1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUAN VAN HOANG THI LE THAY DA SUA

57 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 905,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngược lại, nếu hoạt động này lỏng lẻo, không được coi trọng sẽ là điều kiện làm lan nhanh sự không tuân thủ pháp luật, hậu quả không chỉ thiệt hại đến ngân sách Nhà nước mà còn tạo ra sự

Trang 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Để tránh đổ vỡ, phá sản và gia tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp có thể tác động đến thị trường và xã hội theo các cách khác nhau, trong đó không loại trừ cả những hành vi tiêu cực như trốn thuế, cắt giảm chi phí sản xuất, bóc lột sức lao động Điều đó đặt ra yêu cầu cần có một thiết chế kiểm soát, thông qua kiểm tra doanh nghiệp, điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp theo hướng có lợi cho xã hội Trong những vấn đề về quản lý thuế thì công tác kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về thuế có tầm quan trọng đặc biệt Vì kiểm tra là hoạt động thường xuyên, tất yếu của quản lý nhà nước nói chung và quản lý về thuế nói riêng Kiểm tra thuế có mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế trên cơ sở đó có biện pháp uốn nắn, chấn chỉnh và xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Thực tiễn cho thấy nếu hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế được thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả sẽ làm tăng tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Ngược lại, nếu hoạt động này lỏng lẻo, không được coi trọng sẽ là điều kiện làm lan nhanh sự không tuân thủ pháp luật, hậu quả không chỉ thiệt hại đến ngân sách Nhà nước mà còn tạo ra sự bất công đối

Tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ, trong những năm qua công tác kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp đã được coi trọng đúng với vai trò và vị trí của

nó Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn những vấn đề tồn tại, hạn chế, những điểm bất cập cần phải được khắc phục, hoàn thiện Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện liên quan đến nội dung này tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ

Vì vậy, với vai trò là một công chức đang công tác tại chi cục thuế, tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ” làm Luận văn Thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 2

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiển về công tác kiểm tra thuế và đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp, luận văn tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, thực tiển liên quan đến công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nói chung và đối với công tác kiểm tra thuế đối với Chi cục thuế khu vực Đông Hà – Cam Lộ nói riêng

Các hồ sơ kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp do Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ thực hiện từ năm 2017 đến năm 2019

Quy trình kiểm tra thuế được ban hành theo Quyết định số 746/QĐ-TCT ngày

20 tháng 4 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

Các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến hiệu quả trong công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 3

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ

Về thời gian: Để phục vụ đề tài nghiên cứu, tác giả thu thập và khai thác số liệu kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ

từ năm 2017 đến năm 2019 Những kiến nghị đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục thuế khu vực Đông Hà – Cam Lộ giai đoạn 2020-2025

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

+ Số liệu thứ cấp:

- Các số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các phần mềm quản lý dữ liệu chuyên môn: BCTC (phần mềm hỗ trợ phân tích Báo cáo tài chính), TMS (phần mềm quản lý thuế tập trung), TTR(hệ thống hỗ trợ kiểm tra ), TPR(hệ thống kiểm tra rủi ro)

- Các Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện công tác thu NSNN của Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ từ năm 2017 - 2019

- Các Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp của Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ từ năm 2017 - 2019

- Các Báo cáo thống kê về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị từ năm 2017 - 2019

- Các bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu trên Website Tổng cục Thuế; các bài viết trên Tạp chí Thuế

- Các tài liệu khác có liên quan

+ Số liệu sơ cấp:

Được thu thập bằng cách khảo sát, phỏng vấn các DN dựa trên số lượng các

DN mà Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ quản lý bàng phương pháp chọn

Trang 4

ngẫu nhiên 100 DN do Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ quản lý để tiến hành điều tra

4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích

Trên cơ sở các nguồn dữ liệu đã thu thập được nêu trên, tác giả tiến hành sử dụng các phương pháp tổng hợp thống kê, phương pháp thông kê mô tả và các phương pháp phân tích khác để phục vụ cho việc nghiên cứu và viết luận văn

5.Kết cấu của luận văn

Luận văn được trình bày theo kết cấu quy định của cơ sở đào tạo, cụ thể: Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Nội dung nghiên cứu

Chương I: Những vấn đề lý luận và thực tiển về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ giai đoạn 2017-2019

Chương III: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ trong thời gian tới

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Trang 5

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA THUẾ

1.1 Cơ sở lý luận về thuế

1.1.1 Khái niệm về thuế

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước Như vậy, thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định

Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Như vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội

1.1.2 Bản chất của thuế

Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị

Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước

Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất, )

Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu

Trang 6

1.1.3 Chức năng, vai trò của thuế

1.1.3.1 Chức năng của thuế

Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính Trong thế kỷ XIX thì đa số các ý kiến cho rằng thuế chỉ nên chủ yếu giữ chức năng tài trợ cho Nhà nước nhưng đến nay thuế còn được sử dụng để đạt nhiều mục tiêu khác nhau, thông thường các nhà kinh tế cho rằng thuế có 2 chức năng chủ yếu là: chức năng phân phối và chức năng điều tiết kinh tế

 Chức năng phân phối

Ngay từ lúc ra đời, thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách nhà nước Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân hình thành thuế Bằng chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để huy động nguồn lực tài chính vào tay Nhà nước

