Điều này có thể được lý giải theo học thuyết của phái xã hội, tiêu biểu là Luật gia Duguit vào thế kỷ XIX như sau: “tôn trọng ý chí của các bên giao kết, nhưng cũng cần chú trọng vào quy
MỘT SỐ BIỆN PHÁP XỬ LÝ VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT PHÁP
Khái quát về hệ thống pháp luật Pháp
Trên thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ 12 và vì vậy, tương ứng có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Dựa trên một số tiêu chí nhất định hoặc sự tương đồng trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, các hệ thống pháp luật thường được phân nhóm thành những hệ thống chính như: hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và một số hệ thống pháp luật nhỏ khác (luật Hồi giáo, luật Hindu ) 13
Trong đó, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (hay còn gọi là hệ thống pháp luật Dân luật
- Civil Law) là hệ thống pháp luật lớn nhất trên thế giới, bao gồm các nước như Pháp, Italy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Áo, Bỉ, Luxembourg, Hà Lan, Thụy Sĩ, Scotland Bên cạnh đó, nhiều nước ở Châu Phi, Đông Á và một số khu vực Bắc Mỹ như vùng Quebec và bang Louisiana cũng kế thừa truyền thống pháp luật này 14
Xét về tổng quan, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa có một số đặc trưng chính Thứ nhất, luật La mã ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật các nước, thể hiện qua ba khía cạnh:
Corpus juris civilis được tiếp nhận rộng rãi và được nghiên cứu tại các trường Đại học từ thế kỷ XIII; luật La mã được xem như nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật thành văn và tập quán chưa điều chỉnh; các Bộ luật dân sự lớn của lục địa Châu Âu được hình thành trên cơ sở kết hợp tập quán và luật La mã 15
Thứ hai, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa có trình độ hệ thống hóa, pháp điển cao, được chứng minh qua việc những bộ luật thành văn đồ sộ ra đời từ rất sớm, điển hình như
Bộ luật Dân sự 1804, Bộ luật tố tụng dân sự 1806, Bộ luật thương mại 1807 của Pháp và
Bộ luật Dân sự 1896 của Đức Do hoạt động lập pháp phát triển đến trình độ cao nên việc
12 252 quốc gia & vùng lãnh thổ trên thế giới, Nhà xuất bản thế giới (2010)
13 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật so sánh, Nhà xuất bản Công an nhân dân (2010), tr.88
14 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.99
15 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.100
10 nghiên cứu, thực hiện và áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng Các quy phạm pháp luật rất cụ thể, chế tài rõ ràng nên có thể áp dụng trực tiếp vào các quan hệ xã hội mà không cần thông qua văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành
Thứ ba, các quốc gia Châu Âu lục địa chịu ảnh hưởng của học thuyết phân chia quyền lực nên lập pháp là hoạt động của Nghị viện, Tòa án chỉ là cơ quan xét xử, không được tạo ra luật Tuy nhiên, các phán quyết của Tòa án vẫn có giá trị tham khảo, được áp dụng hạn chế như là hình thức khắc phục khiếm khuyết của luật thành văn 16
Khi nghiên cứu hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, không thể không nhắc đến pháp luật Pháp, một hệ thống pháp luật mang tính điển hình được hình thành từ rất sớm Tương tự hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, pháp luật Pháp được phân chia thành luật công (điều chỉnh quan hệ xã hội giữa cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với tư nhân) và luật tư (điều chỉnh quan hệ giữa tư nhân với tư nhân) Sự phân chia này xuất phát từ quan điểm "lợi ích công và lợi ích tư không thể cùng đặt lên một bàn cân" 17 và phương pháp điều chỉnh khác biệt trong từng mối quan hệ
Lĩnh vực luật tư bao gồm những ngành luật như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại, luật lao động Trong đó, luật dân sự nắm giữ vai trò đặc biệt quan trọng, được xem như "luật chung", quy định những nguyên tắc cơ bản để các "luật chuyên ngành" dựa vào đó phát triển Nếu luật chuyên ngành không quy định một trường hợp cụ thể thì các luật gia sẽ quay lại những quy định chung trong luật dân sự nhằm tìm ra cách thức giải quyết 18
