1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tiểu luận cao học, Chính trị học so sánh, SO SÁNH TRIẾT HỌC BÀ LA MÔN (TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ) & ĐẠO LÝ PHẬT GIÁO

19 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 83,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH TRIẾT HỌC BÀ LA MÔN (TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ) & ĐẠO LÝ PHẬT GIÁO . . .MUC LUC . Lý do chọn đề tài và phạm vi nghiên cứu .Nội dung .I. Học thuyết Bà la Môn .1. Tư tưởng luận .1.1 Thực tại tối cao .1.2 Tự ngã và luân hồi .2. Giải thoát luận .2.1 Tư tưởng giải thoát trong triết học .2.2 Biện pháp và các trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát . 2.2.1 Biện pháp giải thoát . 2.2.2 Trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát .II. Đạo lý Phật giáo .1. Tư tưởng luận .1.1 Thực tại tối cao .1.1.1 Quan điểm của Phật giáo về thần linh .1.1.2 Quan điểm Phật giáo về nguồn gốc của con người và vũ tru .1.2 Tự ngã và luân hồi .2. Giải thoát luận .2.1 Tư tưởng giải thoát của Phật giáo .2.2 Biện pháp và các trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát . 2.2.1 Biện pháp giải thoát . 2.2.2 Trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát .III. Tương đồng và dị biệt .1. Điểm tương đồng .2. Điểm dị biệt .2.1 Về thực tại tối cao .2.2 Về tự ngã và luân hồi .2.3 Về phương pháp tu tập để giải thoát .2.3.1 Con đường tu tập .2.3.2 Các trạng thái tâm linh đưa đến giải thoát .3. Ảnh hưởng của học thuyết Bà la Môn trên Phật giáo .4.Ảnh hưởng của Phật giáo trên Bà la môn giáo . .IV. Kết luận .   MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài và phạm vi nghiên cứu Có thể thấy rằng Đức Phật, giáo chủ khai sáng Đạo Phật, là một người được giáo dục trong môi trường của Veda. Từ khi sinh ra, lớn lên và thậm chí cả khi đi xuất gia tu hành, ngài cũng trang bị cho bản thân bằng những kinh nghiệm đã được hấp thu từ nền giáo dục của truyền thống Veda. Sự tham cầu học và đạt được những kết quả tối cao trong phương pháp của hai đạo sĩ A-la-la và Uất-đầu-ca, sự tìm cầu giải thoát bằng đường hướng khổ hạnh , đã cho thấy rõ điều đó. Hơn nữa, cùng bắt nguồn trên mảnh đất của triết lý, lẽ tất nhiên Phật giáo và Bà-la-môn giáo không thể nào không có những mối quan hệ nhất định được, .Do vậy, để làm rõ mối tương quan này thì cần thiết so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của hai khối tư tưởng triết lý và đạo học đã được coi là chủ yếu nhất của Ấn Độ. .Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận ngắn không phải là một bài khảo cứu chuyên ngành – nên nó chỉ được giới hạn trong những điểm cơ bản nhất mà bằng phương pháp phân tích so sánh người viết đã sử dụng để đánh giá về sự tương đồng và dị biệt của hai trào lưu tư tưởng đã có quan hệ sâu đậm lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Việc phân tích mở rộng nó sẽ được đặt trong các bài luận văn mang tính chuyên sâu hơn. . .

Trang 1

SO SÁNH TRIẾT HỌC BÀ LA MÔN (TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ) & ĐẠO LÝ

