá ) hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép còn nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển
1.2 Lợi thế so sánh theo một số quan điểm hiện đại
1.2.1 Lợi thế so sánh theo mô hình của trường Đại học Stanford Hoa kỳ
Một trong những quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh được áp dụngrộng rãi trong thực tiễn quan hệ kinh tế ngày nay là lý thuyết lợi thế so sánhcủa trường Đại học Stanford - Hoa kỳ Nó được nêu ra như sau : “Một quốcgia được coi là có lợi thế so sánh trong sản xuất sản phẩm X khi chi phí cơhội xã hội để sản xuất thêm một đơn vị X thấp hơn giá biên giới (trước khi
Trang 5thông quan) của sản phẩm đó.”Định nghĩa lợi thế so sánh này dựa vào haikhái niệm: giá biên giới (trước khi thông quan) và chi phí cơ hội xã hội.
• Giá biên giới của sản phẩm X trước khi thông quan bao gồm :
Giá F.O.B đối với quốc gia xuất khẩu X
Giá C.I.F đối với quốc gia nhập khẩu X
• Chi phí cơ hội xã hội (Social OpportunityCosts) gắn liền với kháiniệm lợi ích xã hội để phân biệt với lợi ích tư nhân:
• Lợi ích tư nhân (Private Profitability - PP) = giá trị gia tăng – cácyếu tố chi phí (không kể chi phí sửdụng vốn) và thuế gián thu theo giá hiệnhành
• Lợi ích xã hội (Social Profitability - SP) = giá trị gia tăng – các yếu
tố chi phí (không kể chi phí sử dụngvốn) theo chi phí cơ hội
1.2.2 Lợi thế so sánh theo mô hình đàn nhạn bay ( The flying geese model)
Mô hình đàn nhạn bay được AkamatsuKaname (1896 – 1974, Nhật)
đề xướng từ những năm 1930 và được phát triển bởi một số nhà kinh tế NhậtBản khác.Đây là lý thuyết phát triển công nghiệp để tạo ra sự chuyển dịchlợi thế so sánhcủa nền kinh tế với 3 phiên bản cụ thể :
Phiên bản 1: một nước –một ngành hàng:
Tình huống đặt ra cho nước đang phát triển áp dụng để phát triển mộtngành công nghiệp cụ thể Ban đầu, quốc gia đó phải nhập khẩu sản phẩm từcác nước công nghiệp phát triển đi trước.Sau đó, tích lũy vốn và học tậpkinh nghiệm để phát triển sản xuất tại chỗ thay thế nhập khẩu.Trên cơ sở đó,nhập khẩu sẽ giảm dần và tiến đến xuất khẩu
Trang 6Phiên bản 2: một nước –nhiều ngành hàng:
Qui luật phát triển trong từng ngành hàng giống như đã trình bày ởphiên bản 1 Qui luật phát triển công nghiệp của một nước là: phát triển cácngành thứ cấp trước, phát triển các ngành sơ cấp sau.Theo đó, lợi thế so sánh(và sản phẩm xuất khẩu) của quốc gia sẽ chuyển dịch liên tiếp giữa cácngành theo thứ tự nêu trên
Trang 7Phiên bản 3: nhiều nước –một ngành hàng:
Qui luật phát triển công nghiệp trong từng nước giống như đã trìnhbày ở các phiên bản 1 & 2.Từ đó, sẽ diễn ra sự phân công lao động quốc tếtheo khu vực trong từng ngành hàng cụ thể.Đội hình bay của đàn nhạn ĐôngÁ: Nhật Bản đầu đàn; các nước NICs hàng thứ hai; các nước nổi trội củaASEAN hàng ba; Trung quốc và Việt Nam ở hàng thứ tư
2.2 Đánh giá lợi thế so sánh theo các quan điểm
2.2.1.Đánh giá lợi thế so sánh theo quan điểm của David Ricardo
David Ricardo đưa ra 2 học thuyết về lợi thế so sánh tuy nhiên 2 học thuyết này có những ưu nhược điểm và phạm vi ứng dụng khác nhau
Mô hình 2 quốc gia 2 sản phẩm chỉ có giá trị lý thuyết để hiểu rõ vềlợi thế so sánh
Mô hình nhiều quốc gia, nhiều sản phẩm có thể áp dụng để đánh giálợi thế so sánh của một ngành hàng quốc gia so với phần còn lại của thế giới
1 cách khách quan
Trang 82.2.2 Đánh giá lợi thế so sánh theo quan điểm hiện đại
Mô hình đánh giá lợi thế so sánh của Đại học Stanford có thể vậndụng ở 3 cấp: doanh nghiệp, ngành hàng và nền kinh tế
Mô hình đàn nhạn bay chủ yếu vận dụng ở cấp ngành và nền kinh tế.Yêu cầu sử dụng phối hợp cả hai mô hình để phục vụ hoạch địnhchính sách kinh tế