Trong thế kỷ XIX, luật dân sự nói riêng và lĩnh vực tư pháp của Pháp nói chung đã phát triển đến một trình độ cao, đó là khi Bộ luật dân sự - được xem là "Hiến pháp dân sự" được công bố vào ngày 21 tháng 3 năm 1804 Bộ luật được soạn thảo với những quy định khái quát, toàn diện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tư pháp Văn bản pháp lý này bao gồm 2283 điều, chia thành Thiên mở đầu chứa đựng một số nguyên tắc
16 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.103
17 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.101
18 Nguyễn Ngọc Bích, Tài ba của luật sư, Nhà xuất bản Trẻ (2010), tr.43 - 46
11 cơ bản về luật và ba quyển, cụ thể Quyền 1 (từ Điều 7 đến Điều 515) quy định về người; Quyền 2 (từ Điều 516 đến Điều 710) quy định về tài sản và những thay đổi về sở hữu và Quyền 3 (từ Điều 711 đến Điều 2281) quy định các phương thức xác lập quyền sở hữu
Bộ luật Dân sự đã trải qua hơn 200 năm tồn tại, không ngừng được hoàn thiện bằng nhiều quy định sửa đổi, bổ sung những điều khoản không còn phù hợp với xã hội Những đạo luật này được Nghị viện ban hành, có giá trị thay thế, bổ sung hoặc hủy bỏ những điều khoản trong BLDS đã lỗi thời, những quy định nào trước đây trái với luật mới được ban hành sẽ không còn giá trị Chẳng hạn Điều 84 Luật số 91-650 ngày 09-07-1991 bổ sung quy định của Điều 1139 BLDS Pháp người có quyền có thể gửi "một bức thư có nội dung thúc giục thực hiện nghĩa vụ" Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự vẫn chứng tỏ được giá trị về kỹ thuật và tư duy lập pháp khi rất nhiều quy định vẫn còn hiệu lực đến ngày nay
Nguồn của luật dân sự còn bao gồm những phán quyết của Tòa án mặc dù pháp luật nghiêm cấm thẩm phán khi giải quyết những vụ việc đặt ra những quy định chung và có tính chất quy phạm (Điều 5 BLDS Pháp) Vì quan niệm Bộ luật Dân sự là một văn bản pháp lý hoàn thiện, không còn thiếu sót là một ý tưởng viễn vong, công tác hoàn thiện các kẽ hở của pháp luật được giao cho Tòa án Do đó, Điều 4 BLDS Pháp quy định:
"Thẩm phán nào từ chối xét xử, với lý do luật không quy định, quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ, thì có thể bị truy tố về tội từ chối xét xử" Từ đó, bản án của Tòa Phá án và Tòa phúc thẩm được xuất bản, nghiên cứu và được áp dụng trong thực tiễn xét xử cho dù các phán quyết đó không chính thức ràng buộc các Thẩm phán Ngoài ra, các Thẩm phán không áp dụng Bộ luật Dân sự một cách cứng nhắc mà áp dụng nó một cách sáng tạo, giải thích luật phù hợp với hoàn cảnh của xã hội 19
Khi nghiên cứu chi tiết, có một điều dễ dàng nhận thấy rằng quyển thứ ba của BLDS Pháp "Các phương thức xác lập quyền sở hữu" (từ Điều 711 đến Điều 2281) chứa đựng số lượng điều khoản lớn nhất, trong đó quy định một chế định rất quan trọng - nghĩa vụ dân sự, được định nghĩa là mối quan hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó người có quyền
19 Michael Bogdan, chú thích số 11, tr.135
Một số biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng
1.2.1 Biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
"Buộc thực hiện đúng hợp đồng" được pháp luật quy định như một biện pháp được ưu tiên áp dụng Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại đoạn 2 Điều 1184 "Bên nào mà cam kết đối với họ không được thực hiện, thì có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện hợp đồng nếu có thể được, hoặc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và bồi thường thiệt hại”
Quy định trên được hiểu là “buộc thực hiện hợp đồng” phải được người có quyền lựa chọn trước, nếu cảm thấy biện pháp này không thực hiện được hoặc không thỏa mãn yêu cầu của mình thì mới có thể chuyển sang biện pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng 21
20 Vũ Văn Mẫu, chú thích số 5, tr.54
21 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, chú thích số 7, tr.851
