1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl dinh hong cong 072181b

141 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Phân Vùng Chất Lượng Nước Mặt Và Môi Trường Tiếp Nhận Nước Thải Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Đinh Hồng Công
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thanh Hùng
Trường học Trường Đại học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Môi Trường và Bảo Hộ Lao Động
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 6,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU (13)
    • 1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI (13)
    • 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI (16)
    • 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (18)
    • 1.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN (18)
  • CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (19)
    • 2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN (19)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (19)
      • 2.1.2. Điều kiện khí hậu (20)
        • 2.1.2.1. Nhiệt độ (20)
        • 2.1.2.2. Lượng mưa và độ ẩm (20)
        • 2.1.2.3. Chế độ gió (20)
      • 2.1.3. Địa hình, thổ nhưỡng (20)
        • 2.1.3.1. Địa hình (20)
        • 2.1.3.2. Thổ nhưỡng (21)
      • 2.1.4. Thủy văn (23)
        • 2.1.4.1. Hệ thống sông, kênh rạch (23)
        • 2.1.4.2. Các đặc điểm tự nhiên vùng ảnh hưởng xâm nhập mặn khu vực thành phố Hồ Chí Minh (25)
        • 2.1.4.3. Nước ngầm (26)
      • 2.1.5. Hệ sinh thái (27)
        • 2.1.5.1. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa Ðông Nam Bộ (27)
        • 2.1.5.2. Hệ sinh thái rừng úng phèn (28)
        • 2.1.5.3. Hệ sinh thái rừng ngập mặn (28)
    • 2.2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI (30)
      • 2.2.1. Dân số và tổ chức hành chính (30)
      • 2.2.2. Hoạt động kinh tế (30)
      • 2.2.3. Văn hóa xã hội (31)
        • 2.2.3.1. Văn hóa (31)
        • 2.2.3.2. Xã hội (32)
  • CHƯƠNG 3 CƠ SỞ KHOA HỌC PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC (36)
    • 3.1. TỔNG QUAN VỀ PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC (36)
      • 3.1.1. Phân vùng chất lượng nước ở Việt Nam (36)
      • 3.1.2. Phân vùng chất lượng nước ở một số nước trên thế giới (36)
    • 3.2. ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (38)
      • 3.2.1. Dòng chảy (38)
      • 3.2.2. Chế độ thủy văn ở lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn (39)
    • 3.3. KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUỒN Ô NHIỄM Ở LƯU VỰC ĐỒNG NAI – SÀI GÒN ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG, KÊNH RẠCH (50)
      • 3.3.1. Ảnh hưởng của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp (50)
      • 3.3.2. Ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt (52)
      • 3.3.3. Ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm nông nghiệp (54)
      • 3.3.4. Ảnh hưởng của hoạt động thủy lợi, nuôi trồng thủy sản (55)
    • 3.4. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT VÀ MÔI TRƯỜNG TIẾP NHẬN NƯỚC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH (58)
      • 3.4.1. Khu vực sử dụng cho mục đích cấp nước cho thành phố (0)
      • 3.4.2. Hiện trạng chất lượng nước của các sông sử dụng ngoài mục đích cấp nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (0)
        • 3.4.2.1. Hạ nguồn sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (62)
        • 3.4.2.2. Khu vực Cần Giờ - Nhà Bè – các trạm gần cửa biển và khu vực giáp ranh các tỉnh (65)
      • 3.4.3. Hiện trạng chất lượng nước kênh rạch nội thành (68)
      • 3.4.4. Hiện trạng chất lượng nước tại các kênh rạch tiếp nhân nước thải khu công nghiệp và sinh hoạt ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh (0)
        • 3.4.4.1. Số điểm và vị trí lấy mẫu (0)
        • 3.4.4.2. Hiện trạng chất lượng nước (71)
    • 3.5. TIÊU CHÍ PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT (79)
  • CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT VÀ MÔI TRƯỜNG TIẾP NHẬN NƯỚC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (80)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ (86)
    • 5.1. KẾT LUẬN (86)
    • 5.2. KIẾN NGHỊ (88)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)
  • PHỤ LỤC (91)

Nội dung

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT VÀ MÔI TRƯỜNG TIẾP NHẬN NƯỚ

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, có ranh giới như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương

- Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh

- Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai

- Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

- Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay

Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,01 km²

Hình 2.1: Bản đồ thành phố Hồ Chí Minh

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệt độ cao và ổn định quanh năm, cùng hai mùa mưa – khô rõ rệt Nhiệt độ trung bình ở mức cao, với độ ẩm lớn khiến khí hậu nóng bức và khó chịu vào nhiều thời điểm trong năm Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 11, lượng mưa dồi dào và mưa rào thường xuyên, trong khi mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 mang nhiều nắng và oi bức Những đặc điểm khí hậu này ảnh hưởng đến hoạt động du lịch, sinh hoạt hàng ngày và sản xuất ở thành phố.

5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau

TP Hồ Chí Minh có lượng nắng trung bình từ 160–270 giờ mỗi tháng, nhiệt độ trung bình khoảng 27°C, và có những ngày nóng lên tới 40°C nhưng cũng có lúc xuống tận 13,8°C Trong một năm, thành phố có khoảng 330 ngày với nhiệt độ trung bình từ 25–28°C.

2.1.2.2 Lượng mưa và độ ẩm

Mức lượng mưa trung bình hàng năm của thành phố đạt khoảng 1.949 mm, với mức cao nhất 2.718 mm vào năm 1908 và mức thấp nhất 1.392 mm vào năm 1958 Trong một năm, thành phố có khoảng 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 11 và chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Phân bố lượng mưa trên toàn địa bàn không đồng đều, có khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Đông Bắc Lượng mưa ở các quận nội thành và các huyện phía Bắc cao hơn so với các khu vực còn lại.

Độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, đạt khoảng 80%, và xuống thấp vào mùa khô, còn khoảng 74,5% Trung bình hàng năm, độ ẩm không khí đạt khoảng 79,5%.

Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và gió mùa Bắc – Đông Bắc Gió mùa Tây – Tây Nam xuất phát từ Ấn Độ Dương, có tốc độ gió trung bình khoảng 3,6 m/s và hoạt động mạnh vào mùa mưa Gió mùa Bắc – Đông Bắc thổi từ biển Đông, có tốc độ gió trung bình khoảng 2,4 m/s và phổ biến vào mùa khô Bên cạnh đó, gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 5, với tốc độ trung bình khoảng 3,7 m/s.

