1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Môn chính trị học so sánh) so sánh nhà nước phong kiến phương tây và nhà nước phong kiến phương đông

19 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh nhà nước phong kiến phương Tây và nhà nước phong kiến phương Đông
Trường học Trường Đại học của bạn
Chuyên ngành Chính Trị Học
Thể loại Tuần luận môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 42,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH TRỊ HỌC SO SÁNH ĐỀ TÀI So sánh nhà nước phong kiến phương Tây và nhà nước phong kiến phương Đông” và “ Phân tích những vấn đề nổi bật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa hiện nay[.]

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: CHÍNH TRỊ HỌC SO SÁNH

ĐỀ TÀI: So sánh nhà nước phong kiến phương Tây và nhà nước phong kiến phương Đông” và “ Phân tích những vấn đề nổi bật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1 LỜI MỞ ĐẨU 3 NỘI DUNG 5

I So sánh nhà nước phong kiến phương Đông và nhà nước phong kiến phương Tây 5

1 Khái quát về chế độ chính trị phong kiến 5

2 So sánh nhà nước phong kiến phương Đông và nhà nước phong kiến phương Tây? 6

II Những vấn đề nổi bật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa hiện nay 8

1 Khái quát về chủ nghĩa xã hội 8

2 Những vấn đề nổi bật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa hiện nay 9 KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

LỜI MỞ ĐẨU

Chính Trị học so sánh là một môn học vô cùng quan trọng trong hệ thống các môn về chính trị, môn học mang lại cho người học những nội dung, kiến thức về chính trị dựa trên việc so sánh và phân tích những vấn đề chính trị Tạo cho người học cái nhìn khách quan và hiểu biết sâu sắc nhất về vấn đề mà nội dung môn học muốn truyền tải

Trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, đồng thời xu thế khu vực hóa cũng gia tăng Khu vực quốc tế là một không gian, bao gồm một vùng lãnh thổ nhất định của các quốc gia liền kề nhau hoặc của các quốc gia có điểm chung về địa lý tự nhiên hay các đặc điểm quản lý hành chính, lãnh thổ, văn hóa Chính trị học so sánh nghiên cứu đặc điểm chính trị của các khu vực trên thế giới, chủ yếu dựa trên yếu tố địa – chính trị, địa – kinh tế, địa – văn hóa nhằm tăng cường nhận thức của con người về tính đa dạng của nền chính trị, thúc đẩy hội nhập quốc tế, bảo vệ hòa bình, chủ quyền quốc gia và thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc

Trên cơ sở phân tích đặc điểm và xu hướng phát triển của các chế độ chính trị- xã hội, đời sống chính trị các khu vực, môn học làm rõ sự vận động chính trị đang diễn ra trên thế giới, đánh giá về bản chất và những ảnh hưởng chi phối của các hệ tư tưởng chính trị, các mô hình chính trị gắn với từng thời đại, từng giai đoạn phát triển của lịch sử, từ đó có cái nhìn hệ thống, khách quan về nền chính trị thế giới

Từ cách tiếp cận trên, môn học đã đưa ra các nội dung kiến thức đạt được những mục tiêu sau:

Thứ nhất, mô tả, phân tích đúng đắn các mô hình, chế độ chính trị trong lịch sử, đặc điểm chính trị các khu vực trên thế giới Cung cấp những kiến thức tương đối toàn diện và đáng tin cậy về các quốc gia và các khu vực trên thế giới

Trang 4

trên các mặt địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Hệ thống hóa những kiến thức về các khu vực và các nước, nhất là các nước láng giềng cùng khu vực nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển chính sách đối ngoại và hợp tác nhiều mặt với các nước và khu vực đó

Thứ hai, so sánh để tìm những điểm tương đồng và khác biệt về chính trị giữa các thời đại lịch sử và giữa các khu vực trong giai đoạn hiện nay So sánh

để tìm ra những quy luật chung và những nét đặc thù của các mô hình chính trị các nước và các khu vực

Thứ ba, đánh giá về những ưu điểm và hạn chế của các chế độ chính trị, thể chế chính trị, từ đó đề xuất khả năng vận dụng các ưu điểm vào xây dựng, hoàn thiện thể chế chính trị nước mình

Thứ tư, tìm ra đặc điểm riêng, những nét đặc thù của các chế độ chính trị, chỉ ra được sự biến đổi, kế thừa và phát triển qua các thời kỳ lịch sử; nhận thức

rõ bản sắc chính trị của từng khu vực trên thế giới và mối quan hệ của nó với các khu vực khác

Thứ năm, đánh giá một cách khoa học quy luật phát triển và vị thế quốc tế của các quốc gia hay khu vực được nghiên cứu, trong đó cơ bản nhất là xác định được cơ sở về mọi mặt của các quốc gia điển hình, trung tâm

Vì vậy, từ những nội dung đã được học và tìm hiểu trong môn học này, em xin lựa chọn hai nội dung sau để tìm hiểu và nghiên cứu trong bài tiểu luận này:

“ So sánh nhà nước phong kiến phương Tây và nhà nước phong kiến phương Đông” và “ Phân tích những vấn đề nổi bật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa hiện nay”

Trong quá trình tìm hiểu và làm bài sẽ không tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô cho đánh giá và nhận xét để bài làm của em được hoàn thiện hơn

Em xin cảm ơn thầy cô!