Chức năng phân phối là chức năng cơ bản, đặc thù nhất mà các Nhà nước đều phải dựa vào đó, thông qua chức năng này, quỹ ngân sách nhà nước được hình thành, đây là cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động và tồn tại của Nhà nước Lịch sử đã cho thấy chức năng phân phối của thuế có vị trí ngày càng tăng, nhất là vào thế kỷ XX với sự tăng lên chưa từng có thu nhập của Nhà nước

có nguồn gốc từ thuế Trong những năm sau chiến tranh thế giới lần II, thu nhập

về thuế của các nước công nghiệp phát triển tăng mỗi thập kỷ hơn 1,5 lần, đồng thời người ta cũng ghi nhận có sự gia tăng số thu về thuế so với thu nhập quốc dân

Chức năng phân phối của thuế được Nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “Nhà nước hóa” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ,tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các

Trang 7

hoạt động kinh tế, tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế

 Chức năng điều tiết kinh tế

Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX gắn liền với chức năng điều chỉnh của Nhà nước đối với nền kinh tế Chức năng điều tiết kinh tế của thuế không thể tách rời chức năng phân phối, hai chức năng này có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ Khi Nhà nước sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận GDP vào tay Nhà nước thì Nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham giavào quá trình sản xuất Thuế tác động vào sản xuất theo các khía cạnh:

– Thuế ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu, đồng thời thông qua

cơ chế của mức cầu thị trường có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất Điều này phụ thuộc rất lớn vào thu nhập mà người dân sử dụng, vì vậy sự thay đổi mức thuế đánh vào tiêu dùng ngay lập tức tác động vào mức cầu, ảnh hưởng đến tổng mức cầu của nền kinh tế

– Mức độ đánh thuế trên thu nhập cũng ảnh hưởng đến việc xác định tiền lương, bởi vì khi tính toán tiền lương, giới chủ nhân và người làm thuê bao giờ cũng chú ý đến thuế như là yếu tố của tiền lương cần xem xét đến

– Thuế tác động đến việc mua sắm, sử dụng và phục hồi tài sản cố định trong doanh nghiệp thông qua các quy định của Nhà nước về hình thành, sử dụng quỹ khấu hao Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, thường xuyên

bị hao mòn đến khi không còn sử dụng được nữa vì vậy cần phải thay thế,việc thay thế này được tiến hành bằng cách lập quỹ khấu hao, quỹ này được hình thành từ một bộ phận lợi nhuận không chịu thuế và quỹ này chịu tác động của mức thuế

Giữa chức năng phân phối và chức năng điều tiết có mối quan hệ gắn

bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối nảy sinh đồng thời với sự ra đời của thuế, chức năng này được coi là cơ sở, nó quy định sự tác động và sự phát

Trang 8

triển của chức năng điều tiết Ngược lại, nhờ vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết đã làm cho chức năng phân phối có điều kiện phát triển Ý nghĩa của chức năng

phân phối càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu của Nhà nước đã tạo điều kiện khách quan để Nhà nước tác động sâu rộng đến hoạt động kinh tế-xã hội

1.1.3.2 Vai trò của thuế

Thứ nhất, thuế là một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ

mô của Nhà nước, Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân

Thứ hai, điều tiết nền kinh tế Nội dung điều tiết của thuế gồn hai mặt: Kích thích và hạn chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường

Có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định

Trang 9

Thứ ba, đảm bảo công bằng xã hội Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng

Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước

1.1.4 Phân loại thuế

Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại có nhiều loại thuế khác nhau:

Phân loại theo đối tượng chịu thuế

Căn cứ vào đối tượng chịu thuế có thể chia hệ thống thuế thành ba loại sau:

a Thuế thu nhập

Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được, thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần…

Do vậy thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau : Thuế thu nhập

cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 10

b Thuế tiêu dùng

Thuế tiêu dùng là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong hiện tại Bao gồm: Thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng…

c Thuế tài sản

Thuế tài sản là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản Bao gồm thuế bất động sản là thuế tài sản đánh trên giá trị của tài sản cố định,thuế động sản là thuế đánh trên tài sản chính

Phân loại thuế theo tính chất:

a Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được quy định nộp thuế Đây là loại thuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế và họ không có khả thu hồi lại tiền thuế Ví dụ như: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất …

b Nhóm thuế gián thu: là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi nó lưu chuyển trên thị trường, là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế, nó được tính vào sản phẩm hoặc dịch vụ mà cá nhân người dùng

là người chịu thuế Người nộp thuế gián thu là người đóng thuế hộ người tiêu dùng Ví dụ: V.A.T,…

Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế:

Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh

Thuế đánh vào sản phẩm

Thuế đánh vào thu nhập

Thuế đánh vào tài sản

Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước

1.2 Những vấn đề chung về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Trang 11

1.2.1 Khái niệm về kiểm tra thuế:

Hoạt động quản lý nhà nước chính là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý – Cơ quan thuế (CQT) tới các đối tượng quản lý - đối tượng nộp thuế (ĐTNT) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN Do vậy, kiểm tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động lãnh đạo quản lý nhà nước của CQT Hoạt động quản lý của CQT bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc

tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành, kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng quan trọng của cơ chế quản lý thuế theo mô hình chức năng (tuyên truyền hỗ trợ; kế toán và xử lý tờ khai; thu nợ và cưỡng chế; kiểm tra) Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của NNT, CQT thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Kiểm tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại

và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ

Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội

Kiểm tra thuế được hiểu là việc kiểm tra các hồ sơ khai thuế, các báo cáo tài chính trên cơ sở các nguyên tắc kế toán, quy định của luật thuế để xác định tính chính xác số thuế NNT phải nộp