Quan điểm "ưu tiên áp dụng" tồn tại ở các nước theo hệ thống dân luật (Civil Law), nghĩa là hợp đồng có giá trị bắt buộc đối với các bên, vì thế nếu một bên không thực hiện đúng hợp đồng, bên kia có quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng đối với hầu hết trường hợp vi phạm Điều này ngược lại với hệ thống Thông Luật (Common Law), khi hậu quả pháp lý duy nhất và bao quát cho mọi trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện là bắt buộc người có nghĩa vụ phải trả tiền bồi thường thiệt hại 22
1.2.1.1 Khái quát về biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
BLDS Pháp không đưa ra khái niệm cụ thể về biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng mà chỉ đề cập biện pháp này trong một số điều khoản Điển hình như Điều 1139 “Người có nghĩa vụ được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bằng giấy đòi nợ hoặc một văn bản khác có giá trị tương đương”; Điều 1143 “Người có quyền có thể yêu cầu phá bỏ những gì mà người có nghĩa vụ đã làm trái với cam kết” hoặc Điều 1144 "Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện công việc đã thỏa thuận, thì người có quyền cũng có thể được Tòa án cho phép yêu cầu người khác thực hiện công việc đó, mọi chi phí cho người có nghĩa vụ chịu"
Những quy định trên không thể hiện rõ ràng về cách thức áp dụng biện pháp Nhằm khắc phục thiếu sót trên, Luật số 91-650 được ban hành ngày 9-7-1991, trong đó, Điều 85 bổ sung cho Điều 1139 BLDS quy định: "Người có nghĩa vụ được yêu cầu bằng một bức thư có nội dung thúc giục thực hiện nghĩa vụ" Như vậy, luật đã quy định cụ thể người có quyền được yêu cầu người có nghĩa vụ thi hành đúng hợp đồng thông qua một thư hối thúc Quy định này giúp người có quyền chủ động bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình
Xét về bản chất, thư hối thúc là một văn bản của người có quyền xác định sự chậm trễ của người có nghĩa vụ, đồng thời yêu cầu họ phải thi hành nghĩa vụ Mặc dù thời hạn của hợp đồng đã trôi qua rất lâu mà nghĩa vụ vẫn chưa được thi hành nhưng việc này không có nghĩa là người có quyền đã hối thúc (nguyên tắc Dies non interpellat pro homine: việc
22 Oliver Wendell Holmes.Jr, The Common law (Thông luật), University of Toronto Law school - Typographical Society (2011), tr.266 (the only universal consequence of a legally binding promise is, that the law makes the promisor pay damages if the promised event does not come to pass)
14 hối thúc không được coi là đương nhiên khi nghĩa vụ đến hạn) Bởi vì người có quyền thông qua thư hối thúc chứng minh rằng người có nghĩa vụ đã không tự giác thi hành hợp đồng, họ phải chịu trách nhiệm về việc này Nếu không hối thúc, pháp luật suy đoán rằng người có nghĩa vụ chưa gây thiệt hại cho người có quyền và pháp luật suy đoán rằng họ đã mặc nhiên cho phép người có nghĩa vụ được thi hành chậm trễ 23
BLDS Pháp không đưa ra khái niệm về biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng thông qua quy định về "thư hối thúc" tại Điều 1139 BLDS Pháp và Điều 85 Luật số 91-
650 ngày 9-7-1991 có thể hiểu được nội dung của biện pháp này Đó là người có quyền được yêu cầu người có nghĩa vụ thi hành đúng hợp đồng bằng một văn bản hoặc một hỉnh thức khác có giá trị tương đương Theo Điều 25-1 Luật số 2004-575 ngày 21-06-2004, hình thức khác có giá trị tương đương được hiểu là văn bản đó có thể được lập và lưu giữ dưới hình thức điện tử
1.2.1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng Điều kiện áp dụng "buộc thực hiện đúng hợp đồng" khá đơn giản, vì đây chỉ là hệ quả đương nhiên của thỏa thuận hợp pháp, gồm ba điều kiện sau đây:
Thứ nhất, cam kết, thỏa thuận hợp pháp mới có thể thúc buộc các bên tôn trọng và thực hiện, trên cơ sở đó, biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ áp dụng đối với hợp đồng có hiệu lực pháp luật Điều đó nghĩa là các bên phải thỏa mãn được các yếu tố chủ yếu sau đây: "Các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện và có năng lực giao kết hợp đồng và đối tượng của hợp đồng phải xác định; căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp" (Điều 1108
