CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ
2.4.3 Các biện pháp xử lý và tiêu hủy chất thải
2.4.3.1 Xử lý chất thải rắn y tế.
a, Thiêu đốt chất thải rắn y tế:
Một thực tế là trong nhiều năm trước đây khi đầu tư xây dựng bệnh viện chúng ta hoàn toàn chưa hạch toan được chi phí cho xử lý chất thải. Phần lớn các bệnh viện tự xây lò đốt cho mình và không theo một thiết kế mẫu nào cả.
Công ty môi trương đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm cả khâu thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế từ bệnh viện và vận chuyển tới xí nghiệp đốt rác để tiêu hủy. Hiện nay chúng ta đã có hai lò đốt rác y tế theo mô hình tập trung lò đốt Del Monego 200 xí nghiệp đốt rác Tây Mỗ – Hà Nội và lò đốt Hoval GG-24 xí nghiệp đốt rác Bình Hưng Hòa-thành phố Hồ Chí Minh với công nghệ nhập ngoại của nước ngoài.
Một số bệnh viện như Viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện C Đà Nẵng, Bệnh viện Vũng tàu với sự giúp đỡ cua 3 công ty Wamed engineering đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thụy Sĩ có công nghệ hiện đại với nhiệt độ thiêu đốt có hiệu quả. Qua thời gian theo dõi trên 15 tháng của Sở Khoa Học công nghệ và Môi Trường Hà Nội lò đốt của Viên Lao và Bệnh phổi đã thiêu đốt trên 10 tấn rác y tế nguy hại với kết quả tốt đảm bảo an toàn về môi trường.
Đã có một số bệnh viện lắp đặt và vận hành lò đốt do Việt Nam sản xuất như bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng lò đốt do trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh thiết kế và lắp đặt…
Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu thống kế cụ thể nào về các loại lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của lò đốt thiết kế và chế tạo trong nước. Một vấn đề mà các nhà môi trường cần quan tâm là ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt chất thải y tế nguy hại cần đươc quan tâm nghiên cứu.
b, Chôn lấp chất thải rắn y tế.
Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh, chất thải y tế được chôn lấp tại bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất của bệnh viện. Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải được chôn lấp vào trong các hố đào và lấp đất lên, nhiều khi lớp đất phủ lên trên chất thải y tế quá mỏng không đảm bảo vệ sinh.
Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặc biệt như bào thai, nhau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất bệnh viên hoặc chôn trong nghĩa trang của địa phương. Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên nhiều bệnh viện
24 hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn chất thải rắn y tế nguy hại.
Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với các chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác công cộng, dễ gây rủi ro cho nhân viên thu gom, vận chuyển chất thải và cộng đồng.
Hình 2.2- Quy tắc vận hành hệ thống quản lý chất thải rắn tại bệnh viện : 2.4.3.2 Xử lý nước thải y tế.
Nguyên tắc và yêu cầu xử lý nước thải y tế:
Nước thải y tế phải được xử lý trước khi thải ra lưu vực. Tiêu chuẩn áp dụng là TCVN6772-2000.
Bảng 2.4- Tiêu chuẩn và yêu cầu một số chỉ tiêu nước thải bệnh viên:
Rác y tế Rác sinh hoạt
Thu gom
(Túi màu vàng)
Vận chuyển
Bảo quản chờ đốt rác theo mẻ
Đốt lò đốt rác Tro còn lại 5- 10 % gom chuyển về chất thải chung
Thu gom (túi màu xanh)
Vận chuyển
Xử lý chung thành phố (chôn lấp, ủ )
25 Nguồn :Môi trường bệnh viện- Cục bảo vệ môi trường
Các phương pháp xử lý nước thải y tế có thể phân loại theo bản chất của phương pháp hoặc theo chức năng cửa phương pháp. Theo bản chất của phương pháp ta có 2 nhóm :
Các phương pháp hóa lý:
- Các phương pháp chắn rác : Dùng các ghi bằng sắt hoặc bê tông có khe thông thoáng từ 2-5m m đủ để chắn rác thô.
- Phương pháp loại cặn cơ học: Kênh bể lắng cát thường được bố trí trong hệ thống xử lý hoặc làm hại các cơ cấu chuyển động phía sau. Thường các thông số thiết kế phải tính sao cho có thể loại được cát có kích thước tới 0.15m m tương ứng với tốc độ thủy lực là 13.2mm/s.
- Cyclon thuy lực : Được dùng trong trường hợp tách các loại cặn cơ học cú kớch thước 5-5000 àm.