• Ưu điểm
Lượng hóa lợi thế so sánh rất cụ thể; đánh giá chính xác hiệu quả và
vị thế cạnh tranh của các ngành hàng; chỉ rõ quy luật chuyển dịch lợi thế sosánh và trật tự phát triển ngành
và phát triển lợi thế của mình trong từng ngành hàng
Khi nghiên cứu về lợi thế so sánh ta còn hiểu được quy luật chuyểndịch của nó và trình tự phát triển hợp lý giữa các ngành công nghiệp Vì vậy
Trang 9mà ta phải vận dụng kết hợp các mô hình nghiên cứu về lợi thế so sánh để ápdụng phù hợp với từng ngành hàng và phù hợp với nền kinh tế nước ta
2.2.3 Phân tích một ví dụ về lợi thế so sánh của David Ricardo
Để làm rõ học thuyết của mình David Ricardo đã đưa ra ví dụ để phântích Ông đã lấy ví dụ về việc sản xuất lúa mỳ và rượu vang ở nước Anh vànước Bồ Đào Nha để phân tích về giả thuyết 2 sản phẩm 2 quốc gia VàDavid đã phân tích việc sản xuất 2 sản phẩm này về chi phí lao động, sảnxuất trước khi có thương mại và khi có thương mại thì quá trình và kết quảsản xuất đã có những thay đổi đáng kể Ta có thể thấy rõ qua các bảng sốliệu mà ông đưa ra sau đây:
B ng 1: Chi phí v lao ảng 1: Chi phí về lao động để sản xuất ề lao động để sản xuất động để sản xuấtng để sản xuất ảng 1: Chi phí về lao động để sản xuất s n xu tất
Theo số liệu trên thì ta thấy Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so vớiAnh cả về sản xuất lúa mỳ và rượu vang: năng suất lao động của Bồ ĐàoNha gấp 2 lần của Anh trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sảnxuất lúa mỳ Ricardo đã phân tích ví dụ này như sau:
Một đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất phải tốn chi phí tương đươngvới chi phí để sản xuất 2 đơn vị lúa mỳ; Bồ Đào Nha: để sản xuất 1 đơn vịrượu vang chỉ mất chi phí tương đương với chi phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa
mỳ Vì vậy Bồ Đào Nha sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với Anh.ỞAnh sản xuất lúa mỳ rẻ tương đối so với Bồ Đào Nha: chi phí cơ hội có 0,5đơn vị rượu vang trong khi ở Bồ Đào Nha phải mất 2/3 đơn vị rượu vang
Qua ví dụ trên và qua những phân tích của mình Ricardo đã đưa ra kếtluận ở Bồ Đào Nha sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Anh và ởAnh sản xuất lúa mỳ rẻ hơn tương đối so với ở Bồ Đào Nha Có thể nói cách
Trang 10khác là Anh có lợi thế so sánh về sản xuất lúa mỳ còn Bồ Đào Nha có lợi thế
so sánh về sản xuất rượu vang
Sau đó Ricardo giả định 2 nước chỉ sản xuất mặt hàng lợi thế củamình trước và sau thương mại có kết quả như sau:
Trước thương mại:
Quốc gia Số đơn vị lúa mỳ Số đơn vị rượu vang
Sau khi có thương mại:
Quốc gia Số đơn vị lúa mỳ Số đơn vị rượu vang
tố sản xuất chuyển dịch một cách hoan hảo, không có thuế quan va rao cảnthương mại, thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua đều biếtđến nơi có hàng hóa rẻ nhất trên thị trường quốc tế
Qua 2 bảng số liệu Ricardo đưa ra ta có thể thấy kết quả sản xuất đã
có những thay đổi tích cực Khi tập trung sản xuát 1 sản phẩm với sự traođổi - thương mại giữa hai nước thì số lượng rượu vang và lúa mỳ đều tănglên
Trang 11Tuy nhiên trong ví dụ trên của Ricardo ta thấy được điểm hạn chế vềlợi thế so sánh do oog đưa ra Nhưng điểm hạn chế đó là những giả đinhn.Chẳng hạn trên thực tế các yếu tố thay đổi chứ không giống như giả định:Các nhân tố sản xuất không dịch chuyển một cách hoàn hảo; những ngườisản xuất ở Anh hay ở Bồ Đào Nha không tim được việc làm một cách dễdàng : người sản xuất lúa mỳ chỉ tìm được việc làm trong sản xuất rượu vàngược lại; đồng thời các rào cản thuế quan và thương mại là khó tránh khỏi