PHẬT GIÁO

.MUC LUC

Lý do chọn đề tài và phạm vi nghiên cứu

.Nội dung

.I Học thuyết Bà la Môn

.1 Tư tưởng luận

.1.1 Thực tại tối cao

.1.2 Tự ngã và luân hồi

.2 Giải thoát luận

.2.1 Tư tưởng giải thoát trong triết học

.2.2 Biện pháp và các trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát

2.2.1 Biện pháp giải thoát

2.2.2 Trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát

.II Đạo lý Phật giáo

.1 Tư tưởng luận

.1.1 Thực tại tối cao

.1.1.1 Quan điểm của Phật giáo về thần linh

.1.1.2 Quan điểm Phật giáo về nguồn gốc của con người và vũ tru

.1.2 Tự ngã và luân hồi

.2 Giải thoát luận

.2.1 Tư tưởng giải thoát của Phật giáo

.2.2 Biện pháp và các trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát

2.2.1 Biện pháp giải thoát

2.2.2 Trạng thái tâm linh trong quá trình giải thoát

Trang 2

.III Tương đồng và dị biệt

.1 Điểm tương đồng

.2 Điểm dị biệt

.2.1 Về thực tại tối cao

.2.2 Về tự ngã và luân hồi

.2.3 Về phương pháp tu tập để giải thoát

.2.3.1 Con đường tu tập

.2.3.2 Các trạng thái tâm linh đưa đến giải thoát

.3 Ảnh hưởng của học thuyết Bà la Môn trên Phật giáo 4.Ảnh hưởng của Phật giáo trên Bà la môn giáo

.IV Kết luận

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và phạm vi nghiên cứu

Có thể thấy rằng Đức Phật, giáo chủ khai sáng Đạo Phật, là một người được giáo dục trong môi trường của Veda Từ khi sinh ra, lớn lên và thậm chí cả khi đi xuất gia tu hành, ngài cũng trang bị cho bản thân bằng những kinh nghiệm đã được hấp thu từ nền giáo dục của truyền thống Veda Sự tham cầu học và đạt được những kết quả tối cao trong phương pháp của hai đạo sĩ A-la-la và Uất-đầu-ca, sự tìm cầu giải thoát bằng đường hướng khổ hạnh , đã cho thấy rõ điều đó Hơn nữa, cùng bắt nguồn trên mảnh đất của triết lý, lẽ tất nhiên Phật giáo và Bà-la-môn giáo không thể nào không có những mối quan hệ nhất định được,

.Do vậy, để làm rõ mối tương quan này thì cần thiết so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của hai khối tư tưởng triết lý và đạo học đã được coi là chủ yếu nhất của Ấn Độ

.Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận ngắn không phải là một bài khảo cứu chuyên ngành – nên nó chỉ được giới hạn trong những điểm cơ bản nhất mà bằng phương pháp phân tích so sánh người viết đã sử dụng để đánh giá về sự tương đồng và dị biệt của hai trào lưu tư tưởng đã có quan hệ sâu đậm lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử Việc phân tích mở rộng nó sẽ được đặt trong các bài luận văn mang tính chuyên sâu hơn

Trang 4

Nội dung

.

.I Học thuyết Bà la Môn

.Bà-la-môn (zh 婆羅門, sa., pi brāhmaṇa)

.Là danh từ chỉ một đẳng cấp, một hạng người tại Ấn Độ Thuộc về đẳng cấp Bà-la-môn là các tu sĩ, triết gia, học giả và các vị lĩnh đạo tôn giáo Dân chúng Ấn

Độ rất tôn trọng đẳng cấp này

.Đạo Bà La-Môn (Brahmanism)

.Cũng gọi Ấn giáo hay Ấn Độ giáo (Hinduism), là đạo bản địa của người Ấn (Hindus), hình thành ở Ấn Độ khoảng năm 1.500 trước Công nguyên hoặc sớm hơn nữa, tức là có trước Phật giáo ít lắm cũng khoảng 10 thế kỷ Không xác định ai

là giáo chủ hay người mở đạo Bậc chân sư đắc đạo hướng dẫn tâm linh cho tín đồ được gọi là guru [1]

.Nói đến học thuyết, triết lý đặc biệt là triết lý Đông phương thì cần phải tìm hiểu quan điểm của nó về thực tại tối cao, về tự ngã và tư tưởng giải thoát của nó

.1 Tư tưởng luận

.1.1 Thực tại tối cao:

.Trong một xã hội còn thô sơ, thì niềm tin tưởng Thần quyền rất mãnh liệt, những bộ lạc Ấn thời cổ do nhận thức còn đơn giản, lại phải đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn, họ luôn có ý nghĩ nương nhờ vào thần linh và để thỏa mãn các yêu cầu của thần linh thì họ đã bày ra các phương pháp cúng tế, dâng các vật sống lên cho các vị thần linh Các vị thần của họ bao gồm rất nhiều như thần gió, thần lửa, thần sấm, thần mưa, thần Ruda (hung thần)…Có thể thấy rõ điều này trong bộ kinh Veda, bộ sách có mặt đầu tiên trong văn hóa và tư tưởng Ấn

Trang 5

Độ, nội dung của nó gồm nhiều bài thơ mang tính thần khải, như bài tế Vata ( thần gió)

.“Travelling on paths of air’s mid region no single day doth he take rest or slumber

.“Holy and earliest born, Friend of the waters, where did he spring and from what region came he,

.“Germ of the world, the Deities vital spirit, this god moves ever as his will inclines hill

.“His voice is heard, his shape is ever viewless

.“Let us adore this wind with our oblation (Rig Veda X.160)

.“Phi hành khắp không gian, chẳng giờ phút tạm an, thánh linh từ vô thủy, người bạn của sơn thủy, nơi đâu được xuất hiện, người đều đủ phương tiện Thần linh rất vĩ đại, tự do bay không ngại, tiếng vang khắp không gian, hình bong không thấy dạng, thành kính thần Veta, cúng dâng đọc thánh ca.[2]

.Nền tín ngưỡng được bắt đầu là nền tín ngưỡng đa thần giáo (Polytheism) Lịch sử Ấn Độ đã cho thấy, bộ lạc đầu tiên Aryan ngày càng phát triển, họ bắt đầu xâm chiếm các bộ lạc khác, mở rộng đất đai và từ đó xã hội cũng được thay đổi về tổ chức cũng như chính trị và tư tưởng Tù trưởng bộ lạc được bầu lên,

và các nhóm bộ lạc cũng liên kết với nhau để bầu lên một tiểu vương để giữ dây liên lạc trong hệ thống bô lạc và bảo vệ an ninh chung

.Tổ chức xã hội có liên quan đến tín ngưỡng dân tộc, từ tư tưởng đa thần giáo họ đã quan niện nhất thần quyền giống như khái niệm của một tiểu vương cai trị nhiều bộ lạc và có các quan chuyên ngành phụ giúp, vị thần tối cao đó là Phạm thiên (Brahman) Từ đó, Phạm thiên được phổ biến trong dân chúng và trở thành một tập tục truyền thống ở Ấn Độ, Phạm Thiên vị chúa tể đầu tiên có quyền năng sáng tạo Như vậy,nền tín ngưỡng đa thần giáo trở thành nền tín ngưỡng nhất thần giáo

Trang 6

.Tuy nhiên, tư tưởng tín ngưỡng của con người không phải đứng im một chỗ, nó cũng được phát triển dựa trên sự phát triển của đời sống xã hội và tôn giáo, con người Ấn Độ thời đó bắt đầu suy tư từ những câu hỏi triết lý: Ai tạo ra vũ trụ, con người, con người từ đâu mà tới và chết sẽ đi về đâu?…

.Để đáp ứng yêu cầu tư tưởng triết lý đó, Triết học Veda cũng được khai triển và cho rằng Brahman là căn bản của vũ trụ, tất cả sự vật đều là hình thái của Brahman Brahman và Atman (Thần ngã) chu biến khắp pháp giới

.Tư tưởng xuyên suốt của Bà La Môn giáo là học thuyết Phạm thiên “Phạm ngã đồng nhất”, phạm chuyển biến sinh ra vạn vật Upanishad cho rằng: “vào lúc

sơ khai có một vị Phạm thiên (Bràhman) đột nhiên phát nóng và nổ tung ra thành

tứ đại; tứ đại kết hợp sinh ra vạn pháp” Như vậy Upanishad quan niệm vạn pháp

do Phạm chuyển biến sinh ra nên mỗi cá thể đều có mặt của Phạm thiên

.1.2 Tự ngã (Atman) và luân hồi

.Tự ngã Atman là một thực thể nội tại trong mỗi cá nhân Hơi thở là nguồn sống vật chất thì Atman là hơi thở siêu nhiên, là nguồn sống thiêng liêng Atman là thực thể làm cho con nguời vượt lên trên vạn vật Có thể nói Atman là thành phần của Brahman trong con người Brahman là cái ngã vũ trụ đại đồng, còn Atman là cái ngã cá nhân Braman chỉ có một, Atman là số nhiều, nhưng cái nhiều ấy chỉ là giả tưởng vì bản chất cả hai chỉ là một Học thuyết Bà la môn cho rằng khi thân xác chết thì Tự ngã (Atman) lại trở về hợp nhất với Đại ngã (Brahman)