Trang 5

NỘI DUNG

I So sánh nhà nước phong kiến phương Đông và nhà nước phong kiến

phương Tây

1 Khái quát về chế độ chính trị phong kiến

Kiểu nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước thứ hai trong lịch sử xã hội loài người, ra đời trên sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy

Trong xã hội phong kiến, giai cấp địa chủ, lãnh chúa phong kiến là giai cấp thống trị Họ thiết lập bộ máy nhà nước do vua đứng đầu để bóc lột và đàn

áp các giai cấp khác

Nhà nước phong kiến cũng có hai bản chất là tính giai cấp và tính xã hội:

Tính giai cấp: Bộ máy chuyên chính của giai cấp địa chủ, phong kiến, là công cụ để thực hiện và bảo vệ lợi ích, quyền, địa vị thống trị của giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến trong xã hội trên tất cả các lĩnh vực

Tính xã hội: còn là tổ chức quyền lực chung của xã hội, là đại diện chính thức của toàn xã hội nên nhà nước phong kiến có nhiệm vụ tổ chức và điều hành các hoạt động chung của xã hội vì sự tồn tại và lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội, tiến hành 1 số hoạt động nhằm phát triển kinh tế – xã hội

Tính xã hội mờ nhạt, hạn chế, tính giai cấp thể hiện công khai, rõ rệt

Bản chất của nhà nước phong kiến được quy định bởi các chức năng đối nội và đối ngoại của nó

Các chức năng đối nội cơ bản của nhà nước phong kiến bao gồm:

- Chức năng bảo vệ và phát triển chế độ sở hữu phong kiến, duy trì sự bóc lột của phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác

Trang 6

- Chức năng đàn áp sự chống đối của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác

- Chức năng đàn áp tư tưởng

Các chức năng đối ngoại cơ bản của nhà nước phong kiến bao gồm:

- Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược

- Chức năng phòng thủ chống xâm lược

2 So sánh nhà nước phong kiến phương Đông và nhà nước phong kiến phương Tây?

a) Về quá trình hình thành và phát triển

* Phương Đông

Hình thành tương đối sớm, từ trước Công nguyên (như Trung Quốc) hoặc đầu Công nguyên (như các nước Đông Nam Á) Từ thế kỉ X - XV, phát triển khá chậm

* Phương Tây

Hình thành muộn hơn, khoảng thế kỉ V và được xác lập, hoàn thiện vào khoảng thế kỉ X Từ thế kỉ XI - XIV, phát triển rất phồn thịnh

b) Về bộ máy nhà nước phong kiến

So với bộ máy nhà nước chủ nô, bộ máy nhà nước phong kiến đã phát triển hơn một bước, đặc biệt là ở giai đoạn nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Trong nhà nước phong kiến, các cơ quan: quân đội, cảnh sát, toà án vẫn

là bộ phận chủ đạo trong bộ máy nhà nước

* Phương Tây

Trong giai đoạn nhà nước phong kiến phân quyền cát cứ, chính quyền trung ương của nhà nước phong kiến yếu, quyền lực thực sự nằm trong tay các

Trang 7

lãnh chúa phong kiến Các lãnh chúa có quân đội riêng và toà án riêng, toàn quyền trong lãnh địa của mình

* Phương Đông

Bộ máy nhà nước phong kiến được tổ chức tương đối chặt chẽ từ trung ương xuống đến địa phương Ở trung ương, đứng đầu triều đình là vua (hoặc quốc vương), giúp việc cho vua có các cơ quan với các chức vụ quan lại khác nhau giúp vua thực hiện sự cai trị Ở địa phương, cách tổ chức các cơ quan nhà nước còn đơn giản, hầu như chưa có sự phân biệt giữa chức năng hành pháp và

tư pháp, đội ngũ quan lại địa phương cũng do vua bổ nhiệm

c) Về hình thức nhà nước phong kiến

Hình thức chính thể phổ biến trong nhà nước phong kiến là quân chủ, lịch

sử tổ chức quyền lực nhà nước phong kiến cho thấy sự tồn tại và phát triển của chính thể quân chủ với những biểu hiện cụ thể: quân chủ phân quyền cát cứ, quân chủ trung ương tập quyền, quân chủ đại diện đẳng cấp và cộng hoà phong kiến