ở bất kỳ quốc gia nào Vì vậy việc đưa các ví dụ để chứng minh học thuyếtlợi thế so sánh chưa phân tích hết được các yếu tố tác động
2.2.4 Đánh giá về lợi thế so sánh theo các quan điểm của David Ricardo ở Việt Nam
Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng thị trường mở cửa trong điềukiện khu vực hoá và toàn cầu hoá đang mở ra trước mắt cho Việt Nam nhiều
Ngoài mục tiêu hợp tác để bảo vệ nền hoà bình và ổn định khu vựcnói riêng và phạm vi thế giới nói chung, Việt Nam gia nhập ASEAN và các
tổ chức kinh tế quốc tế còn vì những lý do khác, trong đó mục tiêu và các lợiích kinh tế trong quá trình hợp tác là vấn đề được ưu tiên.Muốn hợp tác hộinhập có kết quả, Việt Nam cần nhận thấy mình có những lợi thế so sánh gì
và sẽ bổ sung cơ cấu trong quá trình hội nhập kinh tế với các nước ASEAN
và các nước khác trên thế giới ở những lĩnh vực nào?
Từ việc nghiên cứu lý thuyết lợi thế so sánh và sự phát triển lý thuyếtlợi thế so sánh của Ricardo cho phép chúng ta rút ra nhiều gợi ý quan trọngđối với Việt Nam trong bối cảnh mới
Từ sự phân tích và lập luận ở trên cho thấy: lợi thế so sánh của ViệtNam là các lợi thế tĩnh, nếu các lợi thế này không có khả năng tái sinh thì nó
sẽ mất dần đi Điều này thấy rất rõ ở hai lợi thế mà Việt Nam đang có là tàinguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào Mặc dầu Việt Nam được coi
Trang 12là một đất nước phong phú về các loại khoáng sản, nhưng nếu tính theo mứcđầu người thì không phải là nước giàu khoáng sản Về lao động, Việt Nam
có nguồn lao động trẻ dồi dào, tuy nhiên lực lượng này lại chưa quen với lốilao động công nghiệp, việc tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế Do đó chấtlượng lao động không cao, thế nhưng tiền công lao động lại quá cao nếu tínhtheo năng suất.Thứ hai, so với các nước ASEAN, hoạt động thương mại vàđầu tư của Việt Nam vẫn ở trình độ thấp Theo số liệu thống kê năm 2007của WTO, trong 50 nền kinh tế của thế giới 9 Phần I: Các lý thuyết kinhtếđược đưa ra phân tích thì Việt Nam được xếp thứ 50 cuối danh sách
Trong mô hình: lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều mặt hàng, thời
kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá Việt Nam chỉ có lợi thế so sánh ở mứcthấp, biểu hiện sản xuất ở một số nhóm hàng, mặt hàng sử dụng nhiều laođộng và lợi thế về tài nguyên tự nhiên Nhưng với quá trình phát triển (côngnghiệp hoá, hiện đại hoá), Việt Nam sẽ có một bước chuyển rất căn bản: mởrộng lợi thế so sánh ra nhiều mặt hàng, nhóm hàng có giá trị cao Muốn vậyphải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiênnhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong đó nguồn nhân lực là mộtyếu tố rất quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước trong bối cảnh phát triển hiện nay, bởi nó tạo ra bước nhảy vọt về năngsuất
Trang 13Chương 2: THỰC TẾ SỬ DỤNG LỢI THẾ SO SÁNH Ở VIỆT
NAM 2.1 Những đặc điểm chung để phát triển kinh tế Việt Nam
Việt Nam nằm trong điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triểnkinh tế đó chính là vị trí địa lý thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi và buônbán với các nước trên thế giới
Địa hình Việt Nam đa dạng, bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển giúpcho việc phát triển cả về nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm cónhiệt độ cao và độ ẩm lớn thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt và chănnuôi
Tài nguyên thiên nhiên: Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao,thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp, Quần thể động vật ở Việt Namcũng phong phú và đa dạng