.Và khi thuyết minh sự tương tục của linh hồn sau khi chết, bảo rằng tự ngã như viên đạn, nhờ hoả lực của nghiệp đưa đến một nơi nhất định, rồi lại từ nơi ấy nhờ hoả lực mới đưa đến một nơi khác Như thế căn cứ vào sự bất diệt của linh hồn

mà nhận có luân hồi

.2 Giải thoát luận

.2.1 Tư tưởng giải thoát trong triết học

Trang 7

.Cứu cánh của mọi triết học, tôn giáo chính là vấn đề giải thoát Brihad Aranyaka Upanishad nói: “Bậc chân tri sau khi chết sẽ vượt qua không gian lên tới cõi hạnh phúc vĩnh hằng”

.Tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ tuy đa dạng muôn hình muôn vẻ nhưng đều đưa đến một mục tiêu duy nhất là “tìm ra chỗ quy hướng của kiếp người, tìm lấy một phương châm thực tiễn để quyết định cho lẽ sống”

.Hay nói một cách khác, triết học Ấn Độ luôn tìm cách vén mở chính thế giới nội tâm của con người, giúp con người giải thoát trọn vẹn về mặt tâm linh thoát khỏi cảnh đau khổ của kiếp người Và cũng chính điều này nên triết học Ấn

Độ luôn gắn liền với tôn giáo, từ thời Áo nghĩa thư về sau, tất cả các trường phái triết học và tôn giáo Ấn Độ không chỉ lấy tư tưởng giải thoát làm mục đích tối cao cho tư tưởng triết học của mình mà còn tận tâm tận lực bằng mọi con đường cách thức và phương pháp khác nhau để cố gắng đưa con người ta đạt tới sự giải thoát [3]

.2.2 Biện pháp và các trạng thái tâm linh giải thoát

.2.2.1 Biện pháp giải thoát

.Và làm thế nào để giải thoát, thì phái Vaisesika cho rằng : muốn giải thoát luân hồi phải tu tập khổ hạnh để đạt đến cảnh giới thuần tuý của Àtman Upanishad cũng như phái Yoga thì lại dùng phương pháp thiền định để thể nhập Atman (tiểu ngã) vào Bràhman (đại ngã) Tóm lại Có 3 con đường chính để đạt đến giải thoát:

.- Con đường tri thức đòi hỏi tu hành khổ hạnh, chuyên tâm rèn luyện, sẵn lòng thoát ly thế giới trần tục

.- Con đường hành động theo nguyên tắc tâm linh vị tha, vì lợi ích chung, vì cái thiện, vì đại ngã

.- Con đường cuối cùng, rộng rãi nhất, dành cho mọi người đó là con đường sùng tín, hết lòng tin yêu, tôn kính Đấng tối cao – Atman có thể hoà nhập với Braman trong tình yêu và bằng tình yêu cao cả thiêng liêng

Trang 8

.Nhìn chung, tuy phương pháp tu của Bà La Môn có khác nhau nhưng mục đích hướng đến chỉ là một, đều mong muốn thể nhập Atman vào Bràhman, đó là cảnh giới vĩnh hằng của Bràhman

.2.2.2 Trạng thái tâm linh của quá trình giải thoát

.Trong Bà-la-môn giáo, Chàndogya Upanisads đã phải dùng đến câu chuyện giữa Prajapati và Indra Trong câu chuyện này đề cập đến 4 giai đoạn thể nghiệm Atman của Indra Bốn giai đoạn đó là:

.- Thức(Vishva) - Mộng(Taijasa)

.- Ngủ say không mộng(Pràjna) - Ý thức tâm linh(Turiya)

.Với sự hoàn tất cả bốn giai đoạn trên, người Bà-la-môn có thể được đồng nhất Atman với Brahman đồng thời tận hưởng hạnh phúc của sự vĩnh hằng giải thoát mọi đau khổ

.II ĐẠO LÝ PHẬT GIÁO

.