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Địa hình chung có đặc điểm thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Vùng này có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình khác nhau.

Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, thuộc phía bắc huyện Củ Chi, Đông Bắc quận Thủ Đức và quận 9 Địa hình lượn sóng với độ cao trung bình từ 10-25 m, xen kẽ có những đồi gò cao tới 32 m, tiêu biểu là đồi Long Bình ở quận 9.

Vùng trũng nằm ở phía Nam-Tây Nam và Đông Nam thành phố, thuộc các quận 9, 8, 7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ Khu vực này có độ cao địa hình trung bình trên dưới 1 m, cao nhất 2 m và thấp nhất 0,5 m.

Vùng trung bình được phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần ở các quận 2 và Thủ Đức, đồng thời toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn Vùng này có độ cao trung bình từ 5 đến 10 mét so với mực nước biển.

Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt

2.1.3.2 Thổ nhưỡng Ðất đai Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành trên hai tướng trầm tích-trầm tích Pleieixtoxen và trầm tích Holoxen

Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ) chiếm phần lớn khu vực phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, bao phủ các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, quận Thủ Đức, Bắc-Đông Bắc quận 9 và đại bộ phận nội thành cũ; điểm đặc trưng là địa hình đồi gò hoặc lượn sóng, cao 20-25 m và xuống tới 3-4 m, mặt nghiêng về hướng Đông Nam, hình thành dưới tác động tổng hợp của sinh vật, khí hậu, thời gian và hoạt động của con người qua quá trình xói mòn và rửa trôi Nhóm đất xám ở thành phố có qui mô trên 45.000 ha, chiếm 23,4% diện tích đất, gồm ba loại chính là đất xám cao (có nơi bạc màu), đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley, trong đó hai loại chiếm phần lớn diện tích Đất xám có thành phần cơ giới chủ yếu từ cát pha đến thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém, mực nước ngầm biến động theo mùa từ 1-2 m đến 15 m tùy nơi, và có pH khoảng 4,0-5,0, thể hiện đặc tính đất chua Mặc dù nghèo dinh dưỡng, đất xám có tầng mặt dày nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có tiềm năng cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nếu áp dụng biện pháp luân canh và thâm canh hợp lý, đồng thời nền đất xám cũng phù hợp để bố trí các công trình xây dựng cơ bản.

Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ) tại thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc từ ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvion lòng sông và bãi bồi, nhờ đó hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha (7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn 45.500 ha (23,6%).

Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò

Nhóm đất phù sa không hoặc bị nhiễm phèn phân bố ở những vùng địa hình hơi cao, có độ cao khoảng 1,5–2,0 m so với mực nước Đây là loại đất tập trung chủ yếu ở vùng giữa phía Nam huyện Bình Chánh, Đông Quận 7, Bắc huyện Nhà Bè và một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn.

Nhóm đất phù sa gồm hai loại chính: đất phù sa không được bồi, có tầng loang lổ và đất phù sa không được bồi, gley; hai loại này chiếm diện tích lớn hơn, còn loại thứ ba là đất phù sa ngọt, rất tốt, chỉ có khoảng 5.200 ha (2,7%) Đất phù sa nói chung có thành phần cơ giới từ sét trung bình tới sét nặng; đất có phản ứng chua, độ pH khoảng 4,2-4,5 ở tầng đất mặt và xuống sâu 0,5-1,2 m độ chua giảm nhiều, pH nâng lên tới 5,5-6,0 Hàm lượng mùn trung bình, các chất dinh dưỡng khá Là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển trồng lúa cao sản, chất lượng tốt.

Đất phèn có hai loại chính là đất phèn nhiều và đất phèn trung bình, phân bố tập trung ở hai vùng: vùng đất phèn Tây Nam Thành phố kéo dài từ Tam Tân-Thái Mỹ (huyện Củ Chi) xuống khu vực Tây Nam huyện Bình Chánh và các xã Tân Tạo, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, vùng này hầu hết thuộc loại đất phèn nhiều (phèn nặng) với độ pH khoảng 2,3-3,0 và có thành phần cơ giới từ sét tới sét nặng, đất chặt và bí, tương tự đất phèn vùng Đồng Tháp Mười; vùng đất phèn ven sông Sài Gòn-Rạch Tra và bưng Sáu xã quận 9, ở đây hầu hết là đất phèn trung bình với pH mặt đất khoảng 4,5-5,0 nhưng giảm mạnh ở tầng đất dưới xuống 3,0-3,5, đất có cấu trúc từ sét đến sét nặng, đất khá chặt và bí, dưới độ sâu khoảng 1 m có nhiều xác hữu cơ nên đất xốp hơn, đồng thời đất khá giàu mùn và dinh dưỡng ở mức trung bình nhưng hàm lượng ion độc tố cao khiến đất phèn không thích hợp với trồng lúa; tuy nhiên nhờ biện pháp thủy lợi tưới tiêu tự chảy để rửa phèn, có thể chuyển đất canh tác từ một vụ lúa sang hai vụ lúa Bên cạnh đó, đất phèn rất phù hợp với các cây khóm, mía, điều và các cây lâm nghiệp như tràm, bạch đàn và một số loài keo Acasia.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm đất phèn mặn có diện tích lớn nhất, phân bố tập trung ở hầu hết diện tích huyện Nhà Bè và hầu như toàn bộ huyện Cần Giờ Dựa vào độ mặn và thời gian ngập mặn, nhóm đất phèn mặn được chia làm hai loại: đất phèn mặn theo mùa và đất phèn mặn thường xuyên, còn gọi là đất mặn dưới rừng ngập mặn.

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

2.2.1 Dân số và tổ chức hành chính

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyện; 322 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn Với tổng diện tích 2.095,01 km², dân số ghi nhận theo điều tra của Tổng cục Thống kê ngày 1/4/2010 là 7.382.287 người, mật độ 3.523 người/km² Tuy nhiên, nếu tính cả số người cư trú không đăng ký, dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người, tập trung chủ yếu ở nội thành với 5.881.511 người và mật độ 11.906 người/km²; trong khi các huyện ngoại thành có 1.281.353 người, mật độ 801 người/km².