BLDS Pháp) Nếu khiếm khuyết một trong những yếu tố trên, hợp đồng bị coi là vô hiệu, không còn hiệu lực ràng buộc các bên phải tuân thủ, các bên phải hoàn lại nguyên trạng, nghĩa là hoàn trả lại cho nhau tài sản đã nhận bằng hiện vật hoặc bằng tiền (Restitution in integrum) 24 Người có quyền không thể buộc người có nghĩa vụ thi hành nghĩa vụ trong
23 Nguyễn Mạnh Bách, Nghĩa vụ dân sự trong luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1998), tr.105
24 Nhà pháp luật Việt - Pháp, Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt, Nhà xuất bản từ điển bách khoa (2009), tr.797
15 một hợp đồng vô hiệu Vì vậy, điều kiện đầu tiên để áp dụng biện pháp là tồn tại hợp đồng có hiệu lực pháp lý giữa các bên
Thứ hai, nếu người có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng thì người có quyền được yêu cầu thi hành những nghĩa vụ đã cam kết Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc người có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ và người có quyền nhận được lợi ích mong đợi là hoàn toàn khác nhau
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, Luật gia Demogue phân biệt 2 loại: nghĩa vụ theo kết quả và nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất Đối với nghĩa vụ theo kết quả, người có nghĩa vụ phải thi hành một nghĩa vụ rõ rệt, đảm bảo mang lại kết quả mà các bên dự kiến, ví dụ trả một món nợ đến hạn Ngược lại, đối với nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất, người có nghĩa vụ không cam kết mang lại một kết quả nhất định mà chỉ cam kết sử dụng mọi khả năng, mọi phương tiện và phương thức có thể và hợp lý để hướng tới việc đạt được kết quả Ví dụ Bác sĩ chữa trị cho bệnh nhân dựa trên kiến thức, kinh nghiệm của mình, trong điều kiện tốt nhất có thể Ông không thể cam kết là sẽ chữa khỏi hoặc chữa khỏi trong thời hạn nào 25
Mối quan hệ giữa buộc thực hiện đúng hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng
Khi người có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng, liệu người có quyền có thể áp dụng đồng thời nhiều biện pháp xử lý hay không Do vậy, một vấn đề quan trọng cần được quan tâm là pháp luật cho phép kết hợp ba biện pháp nói trên như thế nào nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích của các bên trong hợp đồng
Trước một hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, nếu người có quyền vẫn im lặng thì pháp luật suy đoán rằng người có nghĩa vụ chưa gây thiệt hại gì cho người có quyền và người này mặc nhiên được cho phép thi hành chậm trễ Trong khi đó, sự hối thúc của người có quyền chứng minh rằng người có nghĩa vụ đã không tự giác thi hành nghĩa vụ, do đó phải gánh chịu trách nhiệm dân sự vì hành vi của mình
Buộc thực hiện đúng hợp đồng phải được áp dụng đầu tiên, nếu không hiệu quả thì mới áp dụng biện pháp khác Nguyên tắc này được thể hiện thông qua Điều 1146 BLDS Pháp
"Người có nghĩa vụ chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu đã được yêu cầu mà vẫn không thực hiện nghĩa vụ" và Điều 1184 BLDS Pháp “Bên nào mà cam kết đối với họ không được thực hiện, thì có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện hợp đồng nếu có thể được, hoặc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và bồi thường thiệt hại”
Pháp luật Pháp không chấp nhận việc áp dụng đồng thời buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp đòi bồi thường đối với những thiệt hại do chậm
42 thực hiện gây ra Đối với biện pháp hủy bỏ hợp đồng, nguyên tắc này cũng không ngoại lệ, nghĩa là hủy bỏ hợp đồng phải áp dụng sau khi người có quyền đã hối thúc thực hiện hợp đồng nhưng không hiệu quả hoặc những ngoại lệ được nghiên cứu trong mục 1.2.1.4
Ngoài ra, trong những trường hợp người có nghĩa vụ vi phạm nghiêm trọng, ngoài việc bồi thường thiệt hại, người này còn phải gánh chịu rủi ro bị đối phương hủy bỏ hợp đồng Tuy nhiên trong thời gian gần đây, một số luật gia nhận xét: "Quy định này thừa nhận một nghịch lý, tức làm thế nào để người có quyền cùng một lúc theo đuổi việc chấm dứt có tính cách hồi tố hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại với lý do không thực hiện đúng hợp đồng" 70 , bởi vì hai biện pháp hướng đến hai lợi ích khác nhau