.1 Tư tưởng luận

1.1 Thực tại tối cao:

.1.1.1 Quan niệm Phật giáo về các vị thần linh

.Đạo Phật cũng công nhận có các vị thần như chư thiên ở cõi trời, các vị Long thần hộ pháp phát nguyện hộ trì chánh pháp, hay cũng có những người do đời trước có công lớn với đất nước, sau khi qua đời được làm thần… Đạo Phật đặt các vị thần linh bình đẳng với con người trên tương quan nhân quả Tuy các vị thần

ấy có nhiều phước báo, sống sung sướng ở cõi trời, nhưng đến một lúc nào đó hết phước, theo nghiệp tái sanh trở lại trong sáu đường Đạo Phật khẳng định không có thần linh vạn năng bắt buộc tín đồ phải sợ hải, cúi đầu vâng lịnh Do đó Phật tử không quỳ lạy phục vụ một oai lực siêu nhiên nào, chẳng những cầu nguyện van xin là vô ích, mà còn là thái độ nô lệ tinh thần Trong Phật Giáo, người Phật tử lễ

Trang 9

bái Đức Phật chỉ là để bày tỏ lòng tri ân, ngưỡng mộ.Trong nghi lễ, tụng kinh chỉ

là phương tiện để lắng tâm trở lại, tụng đọc lại lời dạy của Đức Phật rồi theo đó tự mình tu tập, tự mình giải thoát phiền não khổ đau, chứ Đức Phật không ban ơn, giáng hoạ một ai Đức Phật nhấn mạnh: “Người tôn kính Như Lai nhất là người thực hành theo giáo lý của Như Lai”

.1.1.2 Quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc của con người và vũ trụ

.Theo quan niệm của Đạo Phật, mọi vật tồn tại trong thế gian này, từ những vật lớn như sơn hà đại địa đến những vật nhỏ như hạt cát đều do duyên sinh rồi do duyên diệt Đức Phật dạy: “Duyên sanh là thực tánh của vạn pháp, sự thật này không thay đổi dù Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện” Duyên khởi nói lên bản chất của các pháp là “duyên sanh tánh” hay “ vô ngã tánh” Do vậy, Phật giáo

đã không cho rằng Phạm thiên là đấng sáng tạo vũ trụ vạn vật

.1.2 Tự ngã và luân hồi

.Về tự ngã, Đạo Phật cho rằng con người được tổng hợp từ năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức Sắc thuộc phần vật lý; thọ, tưởng, hành, thức thuộc phần tinh thần Con người ngũ uẩn do Mười Hai Nhân Duyên sinh khởi, Mười hai Nhân duyên diệt thì con người ngũ uẩn diệt “Diệt” không phải là mất hẳn mà tuỳ theo nghiệp tạo tác trong đời hiện tại dẫn đến hình thành đời sống trong vị lai

.2 Giải thoát luận

.

.2.1 Tư tưởng giải thoát của Phật giáo

.Theo Đạo Phật, giải thoát là một trạng thái tâm linh, trong đó vắng bóng mọi sự ràng buộc của dục vọng, tâm hoàn toàn thanh tịnh, an lạc, bất sinh bất diệt