* Phương Tây

Trong hình thức nhà nước quân chủ phân quyền cát cứ thì quyền lực nhà nước bị phân tán, vua hoặc quốc vương không có toàn quyền, chỉ là “đấng thiêng liêng”, quyền lực thực sự nằm trong tay các lãnh chúa phong kiến

Trong hình thức quân chủ đại diện đẳng cấp, quyền lực nhà nước trung ương được tăng cường trên cơ sở của sự ủng hộ của các lãnh chúa phong kiến vừa và nhỏ, cũng như tầng lớp cư dân thành thị Ở hình thức này, bên cạnh vua hoặc quốc vương còn có cơ quan đại diện đẳng cấp, ví dụ như: Nghị viện ở Anh, Hội nghị quốc dân ở Nga, Hội nghị tam cấp ở Pháp Cơ quan đại diện này

có thẩm quyền hạn chế trong lĩnh vực thuế và tài chính Sự hiện diện của cơ quan này cũng làm hạn chế quyền lực của nhà vua, vì thế khi quyền lực của vua

Trang 8

được tăng cường mạnh lên thì vua thường không tham dự hội nghị của cơ quan đại diện đẳng cấp nữa và tìm cách loại bỏ nó

Toàn bộ bộ máy nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương tạo thành một thể thống nhất Hình thức cộng hoà phong kiến tồn tại ở một số thành phố châu Âu (Phơlôrenxơ của Italia, Nốpgôrớt và Psơcốp của Nga…) sau khi giành được sự tự quản bằng các con đường khác nhau như: bỏ tiền ra mua sự tự trị từ nhà nước phong kiến, đấu tranh vũ trang…Quyền lực ở các thành phố đó tập trung trong tay giới quý tộc thành thị tập hợp trong Hội đồng thành phố được lập trên nguyên tắc bầu ra, chịu trách nhiệm điều hành các công việc và quan

hệ của thành phố Chính ở các thành phố này đã sớm hình thành các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Ở các nước châu Âu , tồn tại cả 4 hình thức chính thể trên

* Phương Đông

Chính thể quân chủ trung ương tập quyền có đặc điểm là quyền lực nhà nước tập trung vào tay vua hoặc quốc vương Vua nắm toàn quyền nhưng trong hoạt động điều hành vua dựa vào triều đình và bộ máy quan lại giúp việc từ trung ương xuống đến địa phương Toàn bộ bộ máy nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương tạo thành một thể thống nhất

Ở các nước phương Đông như Việt Nam Trung Quốc chỉ tồn tại hình thức chính thể quân chủ phân quyền cát cứ và quân chủ trung ương tập quyền Đặc biệt ở Việt Nam, dưới sự tác động của nhu cầu trị thuỷ và chống giặc ngoại xâm, nhà nước trung ương tập quyền đã hình thành rất sớm

II Những vấn đề nổi bật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa hiện nay

1 Khái quát về chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội là một trong ba ý thức hệ chính trị lớn hình thành trong thế

kỷ 19 bên cạnh chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ Không có định nghĩa rõ

Trang 9

ràng về chủ nghĩa xã hội mà nó bao gồm một loạt các khuynh hướng chính trị

từ các phong trào đấu tranh chính trị và các đảng công nhân có tinh thần cách mạng, những người muốn lật đổ chủ nghĩa tư bản nhanh chóng và bằng bạo lực cho tới các dòng cải cách chấp nhận Thể chế Đại nghị và dân chủ như chủ nghĩa xã hội dân chủ, thậm chí phát xít Đức cũng tự nhận mình là những người theo chủ nghĩa xã hội Theo đó, có sự phân biệt giữa những khuynh hướng chủ nghĩa cộng sản, dân chủ xã hội và vô chính phủ Những người theo chủ nghĩa

xã hội thường nhấn mạnh giá trị cơ bản như bình đẳng, công bằng và đoàn kết và đề cao mối quan hệ chặt chẽ giữa những phong trào xã hội và lý thuyết phê phán xã hội Họ theo đuổi mục tiêu tạo ra một trật tự xã hội hòa hợp và hướng đến công bằng xã hội

Trong lịch sử, tại nhiều quốc gia đã và đang tồn tại những hệ thống chủ nghĩa

xã hội nhà nước thường được gọi là nhà nước cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Đông Đức và Cuba…

Hiện nay, vẫn còn 5 nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa là: Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Triều Tiên và Cuba

Tại Việt Nam, ngay từ khi ra đời (2-1930), Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định rõ ràng và dứt khoát con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, là con đường Xã hội Chủ nghĩa Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn có ý nghĩa rất quan trọng, từ việc đưa ra quan niệm, phương châm, phương pháp, đến việc chuẩn bị những điều kiện để tiến lên xã hội chủ nghĩa Vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Người, qua hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn Hiện nay, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đang đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để hiện thực hóa con đường XHCN mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn

2 Những vấn đề nổi bật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trang 10

a) Giá trị bền vững trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về

dân chủ xã hội chủ nghĩa

Một là, dân chủ xã hội chủ nghĩa là kết quả quá trình phát triển lâu dài của lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thức rất rõ rằng, dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên; không xuất phát từ mong muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân hay giai cấp nào Trong đời sống xã hội, dân chủ vừa tồn tại hiện hữu dưới dạng những quan hệ vật chất, có thể kiểm chứng được; đồng thời, cũng tồn tại dưới dạng ý thức, đó là các giá trị về tinh thần trong tư tưởng Dân chủ

là sự phát triển lâu dài của lịch sử theo các quy luật khách quan Tương ứng với các trạng thái phát triển kinh tế - xã hội, lịch sử loài người trải qua nhiều “kiểu” dân chủ khác nhau

Trong lịch sử, dân chủ đã có mầm mống, phôi thai trong xã hội cộng sản nguyên thủy Dân chủ giai đoạn này mang ý nghĩa là mọi thành viên trong xã hội đều có quyền bình đẳng như nhau về lợi ích kinh tế, tham gia công việc cộng đồng Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn đến phân chia xã hội thành giai cấp thống trị và bị thống trị Từ đó, các quyền bình đẳng vốn có của mọi thành viên trong xã hội cộng sản nguyên thủy dần dần bị tước mất Một nghịch lý của sự phát triển là: “Mỗi bước tiến mới của nền văn minh, đồng thời cũng là một bước tiến mới của sự bất bình đẳng Xã hội ra đời cùng với văn minh, tất cả những thể chế do xã hội tạo ra đều biến thành những thể chế đi ngược lại mục đích ban đầu” Chính vì vậy, trong lịch sử đã không ngừng diễn

ra các cuộc đấu tranh của nhân dân giành lại quyền dân chủ của mình Một điểm chung, từ khi thoát khỏi xã hội cộng sản nguyên thủy đến trước khi thiết lập được xã hội cộng sản văn minh, nền dân chủ đều mang bản chất và phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị Nền dân chủ ấy cũng chính là sự phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn chưa phát triển đầy đủ, dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất

Trang 11

Trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, dân chủ là công cụ, phương tiện được giai cấp thống trị dùng để củng cố, bảo vệ địa vị thống trị của mình thông qua luật hóa các quyền công dân, quyền con người; nhưng đồng thời, dân chủ cũng là ngọn cờ để giai cấp bị thống trị đấu tranh giành và bảo vệ các quyền của mình Các phong trào đấu tranh của nhân dân lao động cũng là đấu tranh cho các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền Do đó, C.Mác viết: “ chừng nào còn chưa giành được chính quyền dân chủ thì những người cộng sản và những người dân chủ còn kề vai sát cánh chiến đấu và lợi ích những người dân chủ cũng là lợi ích của những người cộng sản”

Trong tiến trình vận động đó, dân chủ XHCN không tự nhiên xuất hiện mà

là kết quả phát triển của nhân loại: “Bất cứ thứ dân chủ nào khác đều chỉ có thể tồn tại trong đầu óc những nhà lý luận uyên bác, không cần biết gì đến những

sự kiện thực tế và cho rằng không phải con người trong hoàn cảnh đã phát triển các nguyên tắc mà chính các nguyên tắc tự nó phát triển thành dân chủ trở thành nguyên tắc của giai cấp vô sản, nguyên tắc của quần chúng”

Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, quá trình xã hội hóa sản xuất dẫn đến xã hội hóa chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất, nền dân chủ XHCN ra đời phản ánh trình độ phát triển của phương thức sản xuất ấy

Thứ hai, sức sống của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội Vào những năm đầu của thập kỷ 40 thế kỷ XIX, C.Mác đã trình bày có hệ thống quan điểm của mình về nền dân chủ nhân dân thông qua việc phê phán quan điểm duy tâm của Hêghen trong lĩnh vực triết học pháp quyền Hêghen cho rằng, nhà nước sinh ra xã hội công dân, nhân dân là vật liệu, phương tiện biểu đạt nội dung khái niệm nhà nước C.Mác chỉ rõ, không phải nhà nước sinh ra xã hội công dân, mà ngược lại, xã hội công dân sinh ra nhà nước: “ sự thật là nhà nước xuất hiện từ cái số đông ấy, cái số đông tồn tại dưới dạng những thành viên của gia đình và những thành viên của xã hội công dân” Nhân dân là chủ

Ngày đăng: 08/03/2023, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w