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của Việt Nam Mặc dù chỉ chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số cả nước, thành phố đóng góp tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% tổng số dự án nước ngoài.

Trong năm 2005, thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia làm việc Đến năm 2010, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.800 USD/năm, cao hơn nhiều so với mức trung bình cả nước là 1.168 USD/năm Tổng GDP cả năm 2010 đạt 418.053 tỷ đồng (tính theo giá thực tế khoảng 20,902 tỷ USD), và tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11.8%.

Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp đến công nghiệp chế biến, xây dựng, du lịch và tài chính; cơ cấu kinh tế thành phố phân bổ theo khu vực gồm 33,3% khu vực nhà nước, 44,6% ngoài quốc doanh và phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; về cơ cấu ngành, dịch vụ chiếm 51,1% với vai trò cao nhất, tiếp đến công nghiệp và xây dựng 47,7%, còn nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ 1,2%.

Đến giữa năm 2006, TP Hồ Chí Minh có 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp thu hút 1.092 dự án đầu tư, trong đó 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND Thành phố cũng đứng đầu cả nước về tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI và tổng vốn 16,6 tỉ USD tính đến cuối năm 2007 Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỉ USD.

Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu một hệ thống phong phú gồm trung tâm mua sắm, siêu thị và chợ đa dạng, đáp ứng mọi nhu cầu ở cả người dân và du khách Hệ sinh thái thương mại này không chỉ mang lại sự tiện lợi mà còn thúc đẩy giao lưu thương mại giữa các khu vực trong thành phố và với đối tác nước ngoài Đặc biệt, Chợ Bến Thành là biểu tượng lâu đời cho giao lưu thương mại từ xa xưa, nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa thương mại và là đầu mối kết nối nguồn hàng từ nhiều vùng miền Việc kết hợp giữa các trung tâm mua sắm hiện đại và chợ truyền thống làm nổi bật hình ảnh Thành phố Hồ Chí Minh với mạng lưới thương mại đa dạng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư.

Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta Gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại như Saigon Trade Centre và Diamond Plaza xuất hiện, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của khu vực thương mại và dịch vụ tại thành phố Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn nhiều tỉnh thành khác và gấp khoảng 1,5 lần so với Hà Nội Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập từ tháng 7 năm 1998 Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt mức đáng kể.

Với nền kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đối mặt nhiều khó khăn: chỉ 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại Cụ thể, trong số 212 cơ sở ngành dệt may có 21 cơ sở đạt trình độ công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, và 5/46 cơ sở chế tạo máy được trang bị công nghệ cao Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu và quá tải, giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội và hệ thống hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho tăng trưởng kinh tế Trước bối cảnh này, ngành công nghiệp thành phố đang hướng tới các lĩnh vực trình độ cao để mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn.

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai trung tâm truyền thông của Việt Nam và hiện có hệ thống báo chí đa dạng với 38 đơn vị báo chí thành phố, 113 văn phòng đại diện báo chí trung ương và các tỉnh, 3 nhà xuất bản của thành phố và 21 chi nhánh nhà xuất bản trung ương, cùng mạng lưới thông tấn xã, đài phát thanh và truyền hình địa phương và trung ương Tổng số người làm việc trong lĩnh vực báo chí trên địa bàn thành phố vượt trên một nghìn người.

Trong lĩnh vực xuất bản từ năm 1995 đến nay, ba nhà xuất bản của thành phố chiếm khoảng một phần bảy tổng số sách được phát hành trên toàn Việt Nam; ước tính khoảng 60–70% số sách của cả nước được phát hành tại Thành phố Hồ Chí Minh Gần đây, nhiều trung tâm sách và cửa hàng sách hiện đại được mở ra Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh – HTV đã trở thành đài truyền hình địa phương quan trọng bậc nhất Việt Nam, với sáu kênh phát trên sóng analogue và thêm một số kênh truyền hình kỹ thuật số cùng truyền hình cáp Đối tượng chính của HTV là người dân thành phố và một số tỉnh lân cận.

Vào năm 2005, toàn thành phố có 91 sân bóng đá, 86 bể bơi và 256 phòng tập thể thao Sân vận động lớn nhất là Sân Thống Nhất với 25 nghìn chỗ ngồi, tiếp theo là Sân vận động Quân khu 7 ở quận Tân Bình – nơi vừa tổ chức thi đấu thể thao vừa là địa điểm diễn ra nhiều chương trình ca nhạc quy mô lớn Một địa điểm thể thao quan trọng khác của thành phố là Trường đua Phú Thọ, xuất hiện từ thời thuộc địa và hiện là trường đua ngựa duy nhất của Việt Nam Sở Thể dục - Thể thao thành phố cũng quản lý một số câu lạc bộ như Phan Đình Phùng, Thanh Đa, Yết Kiêu.

Trung tâm văn hóa, giải trí

Những yếu tố lịch sử và địa lý đã làm Sài Gòn trở thành một thành phố đa dạng về văn hóa Từ khi thành lập, cư dân Sài Gòn đã thuộc nhiều dân tộc khác nhau như Kinh, Hoa, Chăm, góp phần hình thành bức tranh văn hóa đặc sắc của thành phố Trong thời kỳ thuộc địa và chiến tranh Việt Nam, Sài Gòn hấp thụ thêm các yếu tố văn hóa Âu Mỹ và phương Tây, làm phong phú thêm nền văn hóa địa phương Những thập niên gần đây, với sự phát triển kinh tế và du lịch, thành phố tiếp tục mở rộng sự đa dạng văn hóa và các trải nghiệm cho du khách và người dân.

Với vai trò là trung tâm văn hóa của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 22 đơn vị nghệ thuật, 9 rạp hát, 11 bảo tàng, 22 rạp chiếu phim và 25 thư viện, tạo nên một hệ sinh thái giải trí đa dạng và nhộn nhịp nhất cả nước Hoạt động của ngành giải trí thành phố rất lớn khi hầu hết các hãng phim tư nhân lớn như Phước Sang, Thiên Ngân, HKFilm, Việt Phim đều đặt trụ sở tại đây, và rạp chiếu phim của thành phố chiếm khoảng 60-70% doanh thu chiếu phim của cả nước Thành phố còn sở hữu nhiều sân khấu phong phú: Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ ở Quận 3 với các vở thử nghiệm, Sân khấu Hài 135 ở Quận 1 với các chương trình thư giãn, và IDECAF với các vở lấy từ tuồng tích cổ hoặc tái hiện các danh tác thế giới Lĩnh vực ca nhạc tại Hồ Chí Minh được xem là thị trường sôi động nhất, là điểm đến của phần lớn các ca sĩ nổi tiếng.

Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, Thành phố Hồ Chí Minh có dân số 7.162.864 người và 1.824.822 hộ gia đình, trong đó 1.509.930 hộ ở khu vực thành thị và 314.892 hộ ở nông thôn, bình quân 3,93 người mỗi hộ Dân số được phân theo giới tính: nam 3.435.734 người (47,97%) và nữ 3.727.130 người (52,03%) Những năm gần đây dân số TP.HCM tăng nhanh, và trong thập kỷ 1999-2009 dân số thành phố có sự tăng trưởng đáng kể.

Trong vòng 10 năm, TP Hồ Chí Minh tăng thêm 2.125.709 người, bình quân hơn 212.000 người mỗi năm, với tốc độ tăng 3,54%/năm và chiếm 22,32% số dân tăng thêm của cả nước; 572.132 người, tương đương dân số của một tỉnh như Quảng Trị hay Ninh Thuận, là dân số của quận Bình Tân – quận có dân số lớn nhất cả nước Tương tự, huyện Bình Chánh với 420.109 dân là huyện có dân số lớn nhất trong số các huyện cả nước Trong khi đó, huyện Cần Giờ với 68.846 dân là dân số thấp nhất trong các quận, huyện của thành phố Theo số liệu thống kê năm 2009, 83,32% dân cư sống ở khu vực đô thị Thành phố Hồ Chí Minh có gần một phần ba dân số là dân nhập cư từ các tỉnh khác.

CƠ SỞ KHOA HỌC PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC

TỔNG QUAN VỀ PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC

3.1.1 Phân vùng chất lượng nước ở Việt Nam

Hiện nay, phân vùng chất lượng nước ở Việt Nam được xác định dựa trên quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước (QCVN) Tùy từng loại nước sử dụng, mỗi quy chuẩn áp dụng các cách phân loại khác nhau: có thể chia thành các cột như A hoặc B đối với QCVN 14 và QCVN 24, hoặc chia thành các nhóm A1, A2, B1, B2 đối với QCVN 08, hoặc không theo cột mà phân theo mục đích sử dụng trong QCVN 10 Mỗi quy chuẩn quy định riêng cho từng thông số và các ngưỡng nhằm xác định loại nước; ví dụ đối với thông số COD, ở QCVN 08:2008, vùng nước được xếp loại A1, A2, B1, B2 với các ngưỡng tương ứng đã được nêu rõ.

50 mg/l, nhưng ở QCVN 24:2009 có quy định giá trị của thông số ô nhiễm loại A là

QCVN 10:2008 quy định các vùng nước theo mục đích sử dụng: vùng nuôi trồng thủy sản và bảo tồn thủy sinh là 3 mg/l, vùng bãi tắm và thể thao dưới nước là 4 mg/l; ngoài ra, còn có tham chiếu là 50 mg/l và loại B là 100 mg/l cho các điều kiện sử dụng khác.

Hiện nay, nhiều địa phương trong nước đã áp dụng phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI) WQI là một phương tiện có khả năng tập hợp lượng lớn số liệu chất lượng nước, đơn giản hóa chúng và cung cấp thông tin dễ hiểu cho các cơ quan quản lý tài nguyên nước, môi trường và công chúng Trong quy hoạch quản lý tài nguyên nước, phân vùng chất lượng nước trên phạm vi rộng là một yêu cầu hết sức quan trọng và WQI là công cụ hữu hiệu để đáp ứng nhiệm vụ này Ví dụ, ở TP Hồ Chí Minh đã thực hiện phân vùng chất lượng nước theo chỉ số WQI cho các sông, kênh, rạch trong khu vực thành phố năm 2007-2008; ở tỉnh Thừa Thiên Huế đã đánh giá chất lượng nước sông Bồ.

3.1.2 Phân vùng chất lượng nước ở một số nước trên thế giới

Hiện nay, ngoài các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia riêng biệt về chất lượng nước của từng nước, nhiều quốc gia đã áp dụng rộng rãi phương pháp đánh giá chất lượng nước bằng chỉ số chất lượng nước (WQI) Chỉ số này tổng hợp nhiều tham số chất lượng nước khác nhau và biến chúng thành một thang đo đơn giản, giúp đánh giá mức độ an toàn và phục vụ cho công tác quản lý, giám sát và truyền thông về chất lượng nước tới công chúng Việc ứng dụng WQI phổ biến do khả năng so sánh giữa các khu vực, hỗ trợ quyết định quản trị nguồn nước và tăng cường nhận thức của cộng đồng về tình trạng nước và các biện pháp cải thiện.

Hiện nay trên thế giới có nhiều dạng WQI được sử dụng (hơn 30 loại), trong đó đáng chú ý nhất là WQI của Canada do The Canadian Council of Ministers of the Environment (CCME) công bố năm 2001 WQI-CCME được xây dựng trên một tập dữ liệu rất lớn và sử dụng một quy trình thống kê với tối thiểu 4 thông số và 3 hệ số chính (F1 - phạm vi, F2 - tần suất, F3 - biên độ của các kết quả không đạt mục tiêu chất lượng nước và giới hạn chuẩn) WQI-CCME là một công thức mang tính định lượng cao và rất thuận tiện để sử dụng, vì các tham số và các giá trị chuẩn (mục tiêu chất lượng nước) có thể dễ dàng đưa vào để tính toán tự động Tuy nhiên, trong WQI-CCME vai trò của các thông số chất lượng nước được xem như nhau, trong khi thực tế các thành phần chất lượng nước có ảnh hưởng khác nhau đối với nguồn nước; ví dụ như chất rắn lơ lửng không mang ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng nước nguồn nước như oxy hòa tan.