Yêu cầu bồi thường thiệt hại hướng đến lợi ích thuận, nghĩa là đưa người có quyền đạt được những lợi ích mong đợi nếu người có nghĩa vụ tôn trọng nghĩa vụ của mình; ngược lại, hủy bỏ hợp đồng mang lại lợi ích nghịch, tức là hoàn lại nguyên trạng trước khi hợp đồng được giao kết, các bên trả cho nhau những gì đã nhận bằng vật hoặc tiền (Restitutio in integrum)
Tuy nhiên, không phải do mâu thuẫn trên mà không thể kết hợp hai biện pháp Khi quyết định hủy bỏ hợp đồng, Tòa án phải xem xét việc hủy bỏ đã đủ bù đắp lại sự thiệt hại của người có quyền hay không và có thể buộc người có nghĩa vụ trả thêm một số tiền bồi thường Trong thực tiễn xét xử, Tòa án đã giải quyết khéo léo một số trường hợp bằng cách chấp nhận yêu cầu bồi thường những chi phí mà người có quyền đã thực hiện "vô ích và uổng phí" do việc không thực hiện đúng hợp đồng như chi phí lưu kho bãi, chi phí thuê phương tiện vận chuyển 71 Ngoài ra, trường hợp người bán hàng không được người mua trả tiền, người bán có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng mua bán và lấy lại hàng đã giao Nhưng trong lúc đó, giá trị hàng hóa đã giảm, người bán có quyền yêu cầu Tòa án buộc người mua phải trả thêm một số tiền để bù đắp chênh lệch giữa giá trị hàng hóa lúc bán và lúc nhận lại hàng
70 Nhà pháp luật Việt - Pháp, chú thích số 35, tr.539
71 Nhà pháp luật Việt - Pháp, chú thích số 35, tr.537
Kết luận: Về nguyên tắc, biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng phải được áp dụng trước những biện pháp khác, trừ những ngoại lệ đã được phân tích Sau khi hối thúc người có nghĩa vụ thi hành đúng hợp đồng, người có quyền mới được yêu cầu Tòa án áp dụng hai biện pháp bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng Hai biện pháp này tuy mang lại hai lợi ích ngược nhau nhưng vẫn có thể được đồng thời áp dụng nhằm bảo vệ hiệu quả lợi ích của người bị vi phạm
CHƯƠNG 2 SO SÁNH, ĐÁNH GIÁ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆC HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Kiến nghị về kỹ thuật lập pháp
2.1.1 Lựa chọn thuật ngữ "biện pháp xử lý" thay cho thuật ngữ "trách nhiệm dân sự" và
Hiện nay, trong mỗi văn bản pháp lý của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực hợp đồng sử dụng những thuật ngữ khác nhau để diễn đạt nội dung đang được nghiên cứu Cụ thể, Bộ luật Dân sự 2005 sử dụng thuật ngữ “trách nhiệm dân sự”, ví dụ Điều 303 có tiêu đề
“Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật" Trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt mà được hiểu là một biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra 72 Vì vậy, thuật ngữ này không thể hiện được những trường hợp như hoãn thực hiện hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng khi người có nghĩa vụ không thực hiện đúng cam kết của mình
Trong khi đó, Luật thương mại 2005 sử dụng thuật ngữ “chế tài” (Chương VII có tiêu đề
"Chế tài trong thương mại"), thuật ngữ này được định nghĩa là hậu quả pháp lý bất lợi ngoài mong muốn được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm trong quan hệ dân sự khi họ thực hiện không đúng nghĩa vụ 73 Thuật ngữ này có hai khiếm khuyết: thứ nhất, thuật ngữ "chế tài" không phù hợp trong trường hợp "buộc thực hiện đúng hợp đồng", biện pháp này chỉ buộc người có nghĩa vụ thực hiện những gì đã cam kết chứ không mang lại một điều gì bất lợi cho người vi phạm Thứ hai, chế tài trong luật thương mại bị hạn chế trong các biện pháp được quy định tại Điều 292 LTM 2005 như buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng Quy định này không đề cập đến giảm giá
72 http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/trach-nhiem-dan-su-so-sanh-va-phe-phan (truy cập ngày 28/05/2012)
73 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, chú thích số 7, tr.131