Có nhiều khoáng sản quý giá như than đá, quặng, sắt, chì, dầumỏ góp phần phát triển công nghiệp
- Nguồn lao động ở Việt Nam
Về số lượng: Việt Nam chúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào vớidân số cả nước gần 86 triệu người
Về chất lượng: Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấp chuyênnghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900 trườngphổ thông, 226 trường dân tộc nội trú…Nhìn vào những con số này cho thấylực lượng trí thức và công chức thực sự là một nguồn lực quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế đất nước Hơn nữa, lao động Việt Nam lại cần cù, chămhọc hỏi và sáng tạo trong tìm tòi áp dụng công nghệ mới vào quá trình laođộng
Trang 14Việt Nam có một hệ thống chính trị ổn định với Đảng Cộng sản Việtnam lãnh đạo và chính phủ điều hành, không xảy ra tình trạng xung đột, lật
đổ, đảo chính giữa các đảng phái chính trị vì vậy tạo điều cho nền kinh tếđược phát triển bền vững
Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hoá côngnghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế sâu và rộng nên chính phủ có nhữngchính sách kích thích hay " trải thảm đỏ" mở cửa đón các doanh nghiệpnước ngoài đầu tư vào trong nước
Với chính sách cải cách kinh tế kịp thời chuyển từ nền kinh tế bao cấpsang nền kinh tế thị trường có định hướng của Xã hội chủ nghĩa giúp nềnkinh tế phát triển bước qua sự suy thoái kinh tế
Nhà nước có nhận định chính xác về chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốcgia đó là giảm tỷ lệ cơ cấu kinh tế nông nghiệp tăng cơ cấu kinh tế ngànhcông nghiệp và dịch vụ bước đầu đã có chuyển biến tích cực và có hiệu quảgiúp cho nền kinh tế có tốc độ phát triển cao
2.2.Những lợi thế so sánh của Việt Nam
Lợi thế so sánh bao gồm lợi thế so sánh tự nhiên và tự tạo Lợi thế sosánh tự nhiên có từ các nguồn lực sẵn có như đất đai, tài nguyên, khoángsản, lao động và nguồn vốn Các cơ hội thị trường mở ra cũng có khả năngtạo ra những lợi thế mới Lợi thế so sánh tự tạo được hình thành từ chínhsách đầu tư của chính phủ và doanh nghiệp thông qua chiến lược, cơ cấu vàmức độ cạnh tranh nội bộ ngành
2.1.Những lợi thế so sánh tự nhiên
- Vị trí địa lý chiến lược ( đường biển, đường bộ, đường sông).Nước
ta có đường biên giới rất dài với các nước: Biên giới Việt-Trung dài >1.400km, phần lớn dựa theo núi, sông tự nhiên và những hẻm núi hiểmtrở,biên giới với Lào là một xương sống chung, được chia ra nhiều đoạn với
Trang 15những đèo thấp,không gây trở ngại cho sự giao lưu giữa 2 nước, mà trái lạicòn mở ra những tuyến giao thông quan trọng nối liền thung lũng sông MêCông ở phía trong với biển Đông ở phía ngoài =>dễ dàng thông thươnggiữa các tỉnh thành, với các nước khác, )
Diện tích tự nhiên 331.212,1 km2, xếp thứ 56/200 quốc gia, (gấp 4 lần
Bồ Đào Nha, gấp 1,5 lần nước Anh, gần bằng nước Nhật) So với khu vựcĐông Nam Á, diện tích nước ta tương đương với Malaixia, nhỏ hơnInđônêxia, Mianma và Thái Lan.Với diện tích khá thuân lợi như vậy mànước ta có thể phát triển các ngành nông nghiệp, cũng như công nghiệp khaikhoáng
Tài nguyên thiên nhiên dồi dào , phong phú ( thế mạnh về nôngnghiêp,…)Do nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu nóng
ẩm, ở giữa vùng gió mùa châu Á (khu vực gió điển hình nhất trên thế giới)khí hậu nước ta có 2 mùa rõ rệt: mùa Đông bớt nóng và khô và mùa Hạ nóng
và mưa nhiều.Vị trí tiếp giáp với Biển Đông, đây là nguồn dự trữ rất dồi dào
về nhiệt và ẩm, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, vì thế thảmthực vật ở nước ta quanh năm xanh tốt, giàu sức sống khác hẳn với các nước