1.2.2 Mục đích và vai trò của kiểm tra thuế

1.2.2.1 Mục đích của kiểm tra thuế

- Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức

và cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế

- Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Trang 12

- Thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, phát hiện những hạn chế chưa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung

- Động viên, khen thưởng để phát huy nhân tố tích cực, đồng thời tăng cường chấn áp và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực trong việc thực hiện pháp luật thuế

1.2.2.2 Vai trò của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Chống thất thu thuế với DN nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, đảm bảo thực hiện tốt các quy định của pháp luật thuế, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào NSNN, thực hiện công khai, dân chủ trong việc xác định thuế của các DN

Xác định ưu điểm, tồn tại trong công tác quản lý DN của Chi cục thuế, Cục thuế nhằm phát huy những mặt tích cực và chấn chỉnh các sai phạm, góp phần đưa công tác quản lý thuế, quản lý nội bộ nghành dần đi vào nề nếp và theo đúng quy định của pháp luật

Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả

về quy chế và tổ chức thực hiện Thông qua hoạt động kiểm tra thuế giúp giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến nhân dân và doanh nghiệp

1.2.3 Quy trình, nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

1.2.3.1 Quy trình kiểm tra thuế

Quy trình kiểm tra thuế được ban hành theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày

29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, năm 2015 được thay thế bằng Quy trình kiểm tra thuế được ban hành theo Quyết định số 746/QĐ-TCT ngày

20 tháng 4 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế mục đích là để tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của NNT nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế; nâng cao tính

tự giác tuân thủ pháp luật thuế của NNT trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế

và nộp thuế; thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh gây

Trang 13

phiền nhiễu và tạo điều kiện thuận lợi cho NNT phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Nội dung của Quy trình kiểm tra thuế được thể hiện và trình bày vắn tắt qua sơ đồ sau:

Trang 14

1.2.3.2 Nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

* Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở CQT:

Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở CQT đó là một trong bốn nội dung quan trọng của quá trình kiểm tra thuế Nội dung kiểm tra thuế tại trụ sở CQT chủ yếu căn cứ vào hồ sơ khai thuế và các nguồn thông tin khác như hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế,

sự tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp… Theo đó, vận dụng các kiến thức về các chế độ kế toán, cơ chế tài chính, pháp luật thuế và sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh, phân tích để nhận dạng các dấu hiệu rủi ro, xác định các sai phạm chủ yếu trên hồ sơ khai thuế; làm cơ sở cho việc tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp giải trình để tiến hành phân tích khẳng định sai phạm hoặc xác định trọng tâm các nội dung kiểm tra có giới hạn tại trụ

sở người nộp thuế

Các bước tiến hành kiểm tra hồ sơ khai thuế tại CQT:

- Chuẩn bị hồ sơ, tài liệu, thông tin phục vụ cho công tác kiểm tra, bao gồm:

+ Thông tin, tài liệu của doanh nghiệp tại thời điểm kiểm tra

+ Thông tin, tài liệu lịch sử của doanh nghiệp

+ Tổng hợp, xử lý thông tin phục vụ cho công tác kiểm tra

- Nhận dạng rủi ro trên hồ sơ khai thuế cần tập trung kiểm tra

Căn cứ hồ sơ, tài liệu và các biểu tổng hợp xử lý các thông tin; sử dụng phương pháp

so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu, số liệu tính toán để nhận dạng rủi ro phát sinh trên hồ sơ khai thuế cần tập trung kiểm tra

- Xác định các sai phạm chủ yếu trên hồ sơ khai thuế

Dấu hiệu rủi ro là cơ sở để kiểm tra phát hiện các sai phạm trên hồ sơ khai thuế Từ dấu hiệu rủi ro cần tập trung kiểm tra các tài khoản, các nội dung kinh tế phát sinh có liên quan để kiểm tra xác định nội dung sai phạm cụ thể

- Áp dụng các kỹ năng và phương pháp kiểm tra phát hiện sai phạm

Kỹ năng và phương pháp kiểm tra phát hiện sai phạm từ hồ sơ khai thuế cho phép công chức thuế có thể phát hiện các sai phạm ngay khi kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở CQT mà không phải đến tận doanh nghiệp kiểm tra Các phương pháp thường được áp dụng để kiểm tra hồ sơ khai thuế là:

+ Phương pháp so sánh

+ Phương pháp cân đối

+ Phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng

Trang 15

+ Phương pháp phân tích tỷ suất

+ Phương pháp phân tích sự khác biệt giữa chế độ kế toán và chính sách thuế

* Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở NNT

- Yêu cầu NNT cung cấp thông tin trước khi tiến hành kiểm tra tại cơ sở sản xuất kinh doanh

Để tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT, công chức thuế phải nghiên cứu hồ sơ khai thuế trên cơ sở hệ thống thông tin NNT để tiến hành đánh giá các biến động, phân tích dọc, phân tích ngang, phân tích các chỉ số xác định rủi ro…đây là bước đầu tiên quan trọng nhằm đưa ra quyết định có kiểm tra tại cơ sở hay không Nếu tiến hành kiểm tra thì cần tập trung vào thời kỳ nào, nội dung gì

Tuy nhiên khi quyết định kiểm tra tại cơ sở, công chức thuế cần thu thập nhiều thông tin chi tiết hơn nữa liên quan đến kỳ kiểm tra, nội dung kiểm tra Do vậy cần phải yêu cầu NNT cung cấp thông tin trước khi tiến hành kiểm tra tại cơ sở sản xuất kinh doanh