Chỉ số WQI-NSF là một trong những bộ chỉ số chất lượng nước phổ biến do Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (NSF) phát triển WQI-NSF được xây dựng bằng kỹ thuật Delphi do Rand Corporation thực hiện, thu nhận và tổng hợp ý kiến của nhiều chuyên gia trên toàn nước Mỹ để chọn các thông số chất lượng nước quan trọng, xác định trọng số cho từng tham số (wi) và chuyển đổi sang chỉ số phụ (qi) thông qua các đồ thị Quá trình này dựa trên ý kiến của các nhà khoa học về chất lượng nước và so sánh với mục tiêu chất lượng nước thông qua đồ thị qi Tuy nhiên, wi và đồ thị qi trong WQI-NSF được tối ưu cho điều kiện chất lượng nước tại Mỹ và có thể không áp dụng được ở các nước khác.

Để áp dụng chỉ số chất lượng nước (WQI) một cách hiệu quả, cần xem xét điều kiện khí hậu thủy văn riêng của từng quốc gia để phù hợp với thực tế sử dụng Ví dụ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhiệt độ thường biến động rất ít hoặc gần như không đổi, nên yếu tố nhiệt độ nguồn nước có thể bỏ qua khi xây dựng và áp dụng WQI trong thực tế.

ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ các suối Tonlé Chàm và rạch Chàm tại biên giới Việt Nam – Campuchia (huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước), chảy vào hồ Dầu Tiếng và hình thành ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh và Bình Dương, sau đó giữa Bình Dương và TP Hồ Chí Minh Từ hồ Dầu Tiếng, dòng sông đi qua trung tâm TP Hồ Chí Minh và hợp lưu với sông Đồng Nai tại ngã ba Đèn Đỏ.

Ở thượng lưu sông Đồng Nai có hai nhánh chính là Đa Nhim và Đa Dung, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, chảy qua vùng Đông Bắc tỉnh Lâm Đồng và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Cát Tiên của Lâm Đồng với các huyện của Đắk Nông, Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) và Tân Phú (tỉnh Đồng Nai), trước khi đổ vào hồ Trị An Sau hồ Trị An, sông Đồng Nai nhận nước từ sông Bé rồi tiếp tục chảy qua các huyện Tân Uyên (tỉnh Bình Dương), Vĩnh Cửu, Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch – tỉnh Đồng Nai, quận 9 và quận 2 – TP Hồ Chí Minh, hợp lưu với sông Sài Gòn ở ngã ba Đèn Đỏ để hình thành sông Nhà Bè Từ Phú Xuân - huyện Nhà Bè, dòng sông chia thành nhiều nhánh đổ vào vịnh Gành Rái Các nhánh chính là Soài Rạp, Lòng Tàu - Ngã Bảy, Đồng Tranh, Gò Da.

Ở thượng nguồn, sông La Ngà được gọi là Da R’Gna và bắt nguồn từ các suối nhỏ trên cao nguyên Di Linh và Bảo Lộc, Bảo Lâm thuộc tỉnh Lâm Đồng; từ đây nó chảy về các huyện Tánh Linh, Đức Linh của Bình Thuận, rồi qua Xuân Lộc và Định Quán thuộc Đồng Nai trước khi đổ vào hồ Trị An Hồ Trị An hoàn thành vào năm 1987, có dung tích 2,54 tỷ mét khối, là hồ thủy điện lớn nhất miền Nam.

Sông Bé bắt nguồn từ Đắk R’lấp (tỉnh Đắk Nông), chảy qua các huyện Bù Đăng, Phước Long, Lộc Ninh và Bình Long ở tỉnh Bình Phước, rồi đi qua Phú Giáo, Tân Uyên ở tỉnh Bình Dương và đổ vào sông Đồng Nai tại vị trí sau nhà máy thủy điện Trị An Trên địa phận tỉnh Bình Phước có hồ Thác Mơ (dung tích 1,2 tỷ m³) được xây dựng vào năm 1994.

Diện tích và chiều dài của những con sông chính trong lưu vực được trình bày trong Bảng 3.1

Bảng 3.1: Diện tích lưu vực và chiều dài các con sông chính

Sông chính Diện tích lưu vực (km 2 ) Chiều dài (km) Đồng Nai

Nguồn: Quy hoạch Tổng thể Vùng trọng điểm Kinh tế phía Nam ([49], 1995)(cột có dấu *) và Dự án "Môi trường lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai do Lâm Minh Triết chủ nhiệm 12.2002 (cột có dấu **) [41]

3.2.2 Chế độ thủy văn ở lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn

Chế độ dòng chảy ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ mưa và chế độ triều từ biển Đông Do vậy chế độ thủy văn biến đổi lớn theo không gian và thời gian - mưa nhiều thì dòng chảy mạnh, mưa ít thì dòng chảy yếu, thuỷ triều mạnh (triều cường) thì dòng chảy mạnh hơn, xâm nhập sâu vào đất liền, có biên độ lớn, khi triều kém thì ngược lại

Khí hậu của lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa kiệt, nên chế độ dòng chảy ở lưu vực cũng hình thành hai chế độ tương ứng: chế độ dòng chảy mùa mưa và chế độ dòng chảy mùa kiệt Sự biến đổi dòng chảy giữa hai mùa rất đối lập, với lưu lượng cao và mực nước dâng lên trong mùa mưa, ngược lại dòng chảy giảm mạnh và mực nước xuống thấp trong mùa kiệt Những đặc trưng này ảnh hưởng đến quản lý nguồn nước, cấp nước và công tác phòng chống lũ ở khu vực.

 Chế độ thủy văn mùa mưa

Mùa mưa thường bắt đầu từ nửa cuối tháng 4 và kết thúc vào nửa đầu tháng 11, kéo dài khoảng 7 tháng trên toàn lưu vực Lượng mưa trung bình hàng năm ở lưu vực được ghi nhận ở mức khá cao, cho thấy sự ổn định của nhịp điệu mùa mưa trong khu vực Việc nhận biết thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa giúp dự báo lượng nước, quản lý nguồn nước và lên kế hoạch sản xuất nông nghiệp hiệu quả hơn.