45 hoặc cầm giữ tài sản, cũng được xem là cách thức xử lý việc không thi hành đúng hợp đồng
Khi thuật ngữ "trách nhiệm dân sự" và "chế tài" đều không bao quát đầy đủ cách thức xử lý người có nghĩa vụ không thi hành đúng hợp đồng, vấn đề đặt ra là phải xác định một thuật ngữ khác có thể diễn đạt chính xác nội dung nghiên cứu Đề tài lựa chọn thuật ngữ
"biện pháp xử lý bởi những lý do sau:
Trong bản dịch tiếng Anh Luật thương mại, chương VII có tiêu đề "Commercial remedies", mà thuật ngữ "remedy" được các luật gia trên thế giới định nghĩa "the means of enforcing a right or preventing or redressing a wrong; legal or equitable relief" 74 (phương tiện thi hành quyền lợi, ngăn ngừa hoặc khắc phục một sai sót)
Hơn nữa, khi tham khảo các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng như Bộ nguyên tắc Unidroit, Điều 7.2.5 sử dụng tiêu đề "thay đổi biện pháp", chi tiết hơn khoản 1 quy định
"nếu không có thời gian ấn định trong một thời hạn hợp lý, có thể viện dẫn các biện pháp xử lý khác" 75 (mục 3 - hủy bỏ hợp đồng và mục 4 - bồi thường thiệt hại) Tương tự trong Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980 cũng như Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng đều không sử dụng thuật ngữ chế tài, đó là xu hướng chung trên thế giới hiện nay 76
Ngoài ra, TS Đỗ Văn Đại cũng sử dụng thuật ngữ "biện pháp" (được hiểu là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể) trong đề tài nghiên cứu khoa học của mình Tuy nhiên, cần lưu ý rằng "biện pháp" được sử dụng trong đề tài không dẫn đến thuật ngữ "trách nhiệm dân sự" và "chế tài" không còn giá trị trong quy định của pháp luật
Như vậy, đề tài nhận thấy "biện pháp xử lý" là một thuật ngữ mang tính bao quát và diễn đạt chính xác nội dung nghiên cứu, được nhiều luật gia ủng hộ Cho nên khi có cơ hội, nhà làm luật nên xem xét việc sử dụng thuật ngữ này nhằm quy định cách thức giải quyết việc không thực hiện đúng hợp đồng
74 Bryan.A Garner, Black's Law dictionary - Abridged 7th edition, West Publishing Co (2000), tr.1038
75 Nhà Pháp luật Việt - Pháp, chú thích số 8, tr.343
76 TS.Đỗ Văn Đại, chú thích số 6, tr.42
2.1.2 Thống nhất văn bản pháp luật quy định các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng
Hiện nay, các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng do nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh Đầu tiên là được Bộ luật dân sự quy định trong chương Những quy định chung về hợp đồng và rải rác trong từng loại hợp đồng cụ thể
Ngoài BLDS, Luật thương mại 2005 quy định một hệ thống chế tài riêng biệt áp dụng cho hợp đồng thương mại Các biện pháp xử lý trong LTM đều có trong BLDS nhưng với tên gọi khác nhau ("chấm dứt" trong BLDS và "đình chỉ" trong LTM đều có bản chất giống nhau) hoặc tên gọi giống nhau nhưng nội dung và điều kiện áp dụng có sự khác biệt (quy định về hủy bỏ hợp đồng, phạt vi phạm)
Do tồn tại song song hai loại quy định, thực tiễn xét xử đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, điển hình Tòa án đã áp dụng quy định của hai văn bản để giải quyết một vụ việc Cách xử lý này đương nhiên không được Tòa án cấp trên chấp nhận, thông qua Quyết định số 17/2009/DS-GĐT ngày 29-06-2009 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án vì "việc Tòa án cấp sơ thẩm vừa áp dụng Điều 306 LTM 2005, vừa áp dụng Điều 305 BLDS 2005 để giải quyết là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật" 77
Một số câu hỏi đã được đặt ra trong Hội thảo "Không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam": liệu có cần thiết duy trì những quy định riêng biệt hay chỉ cần các quy định của BLDS 2005 hoặc tại sao không đưa vấn đề thực hiện hợp đồng và chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong thương mại về BLDS 2005 78
Theo Điều 1 BLDS 2005 "Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách cư xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)" Khi xây dựng văn bản này, nhà làm luật quan niệm BLDS sẽ là "luật chung", áp dụng cho những quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