- Tiếp xúc ban đầu với NNT được kiểm tra

Các nội dung cần thực hiện là:

- Thông báo nội dung kiểm tra ; giới thiệu các thành viên trong đoàn kiểm tra ; cách thức tiến hành làm việc; quyền và nghĩa vụ của đoàn kiểm tra ; quyền và nghĩa vụ của người được kiểm tra …

- Trao đổi với đại diện doanh nghiệp và kế toán để tìm hiểu một số thông tin cũng như nguồn thu thập thông tin để cuộc kiểm tra đạt được hiệu quả

- Tiến hành tham quan tại cơ sở sản xuất kinh doanh

Tổ chức tham quan tại cơ sở sản xuất kinh doanh cho phép công chức kiểm tra thấy được quy mô sản xuất kinh doanh, hệ thống tài sản, nhà xưởng, kho hàng, quy trình sản xuất kinh doanh, hệ thống kiểm soát nội bộ… của doanh nghiệp, từ đó có cơ

sở để đối chiếu với các thông tin đã thu thập được từ các bước trước, đồng thời thu thập các thông tin bổ sung để đánh giá rủi ro cố hữu của doanh nghiệp

- Kỹ thuật kiểm tra tại cơ sở kinh doanh

Sau khi thu thập đủ các thông tin trên cơ sở thực hiện các bước kiểm tra tại bàn, yêu cầu doanh nghiệp báo cáo bằng văn bản, trao đổi và tham quan tại cơ sở sản xuất kinh doanh, công chức kiểm tra xác định tính hiện hữu, tình phù hợp, tính phát sinh, tính đầy

Trang 16

đủ và mức độ rủi ro cũng như nội dung cần tập trung kiểm tra để tiến hành kiểm tra xem xét sổ sách báo cáo của doanh nghiệp Các kỹ thuật thường được sử dụng là:

Thực hiện truy lần số liệu trên sổ sách, chứng từ kế toán: Có hai cách để truy lần số liệu, đó là thực hiện kiểm tra ngược số liệu từ báo cáo tổng hợp đến chứng từ gốc hoặc thực hiện kiểm tra xuôi theo đúng trình tự hạch toán, bắt đầu từ chứng từ gốc đến báo cáo tổng hợp

Thu thập bằng chứng kiểm tra : Bằng chứng kiểm tra được hình thành dưới một số dạng như dạng văn bản, dạng nói miệng, dạng trực quan Bằng chứng có thể do công chức kiểm tra tạo ra; ĐTNT cung cấp hay do bên thứ 3 cung cấp

Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm tra thuế:

Trong một cuộc kiểm tra có rất nhiều chứng từ gốc nên việc chọn mẫu là một kỹ thuật hỗ trợ công chức kiểm tra

- Việc chọn mẫu được thực hiện theo nhóm hoặc chọn mẫu một cách ngẫu nhiên và cuối cùng là áp dụng việc chọn mẫu theo phân tầng

- Sau khi hoàn thành việc chọn mẫu, công chức kiểm tra sẽ phân tích các sai sót Tuỳ theo mức độ công chức kiểm tra có thể mở rộng phạm vi chọn mẫu hoặc tiến hành kiểm tra số liệu chi tiết luôn

- Thông qua kết quả kiểm kiểm tra và lập báo cáo kiểm tra :

Kết thúc kiểm tra trưởng đoàn căn cứ vào kết quả kiểm tra của các thành viên để tiến hành tổng hợp kết quả kiểm tra chung; lập báo cáo kiểm tra theo quy định

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1.2.4.1 Nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế

* Công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra thuế

Lập kế hoạch kiểm tra là một khâu quan trọng trong công tác kiểm tra của ngành Thuế, công việc này được tiến hành hàng năm nhằm đạt được các mục tiêu:

- Phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực kiểm tra

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra

- Khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế

Để nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra thì cơ quan thuế phải xây dựng được chương trình kiểm tra hiệu quả Chương trình kiểm tra là nền tảng cho mức độ tuân thủ bền vững và đóng góp vào việc xây dựng các biện pháp khác tác động đến hành vi của người nộp thuế

Trang 17

Như vậy, việc xây dựng một kế hoạch kiểm tra là yêu cầu cần thiết của ngành thuế Khi người nộp thuế thấy được rằng một chương trình kiểm tra hiệu quả đang hoạt động thì ý thức tự giác tuân thủ sẽ tốt hơn, đồng nghĩa với việc cơ quan thuế thu đúng và thu đủ

số thuế phát sinh

*Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức làm công tác kiểm tra thuế

Để có thể lựa chọn được đúng người nộp thuế đưa vào kế hoạch kiểm tra năm thì công chức kiểm tra phải thực hiện được những yêu cầu: tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến người nộp thuế; hiểu và áp dụng các tiêu thức lựa chọn người nộp thuế kiểm tra

; đưa ra quyết định lựa chọn trường hợp kiểm tra dựa trên những hiểu biết và sự đánh giá chuyên nghiệp về người nộp thuế