- Lưới lọc:Dùng tách cặn cơ học, rong rêu trong trường hợp xử lý nước thải bệnh viện thường được chế tạo bằng thép không rỉ, hợp kim đồng niken hoặc polieste cú kớch thước lỗ 5-500 àm.
- Bể điều hòa: Nước thải có lưu lượng và mức ô nhiễm không đều và không đồng nhất theo thời gian, để ổn định chế độ làm việc cho hệ thống xử lý cần ổn định nước thải đầu vào cả về lưu lượng và mức độ ô nhiễm bằng các bể chứa có dung tích được thiết kế tính toán cho cả trường hợp lưu lượng tối đa và tôi thiểu.
- Phương pháp làm thoáng: Làm thoáng tự nhiên có ứng dụng hạn chế trong xử lý nước ngầm nhiễm sắt hoặc mangan, nhưng ở mức độ nhất định có
STT Chỉ tiêu Đơn vị TCVN 6772-
2000
1 SS mg/l 50
2 COD, mg/l mg/l 100
3 BOD5,mg/l mg/l 30
4 NH4,mg/l mg/l 1
5 Tổng N, mg/l mg/l 60
6 Tổng P, mg/l mg/l 6
7 pH - 5-9
8 Coliform,VK/100ml Vk/ 100ml 1000
26 khả năng làm giảm một số chất tan có khả năng bay hơi cao như CO2, H2S, các chất khí cácbua hyđro mạch ngắn.
- Phương pháp nhiệt: Dùng trong trường hợp chưng cất nhằm mục đích tận dụng các chất đắt tiền trong nước thải công nghiệp hoặc nước thải y sinh học .
- Phương pháp oxy hóa :Dùng các tác nhân oxy hóa khác nhau như không khí, oxy,clo các hợp chất chứa clo,ozon,KMnO4..Đặc biệt là kỹ thuật sử dụng clo hay hợp chất chứa clo còn dùng rộng rãi trong khử trùng xử lý nước thải bệnh viện.
- Kỹ thuật hấp phụ: Là kỹ thuật xử lý các chất hữu cơ hòa tan gây ra màu lạ, thường người ta dùng than hoạt tính. Than hoạt tính có thể đưa vào sau công đoạn tạo bông hoặc bố trí trước khi thải ra dưới dạng cột hấp phụ hay bể hấp phụ.
- Tuyển nổi:Kỹ thuật tuyển nổi thường được áp dụng trong trường hợp tách các chất lỏng nhẹ hơn nước ra khỏi nuớc.
- Lọc: Kỹ thuật lọc thường được thực hiện sau bước keo tụ và lắng.
Nhóm phương pháp vi sinh:
- Xử lý hiếu khí cặn lơ lửng: Nước sau khi được chỉnh tới pH thích hợp, thêm N,P vào nếu cần sao cho tỷ lệ hữu cơ theo chỉ số BOD5/N/P=100/5/1 là thích hợp.
- Bể phốt: Là bể thổi khí, quá trình sục khí phản ứng được thực hiện trong bồn, cặn lơ lửng được lắng tiếp theo. Trong bể xảy ra các quá trình sinh học, các vi khuẩn ái khí nhân lên và phát triển rất mạnh, trong điều kiện đủ oxy, đủ chất dinh dưỡng là các hợp chất hữu cơ có trong nước thải, với đặc điểm sinh lý, dinh dưỡng của vi khuẩn mỗi ngày một còn có thể chuyển hóa một lượng thức ăn gấp 40 lần trọng lượng tế bào vi khuẩn nên hợp chất hữu cơ bị phân hủy và giảm thiểu rất nhanh.
- Xử lý hiếu khí cặn cố định:Lớp vi sinh được nuôi cấy trên các vật liệu mang có bề mặt càng phát triển càng tốt.
- Lọc sinh học :Cấu tạo tương tự bể lọc cát nhưng có bố trí luồng khí thổi từ dưới lên, vật liệu lọc thô hơn để tăng diện tích giá thể bám.
- Bể lọc nhỏ giọt: Nước thải được rải đều và phân bố trên toàn bộ bề mặt lớp vật liệu lọc bằng một cơ cấu lọc nhỏ giọt.
- Xử lý yếm khi căn lơ lửng : Ưu điêm của phương pháp này :
+, Chịu được nồng độ hữu cơ cao(BOD5 từ 1500-15000 mg/l) +, Lượng bùn thải ít
+, Chi phí vận hành thấp thậm chí còn đem lại hiệu quả kinh tế
27 cao
- Xử lý yếm khí cặn cố định: Lớp vi sinh được cố định trên hạt vật liệu xốp và được tuần hoàn từ trên xuống dưới nhờ hệ thống bơm.