có cùng vĩ độ (Tây Nam Á và châu Phi).Thảm thực vật phong phú, kết hợpvới khí hậu nhiệt đới lại càng làm cho phong cảnh nước ta có nhiều điềukiện phát triển ngành du lịch.Đặc biệt là tuy nằm trong khu vực nhiệt đới giómùa nhưng miêng Bắc nước ta lại có mùa đông lạnh vì vậy đay là nét đặctrưng thú vị cũng như làm tăng thêm phần phong phú về khí hậu => đa dạng
về các loại động, thực vật
Nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương trên vành đai sinhkhoáng châu Á – Thái Bình Dương cùng các hoạt động mác ma ứng cho nêntài nguyên khoáng sản của Việt Nam khá đa dạng.Đây là một trong những
Trang 16điều kiện để Việt Nam có thể phát triển ngành công nghiệp khai thác khoángsản.
Như vậy, nét khá độc đáo của vị trí địa lý nước ta là: Nằm ở nơi gặp
gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, của nhiều nền văn hoá lớn trênthế giới và các luồng di cư trong lịch sử; Ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Álục địa với Đông Nam Á hải đảo Cũng chính vì thế, đã làm cho thiên nhiênnước ta trở nên đa dạng và phong phú mà nhiều nơi trên thế giới không cóđược
- Về văn hóa – xã hội, do ở vị trí liền kề cùng với nhiều nét tươngđồng về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử và mối giao lưu lâu đời với cácnước trong khu vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chung sống hòa bình,hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước (nhất là các nước lánggiềng) Hơn nữa, vị trí địa lí cũng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cộngđồng các dân tộc Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc và có nền văn hóa đậm
đà bản sắc dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hóa văn hóa thế giới
- Dân số nước ta đông, trẻ, nên có nhiều người đang trong độ tuổi laođộng Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọngnhất quyết định sức mạnh của một quốc gia Bởi chúng ta biết rằng mọi củacải vật chất đều được làm nên từ bàn tay và trí óc của con người Việt Namchúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệungười (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573người), nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Trong đó
số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng67% dân số cả nước Cơ cấu Dân số vàng ở nước ta bắt đầu đầu xuất hiện từnăm 2010 và kết thúc vào năm 2040, kéo dài trong khoảng 30 năm Rõ ràngViệt Nam đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao động => lao động dồi dào,
Trang 17nhiệt tình, nhanh nhẹn,có khả năng học tập và áp dụng các công nghệ mớinhanh chóng,……
Chất lượng lao động nước ta ngày càng được cải thiện do Nhà nước
đã có cái nhìn đúng đắn về giáo dục và đào tạo thể hiện ở các con số sauđây
Bảng số liệu sinh viên các trường ĐH,CĐ,Trung
cấp một số năm gần đây
1131030
1603484
0 500000 1000000 1500000 2000000
2008 có hơn 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học và đang đặt mục tiêu trong
10 năm tới sẽ có 20000 tiến sĩ Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấpchuyên nghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900trường phổ thông, 226 trường dân tộc nội trú
- Có truyền thống về các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, người lao độngcần cù, khéo léo,… ( các ngành hàng tiểu thủ công nghiệp khá phát triển, )
- Bản chất con người Việt Nam là năng động, luôn tìm tòi phát huynăng lực tiềm năng sẵn có và học hỏi những tinh hoa mới, đó là điều kiện rấttốt để tiếp thu học hỏi những khoa học kỹ thuật mới