Công chức kiểm tra thuế phải được đào tạo nâng cao kỹ năng phân tích, đánh giá rủi

ro để lựa chọn đúng người nộp thuế đưa vào kế hoạch kiểm tra Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hạn chế được sự lãng phí về thời gian và nguồn lực của công tác kiểm tra Mặt khác công chức thuế cần phải có những kỹ năng cơ bản về sử dụng máy tính để có thể khai thác và sử dụng được thông tin từ hệ thống cơ sở dữ liệu

người nộp thuế và nâng cao hiệu quả công việc

* Hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về người nộp thuế

Công tác kiểm tra thuế chỉ có thể thực hiện đươc một cách có hiệu quả khi ngành Thuế xây dựng được một hệ thống thông tin về người nộp thuế đầy đủ, chính xác và kịp thời với sự hỗ trợ hiệu quả của công nghệ thông tin hiện đại Nếu không, các vấn đề rủi ro

sẽ không thể được phát hiện đầy đủ chính xác và xử lý kịp thời Đây là điểm đầu tiên trong quá trình đánh giá rủi ro, là thông tin chính để phân tích và xác định rủi ro, giúp ngành Thuế hiểu biết toàn diện về ngành cũng như về người nộp thuế

Hệ thống cơ sở dữ liệu về người nộp thuế phải đảm bảo cung cấp được các thông tin liên quan đến các người nộp thuế, bao gồm:

- Thông tin người nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ thuế, được lập thành lý lịch người nộp thuế, bao gồm:

+ Thông tin chung về người nộp thuế

+ Thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh và kê khai nộp thuế

+ Thông tin về tuân thủ kê khai và nộp thuế

- Thông tin từ các bên liên quan: Kho bạc, Hải quan, các Bộ, ngành …

- Các thông tin khác như: đài, báo, các thông tin tố cáo…

Trang 18

* Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế

Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT là công tác quan trọng có tác động đến hiệu quả của công tác kiểm tra thuế

Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT được thực hiện tốt, có hiệu quả sẽ giúp NNT kịp thời cập nhật các văn bản chính sách mới về thuế, giải đáp các vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật thuế để NNT hiểu đúng và thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế hiện hành, qua đó giúp nâng cao ý thức tuân thủ tự giác của người nộp thuế

* Công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế

Công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế Thông thường, kết thúc một cuộc kiểm tra thuế sẽ phát sinh số thuế truy thu và xử phạt vi phạm hành chính Nếu công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế được thực hiện tốt, sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra thuế

* Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động kiểm tra thuế

Ứng dụng của công nghệ thông tin có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kiểm tra thuế Để công tác kiểm tra thuế có hiệu quả, thì việc xây dựng được hệ thống các tiêu thức phân tích, đánh giá rủi ro với sự trợ giúp của máy tính có ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc sử dụng các kỹ thuật phân tích, đánh giá rủi ro, gắn kết các thông tin khác nhau và sử dụng là rất khó khăn (nếu không muốn nói là không thể thực hiện được) nếu không có sự hỗ trợ của ứng dụng máy tính

Hiện nay, ngành Thuế đang từng bước triển khai thực hiện để phát triển, xây dựng các ứng dụng tin học phục vụ cho công tác quản lý thuế, trong đó có công tác kiểm tra

* Cơ chế phối hợp giữa các phòng chức năng trong cơ quan thuế và giữa cơ quan thuế với các cơ quan hữu quan

Trong hoạt động kiểm tra thuế, sự phối hợp giữa các phòng chức năng của CQT và giữa CQT với các ngành có liên quan có vai trò vô cùng quan trọng, tác động đến hiệu quả của công tác kiểm tra thuế

Thông qua cơ chế phối hợp với các cơ quan như: Hải Quan, Bộ Tài chính và cơ quan khác của Chính phủ, CQT có thêm thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của NNT để phục vụ cho công tác kiểm tra thuế

Bên cạnh đó, CQT cũng cần phối hợp với Công an, Tòa án, Viện kiểm sát…để xây dựng chương trình phối hợp điều tra đối với các doanh nghiệp có hành vi trốn thuế, gian lận thuế

Trang 19

* Công tác kiểm tra nội bộ

Công tác kiểm tra nội bộ cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới công tác kiểm tra thuế Thông qua công tác kiểm tra nội bộ, cơ quan thuế sẽ giám sát đối với tất cả các hoạt động của các bộ phận quản lý một cách trung thực, khách quan Nhờ vậy, sẽ hạn chế các hành vi nhũng nhiễu, tùy tiện trong công tác quản lý thuế nói chung và công tác

thanh tra,kiểm tra thuế nói riêng

1.2.4.2 Nhân tố khách quan ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế

Ngoài các nhân tố chủ quan trên, công tác kiểm tra thuế cũng chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố khách quan sau:

*Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của NNT

Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của NNT là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến công tác kiểm tra thuế

Nếu trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của NNT cao, sẽ có tác động tích cực đến công tác kiểm tra thuế Ngược lại, trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của NNT thấp, sẽ khiến công tác kiểm tra thuế gặp nhiều khó khăn

* Sự thay đổi của hệ thống chính sách pháp luật thuế

Hệ thống chính sách pháp luật về thuế của nước ta hiện nay đang ngày càng được đổi mới và hoàn thiện, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập như thường xuyên thay đổi, nhiều văn bản quy định không rõ ràng…gây khó khăn không nhỏ cho NNT (trong việc hiểu và thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế) và CQT (trong việc xử lý kết quả kiểm tra thuế)

1.2.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm tra thuế

1.2.5.1.Các tiêu chí định lượng

Tình hình thực hiện kế hoạch kiểm tra : Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số đối tượng kiểm tra so với kế hoạch năm; tỷ lệ hoàn thành về số thời gian so với kế hoạch năm; tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số vụ việc khiếu nại tố cáo giải quyết được so với kế hoạch năm…

Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/Tổng số đối tượng kiểm tra bình quân; chi phí bằng tiền trực tiếp cho kiểm tra …

Hiệu quả trực tiếp của kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các tiêu chí như: Chi phí kiểm tra so với số thuế truy thu đã nộp NSNN; tỷ lệ giữ nguyên, sửa đổi

Trang 20

hoặc hủy bỏ quyết định truy thu thuế theo biên bản kiểm tra thuế khi giải quyết các khiếu nại của đối tượng kiểm tra; tỷ lệ trường hợp đối tượng kiểm tra chấp nhận hoàn toàn kết luận kiểm tra, thanh tra; tỷ lệ số thuế truy thu được nộp vào NSNN/tổng số thuế truy thu…

Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên, song trên thực tế đa

số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác kiểm tra, thanh tra Bên cạnh việc tính toán các chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chính xác hơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với các năm trước để đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâu công tác

1.2.5.2 Các tiêu chí định tính

Các chỉ tiêu định tính thường là hiệu quả của hoạt động kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệu quả có tính xã hội, chính trị như sau:

Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật, tiêu chí này có thể đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng kiểm tra thuế qua các năm, đặc biệt

là những đối tượng đã được kiểm tra

Tác dụng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế, tạo sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và xử phạt hành chính thuế Tác dụng phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan thuế và tạo lòng tin của đối tượng nộp thuế vào hoạt động kiểm tra Có thể đánh giá qua chỉ tiêu: Tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trong kiểm tra ; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theo hình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử lý…Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm tra được đánh giá theo kỳ (quý, năm) và được chia theo nhiều sắc thuế; theo loại đối tượng nộp thuế và từng nội dung kiểm tra tương ứng

Trang 21

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1.3.1 Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới 1.3.1.1 Kinh nghiệm kiểm tra thuế ở Anh

Cơ quan Ngân sách và Hải quan Anh (HMRC) là cơ quan có thẩm quyền cao nhất về thuế và hải quan ở Anh HMRC chịu trách nhiệm về các vấn đề như: quản lý thuế, thu thuế, trả thuế trực tiếp, gián tiếp và các khoản thu về tín dụng thuế…

Đối với những NNT phát sinh khi không hoàn thành việc kê khai thuế, cố tình trốn thuế, gian lận thuế sẽ bị HMRC nhắc nhở và yêu cầu nộp tiền thuế cho cơ quan thuế Nếu họ vẫn không nộp tiền thuế sẽ bị nộp một khoản tiền phạt nhất định tùy vào mức độ Nguyên nhân nộp phạt tiền thuế phổ biến ở Anh là không đăng ký kinh doanh mới, không đăng ký thuế GTGT khi doanh thu đạt đến ngưỡng chịu thuế

Cùng với đó, HMRC sẽ công bố các khoản tiền phạt cụ thể đối với các đối tượng chậm nộp, khai hoàn thuế Chẳng hạn, đối với thuế TNCN, NNT sẽ bị phạt 100 bảng nếu

họ chậm kê khai nộp thuế với cơ quan thuế Đối với thuế TNDN, NNT kê khai thuế muộn cũng bị phạt 100 bảng… Ngoài các hình phạt trên còn có các loại hình phạt khác như: phạt 30% nếu NNT không khai báo thuế và gửi trở lại cho HMRC; phạt 70% cho lỗi cố tình che giấu; phạt 100% do cố ý và cố gắng che giấu sai sót

Tuy nhiên, ở Anh, NNT có thể đệ đơn khiếu nại về các khoản tiền phạt lên HMRC nếu họ có bằng chứng chứng minh những khoản tiền phạt này là phi lý Thông thường, người bị nộp phạt tiền thuế ở Anh có thời hạn 30 ngày để đánh giá, xem xét lại hành vi của mình kể từ ngày được cơ quan thuế thông báo về số tiền phạt

1.3.1.2 Kinh nghiệm kiểm tra thuế ở Canada

Ở Canada, cơ quan Thuế vụ Canada (CRA) có nhiệm vụ thi hành pháp luật thuế trên toàn lãnh thổ nước này Hệ thống thuế của Canada được tổ chức hoạt động theo phương thức tự đánh giá, nghĩa là NNT tự kê khai nghĩa vụ nộp thuế cho cơ quan thuế theo mẫu quy định Để tránh hành vi gian lận thuế, CRA đã tiến hành kiểm tra nghiêm túc quá trình

kê khai của NNT Ý thức được điều đó, CRA luôn coi kiểm tra thuế là hoạt động “kiểm tra sổ sách và hồ sơ để xác định chính xác đối tượng nộp thuế, các loại thuế, lãi suất và tiền phạt phải nộp theo quy định của pháp luật”

Cơ quan Thuế vụ Canada áp dụng hình phạt đối với hành vi trốn thuế theo mục 238 của Luật thuế TNCN Theo đó, nếu tờ khai thuế hàng năm không được hoàn thành và nộp

Trang 22

cho Cơ quan Thuế vụ Canada đúng hạn, thì người nộp thuế có thể bị phạt tiền từ 1.000 - 25.000 đô la Canada, tùy vào mức độ vi phạm

Đồng thời, CRA xác định công tác kiểm tra có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng Do đó, CRA đã tổ chức giám sát và duy trì hệ thống tự đánh giá thông qua Chương trình thực thi đặc biệt của CRA bằng các hình phạt cho sự thiếu trung thực của NNT