Trong lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai, phân bố lượng mưa thể hiện sự chênh lệch giữa các khu vực: vùng có lượng mưa lớn nhất gồm Trung lưu sông Đồng Nai, Bảo Lộc, thượng nguồn nhánh Dargna và thượng lưu sông Bé với mức mưa hàng năm đạt 2700–3000 mm Ngược lại, vùng có lượng mưa nhỏ nhất nằm ở ven biển Vũng Tàu, Cần Giờ và hạ lưu sông Vàm Cỏ với khoảng 1100–1300 mm mỗi năm Các khu vực còn lại thuộc lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai có lượng mưa dao động từ 1600–2400 mm mỗi năm.

Mô-đun dòng chảy trung bình trên toàn lưu vực hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn khoảng 25 l/s/km^2, tương ứng với lớp dòng chảy 800 mm trên tổng lượng mưa trung bình 2100 mm, đạt hệ số dòng chảy khoảng 0,83 và thuộc loại dòng chảy trung bình ở nước ta Do sự phân bố lượng mưa không đồng đều giữa các vùng nên phân bố dòng chảy cũng không giống nhau theo vùng Dựa trên số liệu thực tế, có thể xác định một số vùng đặc trưng như sau.

Lưu vực có môđun dòng chảy nhỏ, điển hình là Sông Vàm Cỏ Đông và hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn, với môđun dòng chảy khoảng 15–20 l/giây/km²; hạ lưu Đa Nhim có môđun dòng chảy 20–22 l/giây/km² Đây là những vùng có hiệu suất dòng chảy thấp, chỉ từ 23–33% lượng mưa.

- Lưu vực có môđun dòng chảy trung bình: Hạ lưu sông Bé, ven biển Vũng Tàu - TP Hồ Chí Minh, thượng lưu sông Sài Gòn: môđun dòng chảy từ 18 -

Lưu vực có mô-đun dòng chảy lớn, điển hình tại Trung lưu sông Đồng Nai, thượng lưu sông Bé và sông La Ngà, với mô-đun dòng chảy từ 38–43 l/s/km^2 Tại các khu vực hẹp hơn, mô-đun dòng chảy có thể đạt tới 46 l/s/km^2 Đặc trưng dòng chảy ở một số điểm trong lưu vực được nêu trong bảng 3.2.

Bảng 3.2: Đặc trưng dòng chảy một số điểm trong lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn

Qp (m 3 /s) Điểm Sông FLv km 2

Nguồn: Trích từ đề tài "Phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI) ở TP.HCM” PGS-TS Lê Trình

Dòng chảy mùa lũ ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn thường bắt đầu vào tháng 6 hoặc tháng 7, tức là xuất hiện sau mùa mưa từ 1–2 tháng, và kết thúc vào tháng 9.

Mùa lũ kéo dài khoảng 5–6 tháng, tùy theo vị trí từng vùng Thời gian bắt đầu và kết thúc mùa lũ khác nhau giữa các khu vực do điều kiện tự nhiên và địa hình If căn cứ vào tiêu chuẩn so sánh lưu lượng trung bình tháng với lưu lượng trung bình năm, thì thời gian của một số vùng được xác định theo tiêu chuẩn này.

- Mùa lũ thượng Đa Nhim kéo dài 3 - 4 tháng, từ tháng 8 - 9 đến tháng 11 -

- Thượng lưu La Ngà, nhánh Da Kna, mùa lũ kéo dài 6 tháng, từ tháng 6 đến tháng 11

- Trên các đoạn sông còn lại: trung lưu sông Đồng Nai Lưu vực sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông: mùa lũ kéo dài 5 tháng

Các tháng đầu mùa mưa là thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa lũ và mùa kiệt, thường là tháng 5 và tháng 6 Phần lớn các sông thuộc lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn có lưu lượng vào tháng 6 đạt 60-75% lưu lượng trung bình năm Trong mùa lũ, đỉnh lũ cao nhất trên các sông thường xảy ra vào tháng 8, tháng 9 và tháng 11 Môđun dòng chảy trung bình theo tháng đối với các lưu vực lớn khoảng 60-80 l/s/km², còn các lưu vực nhỏ thường 100-150 l/s/km²; môđun lũ trung bình khoảng 0,2-0,5 m³/s/km² đối với lưu vực lớn và 0,8-1,2 m³/s/km² đối với lưu vực nhỏ Đối với tần suất 1%, các trị số này có thể cao hơn 5-10 lần tuỳ khu vực Bảng 3.3 cho các giá trị lưu lượng lớn nhất và tổng lượng lũ sông Đồng Nai (ở trạm Cây Gáo).

Bảng 3.3: Lưu lượng lớn nhất của sông Đồng Nai tại trạm Cây Gáo

Lưu lượng lũ QP = m 3 /s Tổng lượng lũ WP = 109 m 3

KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUỒN Ô NHIỄM Ở LƯU VỰC ĐỒNG NAI – SÀI GÒN ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG, KÊNH RẠCH

3.3.1 Ảnh hưởng của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp

Luận văn xem xét chi tiết mức độ phát sinh nước thải và mức độ tiếp nhận nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt ở từng phân lưu vực của lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn bằng cách chia toàn bộ lưu vực thành 8 tiểu lưu vực (phân lưu vực).

- Tiểu lưu vực thượng lưu sông Đồng Nai

- Tiểu lưu vực sông Bé

- Tiểu lưu vực sông La Ngà

- Tiểu lưu vực sông Đồng Nai

- Tiểu lưu vực sông Sài Gòn

- Tiểu lưu vực sông Thị Vải

- Tiểu lưu vực sông Vàm Cỏ

- Tiểu lưu vực các sông Nhà Bè – Soài Rạp và các sông ven biển Cần Giờ

Việc phân chia các tiểu lưu vực và tính toán dự báo mức độ tiếp nhận nước thải cho từng tiểu lưu vực cho thấy xu hướng suy giảm chất lượng nước ở các sông và kênh rạch nằm trong từng khu vực Do đó, luận văn có thể dự báo tác động của nước thải đến chất lượng nước ở các đoạn sông, kênh rạch khác nhau Kết quả phân tích cung cấp cơ sở cho quản lý nguồn nước bằng cách nhận diện các điểm nhạy cảm và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm phù hợp với đặc thù từng tiểu lưu vực Việc này tăng cường khả năng đánh giá rủi ro và tối ưu hóa chiến lược bảo vệ chất lượng nước cho hệ thống sông và kênh rạch.