- Hồ sinh học: Có thể dùng các ao hồ đủ rộng để xử lý nước thải y tế.
Nếu hồ nông và có độ sâu trung bình <0.7m thì quá trình xảy ra là hiếu khí. Nếu hồ có độ sâu hơn thì phía trên là quá trình phân hủy hiếu khí, phía dưới là quá trình phân hủy kỵ khí.
2.4.3.3 Xử lý khí thải .
Một số thiết bị được lắp đặt thêm hệ thống xử lý khí thải. Tùy thuộc thành phần rác đem đốt như rác có PVC, plastic, những loại mà trong thành phần khi cháy có chứa nhiều Cl, NO, SOx có thể tạo thành acid HOCl, HCl, HNO3 do vậy các chất này cần được xử lý sơ bộ để không gây ô nhiễm thứ cấp.
Lò đốt đa vùng thường cấu tạo hai buồng đốt sơ cấp hay nhiệt phân và buồng đốt thứ cấp hay buồng oxy hóa với nhiều giai đoạn cháy khác nhau ở cả trong hai buồng đốt :
Buồng đốt sơ cấp gồm hai diễn biến :
- Giai đoạn 1 : Chất thải rắn được sấy khô - Giai đoạn 2 : Cháy và khử khí (cácbon hóa)
Buồng đốt thứ cấp gồm 3 diễn biến:
- Giai đoạn 1 : Phối trộn
- Giai đoạn 2 : Đốt cháy khử khí - Giai đoan 3 : Oxy hóa hoàn toàn
Sự cân bằng năng lượng giữa hai buồng đốt này là vấn đề quan trọng nhất, chúng phải có nội thất, kích cỡ phù hợp để thực hiện một mức độ nạp chất thải nhất định trong mỗi buồng đốt. nếu qúa nhiều năng lượng được tạo ra trong buồng đốt chính thì khí cháy tạo ra sẽ tăng lên và dẫn đến tốc độ cao hơn.
Thiết bị xử lý và làm mát khí thải:
Trong những trường hợp đặc biệt có yêu cầu rất cao về kiểm soát ô nhiễm thứ cấp kiểm soát chất lượng khói thải, lò đốt được trang bị them hệ thống xử lý khói thải. Công nghệ xử lý tiên tiến hiện nay thường có hai phương pháp xử lý : Xử lý khô và xử lý ướt.
Xử lý khô :
Phương pháp này sử dụng hóa chất ở dạng bột như CaO để trung hòa các chất ô nhiễm trong khí thải, và một túi lọc ( lọc sợi hoặc lọc tĩnh điện) để loại bỏ các muội và bụi.
Trước khi xử lý, khói thải được làm mát đến nhiệt độ 170-2500 C theo nguyên
28 lý trao đổi nhiệt “ không khí- Khói thải” hoặc “ Nước – Khí thải”. Ở giai đoạn này có thể kết hợp thu hồi nhiệt để sử dụng. sau đó phun vôi trực tiếp vào dòng khí thải, vôi sẽ phản ứng với các khí hơi axít để tạo muối trơ. Các muối này cùng với tro và bụi bị bộ lọc giữ lại. Phương pháp xử lý khô đơn giản, kinh tế và đạt hiệu quả cao.
Xử lý ướt:
Khí thải sau khi ra khỏi buồng đốt sau đi vào khu vực trung hòa và tháp lọc, dung dịch lỏng (sođa) được phun trực tiếp vào dòng khí để hấp phụ loại bỏ các chất ô nhiễm như SOx, HCl, OCl, halogen … và các kim loại nặng, kể cả thủy ngân. Đồng thời khí thải được làm mát tới nhiệt độ 700C, sau đó hút bằng quạt gió dẫn tới ống khói.
Hiệu quả của phương pháp ướt cực kì cao, trị số phát tán ô nhiễm thứ cấp vào môi trường rất thấp. Tuy nhiên phương pháp này khá phức tạp và chi phí đầu tư vận hành cao.
Mặc dù hiệu quả xử lý cao nhưng phương pháp xử lý ướt còn sinh ra một số nhược điểm rất lớn là dung dịch hóa chất sau khi xử lý sẽ là nguồn gây ô nhiễm ở dạng lỏng.
29 Chửụng 3 HIỆN TRẠNG CễNG TÁC QUẢN Lí MễI TRƯỜNG TẠI
CÁC BỆNH VIỆN TẠI TP MỸ THO – TIỀN GIANG