Cụ thể, Chính phủ Canada đã phối hợp cùng CRA thành lập và triển khai một chương trình thực thi đặc biệt với mục tiêu tập trung và điều tra các đối tượng bị nghi ngờ

có hành vi trốn thuế, gian lận thuế từ những khoản tiền thu nhập bất hợp pháp Đối tượng này có thể bị phạt tiền, phạt tù tùy thuộc vào hành vi và mức độ nghiêm trọng Mặt khác,

để giảm bớt các ưu đãi từ chính sách thuế, CRA đã tổ chức các hoạt động kiểm tra những đối tượng bị nghi ngờ trốn thuế, thậm chí tịch thu và niêm phong hàng hóa nếu đối tượng

đó không nộp phạt tiền thuế theo yêu cầu

Chẳng hạn, CRA áp dụng hình phạt đối với hành vi trốn thuế theo mục 238 của Luật thuế TNCN Theo đó, nếu tờ khai thuế hàng năm không được hoàn và nộp cho CRA đúng hạn, thì NNT có thể bị phạt tiền từ 1.000 - 25.000 đô la Canada, tùy vào mức độ vi phạm Ngoài việc không hoàn thành tờ khai thuế TNCN hàng năm, NNT còn có thể bị kết tội vi phạm pháp luật thuế nếu họ cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc khai báo thông tin không trung thực để trốn thuế Tại mục 239 của Luật thuế TNCN của Canada quy định, tiền phạt áp dụng cho các hành vi trốn thuế của NNT ít nhất là 50% nhưng không vượt quá 200% tổng số tiền trốn thuế phải nộp phạt Trường hợp trốn thuế nặng hơn, người bị phạt còn có thể bị kết án tối đa 2 năm tù giam cùng với số tiền thuế nộp phạt

Để hạn chế hiện tượng trốn thuế, CRA đã đưa ra quy trình kiểm tra và thanh tra thuế khá chặt chẽ và nghiêm ngặt thông qua kiểm toán bàn và kiểm toán lĩnh vực

- Kiểm toán bàn: Đây là phương pháp kiểm tra đơn giản nhất của CRA Phương pháp này yêu cầu NNT đến cơ quan có thẩm quyền cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu

để hỗ trợ đối chiếu với tờ khai thuế

- Kiểm toán lĩnh vực: CRA cử cán bộ thuế đến làm việc trực tiếp với NNT để kiểm tra hồ sơ Quy trình kiểm tra kiểm toán lĩnh vực được diễn ra cụ thể như sau: Cán bộ thuế của CRA thông báo cho NNT biết trước mục đích kiểm tra để họ chủ động sắp xếp thời gian làm việc với cán bộ thuế Trong quá trình làm việc, tiếp xúc với NNT, cán bộ thuế của CRA phải trình thẻ nhận dạng cá nhân để tránh hiện tượng giả danh cán bộ thuế Đối

Trang 23

với phạm vi kiểm tra phụ thuộc vào mức độ vi phạm của người nộp thuế để cân nhắc có nên kiểm toán mở rộng hay thu hẹp CRA có thể kiểm tra mở rộng sổ sách của NNT thông qua hóa đơn bán hàng, hồ sơ vận chuyển và tiếp nhận, chứng từ mua hàng, tài khoản chi phí, hàng tồn kho, đầu tư, thỏa thuận, hợp đồng, sổ hẹn…

Ở Canada, mỗi đợt kiểm tra thuế mất thời gian khoảng 1 - 2 tuần, thậm chí có thể kéo dài hàng tháng tùy thuộc vào tính chất của vụ việc Nguyên nhân của tình trạng này là

do NNT không cung cấp đủ những thông tin cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra Để xử

lý vấn đề này, CRA đã đưa ra các biện pháp sau:

Một là, CRA ban hành văn bản đề nghị NNT hoặc đại diện của NNT cung cấp thông tin cho cơ quan thuế, từ đó, đẩy nhanh nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước

Hai là, CRA yêu cầu NNT chấp hành theo Luật Thuế TNCN, Luật thuế TNDN…

Ba là, sau khi nhận được thông tin của NNT, CRA sẽ xác minh và đánh giá lại thông

tin xem có chính xác hay không NNT phải đưa ra các bằng chứng để chứng minh với CRA đó là thông tin “chuẩn” và NNT cũng có quyền bác bỏ những thông tin kiểm tra của CRA nếu đó là thông tin sai

1.3.2 Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Việt Nam

( phần này em vào mạng tìm để bổ sung thêm kinh nghiệm khoảng 2-3 chi cục thuế trong việc kiểm tra thuế doanh nghiệp – viết khoảng 2 trang)

1.3.3 Bài học rút ra cho công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm kiểm tra thuế của các nước và Việt nam, có thể đưa ra một số bài học kinh nghiệm hữu ích cho công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục thuế khu vực Đông Hà – Cam lộ trong thời gian tới

Thứ nhất, cơ quan thuế cần nghiên cứu xem xét và đánh giá lại về sự tuân thủ pháp

luật của NNT, sự thay đổi bất thường trong việc kê khai thuế theo năm, giai đoạn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN

Thứ hai, để tránh hiện tượng gian lận và trốn thuế của NNT, cơ quan thuế cần phân

loại đối tượng nộp thuế theo các tiêu chí: quy mô sản xuất, doanh thu và số thuế phát sinh hàng năm