và tự do tự tại

Trang 10

."Lập trường chủ yếu của giải thoát Phật giáo là vượt ra ngoài cõi Dục (Dục giới) Phật giáo không thừa nhận thế-giới quan Thần quyền, lại không thừa nhận cái "Ngã" cá nhân bất biến, mà chủ trương hết thảy đều do nhân duyên hòa hợp mà hiển hiện, và sở cứ của nhân duyên là ý chí của chúng ta Do đó, nếu muốn được giải thoát, con người phải cắt đứt mọi nhân duyên, nghĩa là diệt hết dục vọng của ý chí Theo các học phái khác, giải thoát tức là đưa cái tiểu ngã của cá nhân trở về với Đại ngã của một đấng sáng tạo ra vũ trụ Nhưng Phật giáo vì không thừa nhận Thần quyền, nên gọi giải thoát là Niết Bàn Mà Niết-Bàn theo nghĩa đen là "dập tắt", nghĩa là dập tắt hết dục vọng tồn tại và lấy đó làm lý tưởng cứu kính Các Kinh điển Đại Thừa, nhất là Kinh Bát Nhã, đặc biệt thuyết minh về điểm này và mệnh danh là "Không", "Không Không" rốt ráo là "Không", đó là chân tướng của

vũ trụ, và khi ta đã đạt được chân tướng ấy tức là đạt đến giải thoát , đến Niết Bàn [3]

.Giải thoát ở đây là giải thoát khỏi ba độc tham, sân, si cố hữu của con người Hay nói cách khác là giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của vô minh, ái, thủ, thấy được thực tướng các pháp, đạt đến trạng thái tịch tĩnh Niết Bàn không sanh, không diệt, không đến, không đi

.2.2 Biện pháp và các trạng thái tâm linh giải thoát trong Đạo Phật

.

.2.2.1 Biện pháp giải thoát

.Để được giải thoát mọi đau khổ của kiếp người, Đạo Phật chủ trương tu tập theo con đường Trung Đạo, con đường này xa lìa hai cực đoan: khổ hạnh ép xác và hưởng thụ Con đường Trung Đạo là con đường Bát Chánh Đạo, bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định Đây là con đường lấy chánh kiến làm nền tảng tu tập, là con

Trang 11

đường duy nhất giải thoát hết thảy các lậu hoặc Mục tiêu cứu cánh của Phật Giáo không phải là sự tuyệt diệt, bởi vì không có cái chi thường còn để tuyệt diệt ; cũng không phải sự trường tồn vĩnh cửu bởi không có một linh hồn trường cửu để vĩnh viễn hoá Mục tiêu cứu cánh của Phật Giáo có thể giải thoát ngay trong chính kiếp sống này chứ không phải tìm đến cảnh giới vĩnh hằng nào sau khi chết

.2.2.2 Trạng thái tâm linh của quá trình giải thoát

.Trong Phật giáo, sự giải thoát tuy là rất khó nói nhưng không phải mang màu sắc của huyền thoại như trong Veda Nó đã được đức Phật và chư vị Đại đệ tử Phật chứng ngộ một cách rõ ràng Trong kinh Trung Bộ, đức Phật đã mô tả lại những gì Ngài đã thành tựu được sau 49 ngày nhập định quán sát Nó có thể được tóm tắt vào những giai đoạn:

.- Giai đoạn Sơ thiền: diệt trừ dục và các bất thiện pháp, đi kèm với tầm và

tứ, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh

.- Giai đoạn Nhị thiền: diệt tầm và tứ, phát triển nội tĩnh và nhất tâm, một trạng thái hỷ lạc do định sanh

.- Giai đoạn Tam thiền: diệt hỷ, chánh niệm tỉnh giác với một lạc thọ về thân

.- Giai đoạn Tứ thiền: diệt trừ các cảm thọ lạc và khổ, ly hỷ và ưu, phát triển

xả và niệm thanh tịnh

.Bốn giai đoạn trên là sắc giới thiền, tiếp đến là là bốn trạng thái của thiền về các đối tượng vô sắc giới

.- Giai đoạn ngũ thiền (hư không vô biên xứ) loại bỏ sắc tướng và có 2 pháp xuất hiện tưởng về hư không là vô biên và nhất tâm

.- Giai đoạn lục thiền (Thức vô biên xứ) tưởng về hư không vô biên được loại bỏ và 2 pháp có mặt: tưởng về thức vô biên xứ, nhất tâm

.- Giai đoạn thất thiền (vô sở hữu xứ thiền) tưởng về vô biên được từ bỏ và 2 pháp có mặt: tưởng về vô sở hữu xứ và nhất tâm

Ngày đăng: 07/06/2020, 01:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w