 Tổng lưu lượng và tải lượng ô nhiễm công nghiệp của các tiểu lưu vực thuộc lưu vực sông Đồng Nai -Sài Gòn

Lưu lượng nước và tải lượng ô nhiễm đưa vào các tiểu lưu vực thuộc hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn trong năm 2007 được tổng hợp và trình bày trong Bảng 3.9 Các giá trị này cho thấy mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm lên từng tiểu lưu vực, trong khi số liệu cụ thể theo từng khu công nghiệp được nêu chi tiết trong phần phụ lục.

Bảng 3.9: Tổng lưu lượng và tải lượng ô nhiễm của các tiểu lưu vực thuộc hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn năm 2007

Tải lượng chất ô nhiễm (kg/ngày)

Lưu lượng nước thải (m 3 /ngày)

1 Tiểu lưu vực thượng lưu sông Đồng Nai

2 Tiểu lưu vực sông Bé 5.760 1.037 846 1.843 334 46

3 Tiểu lưu vực sông La

4 Tiểu lưu vực hạ lưu sông Đồng Nai

Nhà Bè và cửa Soài

Nguồn: Viện Môi trường và Phát triển Bền vững (VESDEC), 10.2007

Nước thải công nghiệp không chỉ chứa các chất hữu cơ ở mức BOD, COD cao và chất rắn lơ lửng mà còn có hàm lượng dầu mỡ lớn, kim loại nặng và các chất hữu cơ bền vững có độc tính cao Những đặc tính ô nhiễm này là mối đe dọa nghiêm trọng đến chất lượng nước, đời sống thủy sinh, thủy sản và sức khỏe con người trong lưu vực.

3.3.2 Ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt

Các sông, kênh rạch ở vùng TP Hồ Chí Minh nằm ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn, nên đang và sẽ tiếp nhận phần lớn nước thải sinh hoạt từ các sông ở thượng nguồn đổ xuống Để đánh giá ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt đối với chất lượng nước tại các sông và kênh rạch ở thành phố, luận văn đã sử dụng số liệu dân số và lưu lượng nước cấp từ từng huyện thuộc lưu vực, bao gồm tất cả các tỉnh trong vùng Đồng Nai – Sài Gòn, nhằm phân tích mức độ tác động trên toàn lưu vực theo đề tài.

Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông-kênh-rạch ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy một phương pháp tiếp cận toàn diện để xác định mức độ an toàn và tiềm năng khai thác nước Dựa vào hệ số tải lượng các chất ô nhiễm chính như BOD, COD, SS, TS và NO3, nghiên cứu xây dựng bản đồ/khung đánh giá chất lượng nước theo vùng, từ đó xác định các nguồn nước phù hợp cho sinh hoạt và sản xuất Kết quả này cung cấp cơ sở cho quản lý nguồn nước và đưa ra các tiêu chí khai thác nước hiệu quả từ các nguồn sông-kênh-rạch tại TP Hồ Chí Minh, đồng thời hỗ trợ quyết định về biện pháp xử lý và tối ưu hoá sử dụng nước dựa trên WQI Nghiên cứu của PGS-TS Lê Trình làm nổi bật vai trò của WQI và tải lượng chất ô nhiễm chính trong việc đánh giá và phân vùng chất lượng nước ở đô thị lớn.

+, N tổng số, P tổng số và dầu mỡ) đưa vào từng tiểu lưu vực

 Lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt

- Lưu lượng nước thải sinh hoạt

Theo số liệu năm 2007, toàn lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn có khoảng 12,5 triệu người Lượng nước sinh hoạt tiêu thụ hàng ngày vào khoảng 1,54 triệu m3, với mức cấp nước được ước tính trung bình là 100 L/người/ngày đêm đối với các huyện thị, thành phố ở các tỉnh và 150 L/người/ngày đêm đối với các quận, huyện thuộc TP Hồ Chí Minh Tương ứng, lượng nước thải sinh hoạt trả về lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn này vào khoảng hơn 1,23 triệu m3 nước thải, bằng khoảng 80% lượng nước cấp.

Tổng lưu lượng nước thải đưa vào lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn vào năm 2007 là 1.231.120m 3 /ngày đêm

- Tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt đưa vào sông, kênh rạch

Ở toàn lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn, tải lượng ô nhiễm trung bình hàng ngày từ hoạt động sinh hoạt của khoảng 12,5 triệu người được ước tính là hơn 600 tấn BOD, hơn 1.100 tấn COD, hơn 1.300 tấn SS, gần 2.400 tấn TS và gần 45 tấn Nitơ hữu cơ. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Nâng cao nội dung về môi trường với Pollinations.AI, hỗ trợ miễn phí qua [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để lan tỏa kiến thức cho cộng đồng.

+, hơn 100 tấn N tổng số, gần 30 tấn P tổng số và gần 19 tấn dầu mỡ động thực vật

Lượng nước thải và tải lượng ô nhiễm đáng kể đã góp phần gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nhiều tiểu lưu vực thuộc hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn, đặc biệt ở các tiểu lưu vực hạ lưu của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, cùng các sông ven biển; ô nhiễm này đặc biệt nặng tại hệ thống kênh rạch nội thành TP Hồ Chí Minh, cho thấy tác động sâu rộng của ô nhiễm nguồn nước lên chất lượng nước và môi trường đô thị.

Bảng 3.10: Tổng hợp lưu lượng và tải lượng ô nhiễm theo từng phân lưu trong lưu vực sông Đồng Nai Sài Gòn năm 2005

Tải lượng ô nhiễm (kg/ngày.đêm) Phân lưu

(m 3 /ngày.đêm) BOD COD SS TS N hc NH 4

Thượng lưu sông Đồng Nai 98.589 61002 115226 132479 240310 4436 6655 11091 2958 18485

Sông Vàm Cỏ và các sông ven biển 197.265 120680 227951 262082 475405 8777 13165 21942 5851 36570

Nguồn: Viện Môi trường và Phát triển Bền vững (VESDEC), 10.2007

- Các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài khu công nghiệp

Trên lưu vực có trên 57.000 cơ sở sản xuất công nghiệp (CN) và tiểu thủ công nghiệp (TTCN) với nhiều quy mô và ngành nghề khác nhau, phân tán rộng khắp các địa phương nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ về tình hình hoạt động sản xuất và nguồn thải từ các cơ sở CN, TTCN phân tán trên lưu vực Tuy nhiên, đây được xem là nguồn thải công nghiệp tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn, do phần lớn nước thải từ các cơ sở CN, TTCN ngoài khu công nghiệp (KCN) không được xử lý.