77 TS.Đỗ Văn Đại, chú thích số 6, tr.302
78 Lê Mai Hương, Bàn về chế tài cho các vi phạm hợp đồng trong thương mại, Hội thảo "Không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam" (2010), tr.3
So sánh, kiến nghị về một số biện pháp biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng cụ thể
này đối với những loại hợp đồng khác, như vậy người có quyền không được tự do lựa chọn biện pháp xử lý 83
Như vậy, ngoài việc thống nhất và quy định các biện pháp xử lý áp dụng chung cho hợp đồng trong BLDS, nhà lập pháp cần phải hệ thống hóa đầy đủ các biện pháp xử lý thành một mục nằm trong chương Những quy định chung về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; sắp xếp chúng theo thứ tự ưu tiên biện pháp tạo điều kiện cho hợp đồng được thực hiện đầy đủ và cuối cùng là bãi bỏ những quy định lặp lại các biện pháp xử lý chung, chỉ duy trì và bổ sung những biện pháp đặc thù trong từng hợp đồng cụ thể
2.2 So sánh, kiến nghị về một số biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng cụ thể
Sau khi đã so sánh những điểm khái quát về tư duy và kỹ thuật lập pháp, đề tài sẽ đi vào so sánh, đánh giá từng biện pháp xử lý cụ thể nhưng chỉ tập trung vào một số điểm quan trọng nhằm đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định này
2.2.1 Biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
2.2.1.1 Bổ sung khái niệm về "buộc thực hiện hợp đồng"
Tương tự BLDS Pháp, BLDS 2005 không đưa ra một khái niệm cụ thể về biện pháp
"buộc thực hiện đúng hợp đồng" Văn bản pháp luật này chỉ đề cập đến biện pháp trong một số nghĩa vụ, chưa có tính khái quát cao như khoản 1 Điều 303 quy định “Khi người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó”; khoản 1 Điều 304 quy định “người có quyền có thể yêu cầu người có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện công việc” hoặc "người có quyền có thể yêu cầu người có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện” đối với nghĩa vụ không được làm một công việc
Tuy nhiên khi nghiên cứu BLDS một cách toàn diện, trong Chương II – Những nguyên tắc cơ bản, Điều 9 quy định “Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể
83 Lê Mai Hương, chú thích số 78, tr.3
50 đó có quyền buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự” (điểm d, khoản 2) Biện pháp trên được định nghĩa là “tổng hợp các biện pháp, cách thức do chủ thể có quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền áp dụng nhằm tác động vào người có nghĩa vụ, cưỡng chế họ phải thực hiện đúng nghĩa vụ mà họ đã cam kết” 84 Từ đó có thể suy luận Điều 303, 304 chỉ là những quy định chi tiết hóa nội dung trên trong những trường hợp cụ thể Điều khoản trên mang tính khái quát có thể áp dụng trong nhiều hoàn cảnh nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên giao kết Mặc dù vậy, trong thực tiễn xét xử, Tòa án rất dè dặt trong việc vận dụng các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc được thể hiện trong Điều 9 85 Để tìm ra giải pháp phù hợp, đề tài đã tham khảo quy định trong LTM 2005 và nhận thấy Điều 297 đã đưa ra một khái niệm đáng được tham khảo: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh”
Như đã kiến nghị trong phần trên, bãi bỏ chương VII trong Luật thương mại nhưng không có nghĩa phủ nhận những điểm tiến bộ trong văn bản pháp luật này Khái niệm này tương đối hoàn thiện và mang tính bao quát cho tất cả trường hợp vi phạm nên có thể đưa quy định này vào điều khoản về biện pháp "buộc thực hiện đúng hợp đồng" trong BLDS khi sửa đổi, bổ sung
2.2.1.2 Sự cần thiết của quy định về "Thư hối thúc"
Cách thức áp dụng biện pháp là một điểm quan trọng cần được nghiên cứu vì quy định này ảnh hưởng đến hiệu quả mà người có quyền mong đợi trên thực tế Trong Dân luật Pháp, “Thư hối thúc” được quy định tại Điều 85 Luật số 91-650 ngày 9-7-1991, người có quyền gửi đến người có nghĩa vụ "một bức thư có nội dung thúc giục thực hiện nghĩa vụ" Do đó, biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng được các bên trong hợp đồng chủ động tiến hành mà không cần thông qua thủ tục tố tụng