- Nước thải từ các bãi rác

Trên lưu vực hiện có khoảng 73 bãi rác hoạt động với quy mô khác nhau Phần lớn các bãi rác này được duy trì ở mức hợp vệ sinh, tuy nhiên chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác Điều này khiến các nguồn thải từ bãi rác trở thành một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước cho hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn với mức độ ô nhiễm đáng kể.

Nước thải từ bệnh viện, chợ, trung tâm thương mại và siêu thị là những nguồn ô nhiễm nước đáng kể trong hệ sinh thái đô thị Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại chưa có số liệu thống kê đầy đủ về lưu lượng nước thải và tải lượng ô nhiễm cho các loại hình nguồn này, khiến việc đánh giá tác động môi trường và lập kế hoạch quản lý nước thải chưa thể thực hiện một cách hiệu quả.

3.3.3 Ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm nông nghiệp

 Hiện trạng sử dụng phân bón và hóa chất BVTV

Theo khảo sát của đề tài "Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông kênh rạch ở thành phố Hồ Chí Minh" do PGS-TS Lê Trình thực hiện, tại các tỉnh trong lưu vực lượng phân bón hóa học trung bình khoảng 200 kg/ha/vụ, lượng hóa chất BVTV trung bình khoảng 0,75 kg/ha/vụ; các loại phân bón chính là phân đạm (urea), phân lân và các loại phân NPK, trong khi các hóa chất BVTV chính là các loại kém bền vững: phospho hữu cơ, carbamat, pyrethroid tổng hợp và một số ít các hợp chất clo hữu cơ có độ bền cao.

Năm 2005 lượng phân bón sử dụng khoảng 471.387.400 kg/vụ và lượng hóa chất BVTV được sử dụng vào khoảng 1.767.702,5 kg/vụ Lượng phân bón chứa hàm lượng

N, P cao này là một trong những nguyên nhân chính gây ra hiện tượng phú dưỡng hoá và suy giảm tài nguyên thuỷ sinh của sông rạch trong lưu vực Tuy nhiên, lượng hóa chất BVTV sẽ đưa vào lưu vực không lớn đồng thời phần lớn các hóa chất BVTV được

Hiện nay, các hóa chất được sử dụng có độ bền thấp và dễ phân hủy trong môi trường, nên nguy cơ ô nhiễm nước trong lưu vực là không cao Tuy nhiên, ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật có thể xảy ra một cách cục bộ tại các điểm nhận nước khi nước chảy tràn qua các đồng ruộng đã phun hóa chất.

3.3.4 Ảnh hưởng của hoạt động thủy lợi, nuôi trồng thủy sản

HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT VÀ MÔI TRƯỜNG TIẾP NHẬN NƯỚC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH

3.4.1 Hiện trạng chất lượng nước tại khu vực sử dụng cho mục đích cấp nước cho thành phố Hồ Chí Minh

Bến Súc Phú Cường Kênh N46 Rạch Tra pH

Hình 3.1 : Thông số pH tại các trạm quan trắc chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước cho thành phố 6 tháng đầu năm 2011

Giá trị pH dao động trong khoảng 6,00 – 6,49, tất cả các điểm quan trắc đều cho kết quả pH nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT loại A1 và A2

Bến Súc Phú Cường Kênh N46 Rạch Tra Độ mặn (mg/l)

Hình 3.2 : Biểu đồ nồng độ Cl - tại các trạm quan trắc chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước cho thành phố 6 tháng đầu năm 2011

47 Độ mặn dao động từ 22,23 – 99,63 (mg/l), và đều đạt giới hạn cho phép loại A1(

Ngày đăng: 30/10/2022, 00:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Chi cục môi trường khu vực Đông Nam Bộ, “Báo cáo quan trắc chất lượng môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía nam 6 tháng đầu năm 2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quan trắc chất lượng môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía nam 6 tháng đầu năm 2011
[2] Chi cục môi trường khu vực Đông Nam Bộ, “Báo cáo quan trắc chất lượng môi trường nước lưu vực hệ thống sông Đồng Nai 6 tháng đầu năm 2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quan trắc chất lượng môi trường nước lưu vực hệ thống sông Đồng Nai 6 tháng đầu năm 2011
[3] Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, “Báo cáo kết quả quan trắc chất lượng môi trường thành phố Hồ Chí Minh 6 tháng đầu năm 2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả quan trắc chất lượng môi trường thành phố Hồ Chí Minh 6 tháng đầu năm 2011
[4] Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, “Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước kênh tiêu Ba Bò năm 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước kênh tiêu Ba Bò năm 2009
[5] Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, “ Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước mặt kênh Thầy Cai – An Hạ - khu vực Lê Minh Xuân – Phạm Văn Hai năm 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước mặt kênh Thầy Cai – An Hạ - khu vực Lê Minh Xuân – Phạm Văn Hai năm 2009
[6] Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, “Báo cáo kết quả giám sát ô nhiễm nước mặt Suối Cái – Xuân Trường, Thủ Đức năm 2009.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả giám sát ô nhiễm nước mặt Suối Cái – Xuân Trường, Thủ Đức năm 2009
[7] Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, “Báo cáo kết quả giám sát rạch Bến Cát năm 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả giám sát rạch Bến Cát năm 2009
[8] Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, “Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước mặt kênh Thầy Cai – An Hạ - khu công nghiệp Tân Phú Trung năm 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước mặt kênh Thầy Cai – An Hạ - khu công nghiệp Tân Phú Trung năm 2009
[9] Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, “Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước rạch Nước Lên – sông Chợ Đệm năm 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả giám sát chất lượng nước rạch Nước Lên – sông Chợ Đệm năm 2009
[10] PGS-TS Lê Trình , phân viện Công Nghệ Mới và Bảo Vệ Môi Trường, Đề tài "Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông kênh rạch ở thành phố Hồ Chí Minh” năm 2007 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông kênh rạch ở thành phố Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w