84 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, chú thích số 7, trang 88
85 Đỗ Văn Đại - Đỗ Văn Hữu, chú thích số 1, tr.8
Trong khi đó tại Việt Nam, luật chỉ đề cập "bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng" (khoản 1 Điều 297 LTM 2005) mà không nói rõ việc yêu cầu phải thông qua thủ tục tố tụng tại Tòa án hay không Tuy nhiên, “Thư hối thúc" là một cách thức phổ biến mà các bên trong hợp đồng thường xuyên sử dụng trên thực tế nhằm yêu cầu đối phương thi hành nghiêm chỉnh hợp đồng, chẳng hạn Thư hối thúc ngày 26/04/2010 của Công ty A yêu cầu Công ty X:
Kính gửi: Ông NGUYỄN VĂN X
Công ty Cổ phần X (“Công ty X”)
V/v Thực hiện Hợp đồng kinh tế Số 1201-01/HĐKT ngày 12/01/2010
Chúng tôi, Công ty Cổ phần A (“Công ty A”) trân trọng thông báo cho Ông được rõ:
Ngày 12/01/2010, Công ty A và Công ty X ký Hợp đồng kinh tế số 1201-01/HĐKT (“Hợp đồng”) Theo đó, Công ty X cung cấp và thi công một số hạng mục điện tại nhà máy của Công ty A tại Cát Lái, Quận 2, TP.Hồ Chí Minh Tổng giá trị của Hợp đồng là 397.421.852 đồng Thời gian thi công dự kiến là 42 ngày kể từ ngày Công ty X nhận được số tiền tạm ứng lần đầu và toàn bộ mặt bằng phục vụ công tác thi công
Tuy nhiên, Công ty X đã không thực hiện đúng theo Hợp đồng là quá hạn thời gian hoàn thành công trình Ngày 25/05/2010, Công ty A có gửi Công văn số 2050/CV-A yêu cầu Công ty X kéo cáp và đề cập về việc Công ty X phải chịu phạt 5% Tổng giá trị Hợp đồng Mặc dù vậy, cho đến nay, Công ty X vẫn chưa triển khai công việc kéo cáp như đã cam kết Việc này đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ chung của nhà máy cũng như hoạt động kinh doanh của Công ty A
Bằng thư này, chúng tôi yêu cầu Công ty X phải triển khai công việc và phải hoàn thành công việc còn lại trong thời hạn là 20 ngày kể từ ngày đề trên thư này Sau thời hạn này,
52 nếu Công ty X vẫn chưa hoàn thành công trình, chúng tôi buộc lòng yêu cầu cơ quan tố tụng giải quyết Nếu việc tranh chấp xảy ra tại các cơ quan tố tụng, mọi thiệt hại Công ty
"Thư hối thúc" là một cách thức buộc thực hiện hợp đồng mà người có quyền có thể chủ động tiến hành khi thỏa những điều kiện luật định Khi hối thúc, người có quyền đã gia hạn một khoảng thời gian để người có nghĩa vụ thi hành hợp đồng, nếu thời hạn này qua đi mà yêu cầu chưa được đáp ứng thì người có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc hủy bỏ hợp đồng "Thư hối thúc" giúp người có quyền tiết kiệm được thời gian, công sức cũng như tiền bạc hơn so với việc khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người có nghĩa vụ thi hành hợp đồng
Do những lợi ích mà "Thư hối thúc" mang lại, pháp luật Việt Nam nên bổ sung quy định như sau: "Người có quyền được yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng bằng văn bản, qua một thời gian hợp lý mà yêu cầu không được đáp ứng, người có quyền có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án áp dụng những biện pháp xử lý khác nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình"
2.2.1.3 Phân biệt nghĩa vụ thành "nghĩa vụ theo kết quả" và "nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất"
Dân luật Pháp từ lâu đã phân biệt nghĩa vụ thành hai loại là nghĩa vụ theo kết quả và nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất Sự phân biệt này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dẫn chứng người có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Đối với nghĩa vụ theo kết quả, nếu người có quyền không nhận được lợi ích mong đợi thì đương nhiên có quyền buộc người có nghĩa vụ thi hành nghĩa vụ, ngược lại, đối với nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất, người có quyền phải chứng minh rằng người có
86 Văn bản này được cung cấp bởi Công ty Luật hợp danh Phương, Thuần & Bích (tên của các đương sự đã được thay đổi)
53 nghĩa vụ có lỗi Quan điểm này được các luật gia trên thế giới chấp nhận và được quy định trong Bộ nguyên tắc Unidroit - Điều 5.1.4 87