Thứ ba, cán bộ thuế và cơ quan thuế cần thường xuyên theo dõi và tiến hành kiểm

tra đối với các lĩnh vực có dấu hiệu trốn thuế, chuyển giá như: bất động sản, chứng khoán, hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ…

Trang 24

Thứ tư, cơ quan thuế cần phối hợp với các cơ quan chức năng theo dõi thường xuyên

về sự thay đổi giữa tỷ lệ thuế TNDN và thuế GTGT phát sinh trên doanh thu (doanh thu tăng nhưng thuế phát sinh giảm đột ngột so với các năm trước, kết quả thuế không phù hợp với mục đích chính sách pháp luật thuế…)

Thứ năm, cần tăng cường và đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách thuế cũng

như nghĩa vụ tuân thủ quy trình nộp thuế của NNT, để sớm khắc phục các tình trạng như: không đăng ký mã số thuế, chậm nộp tờ khai, không khai thuế, chậm nộp thuế

Trang 25

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ KHU VỰC ĐÔNG HÀ-CAM LỘ TỪ NĂM 2017 ĐẾN NĂM 2019

2.1 Tổng quan về Chi cục thuế khu vực Đông Hà – Cam lộ

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam

Lộ

Chi cục thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ được thành lập vào tháng 10 năm 2019 trước khi thành lập từ tháng 9 năm 2019 trở về trước có tên gọi là Chi cục Thuế thành phố Đông Hà Là cơ quan hành chính nhà nước thuộc hệ thống ngành thuế Việt Nam, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Cục thuế tỉnh Quảng Trị và chỉ đạo song trùng của Ủy ban nhân dân thành phố Đông Hà

Trải qua 30 năm kể từ khi thành lập, dưới sự lãnh đạo chỉ đạo, giúp đỡ về mọi mặt của Cục Thuế tỉnh Quảng Trị, của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố, sự phối hợp đồng

bộ của các cấp, các ngành cùng với sự quyết tâm, phấn đấu nỗ lực của cán bộ công chức trong cơ quan, Chi cục Thuế thành phố Đông Hà đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, từng bước trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt luôn hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước do HĐND tỉnh và thành phố Đông Hà giao, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội hàng năm của địa phương Trong những năm gần đây, Chi cục Thuế đã triển khai thực hiện chương trình cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế, chủ động đề ra nhiều biện pháp đồng bộ và triển khai có hiệu quả chương trình cải cách hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý thuế trên địa bàn

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng và nhiệm vụ của Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ

Từ tháng 9 năm 2019 trở về trước thì Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ có tên cũ là Chi cục Thuế thành phố Đông Hà Từ khi thành lập cho đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và công cuộc cải cách hệ thống thuế Việt nam, sắp xếp tổ chức mới; Bộ máy của Chi cục Thuế cũng được thay đổi theo hướng giảm số đội thuế xã phường, tăng số đội thuế ở văn phòng phù hợp với tình hình thực tiễn gắn liền với nhiệm vụ thu NSNN và công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế, xây dựng mô hình

tổ chức QLT theo chức năng

 Chi cục thuế cũ gồm Ban lãnh đạo và 6 Đội thuế chức năng cùng 3 Đội thuế xã

Trang 26

phường trực thuộc Chi cục thuế

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Chi cục Thuế thành phố Đông Hà( tháng 9 năm 2019 trở

về trước)

Trang 27

Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy Chi cục Thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ(thành lập tháng 10 năm 2019)

 Cơ cấu bộ máy mới của Chi cục thuế khu vực Đông Hà-Cam Lộ gồm Ban lãnh đạo và 5 Đội thuế chức năng cùng 4 Đội thuế xã phường trực thuộc Chi cục thuế Chức năng nhiệm vụ của các đội thuế như sau:

- Lãnh đạo Chi cục: Chi cục trưởng có nhiệm vụ quản lý chung chịu trách nhiệm toàn bộ mọi hoạt động quản lý của Chi cục Các phó Chi cục trưởng giúp việc Chi cục trưởng theo sự phân công

- Đội Hành chính - Nhân sự - Tài vụ- Quản trị - Ấn chỉ: Thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính, quản trị; quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục Thuế quản lý

- Đội Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế - Trước bạ thu khác: Thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế Quản lý thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá

về đất, tài sản, tiền thuê đất, phí, lệ phí và các khoản thu khác phát sinh trên địa bàn thuộc

Trang 28

phạm vi Chi cục Thuế quản lý

- Đội KK-KTT-TH-NV-DT-PC:

Hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế cho cán bộ, công chức thuế trong Chi cục Thuế; xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu NSNN được giao của Chi cục Thuế;

Thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý; quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế Phúc tra tình hình hộ nghỉ kinh doanh, hộ miễn giảm, phát sinh hằng tháng Thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của CQT, công chức thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của CQT, công chức thuế thuộc thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;

- Đội Kiểm tra thuế số 1: Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế của các

DN, Quản lý thuế TNCN của tổ chức chi trả tiền lương, tiền công; giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến người nộp thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu Ngân sách hằng năm các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế;

- Kiểm tra thuế số 2: Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế của các DN; Thực hiện công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt đối với NNT thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế

- Các đội thuế liên phường, xã: chịu trách nhiệm quản lý và thu thuế của các phường, xã trên địa bàn thành phố Đông Hà và địa bàn Cam Lộ theo vị trí địa lý của từng khu vực được phân công

2.1.3 Tình hình phân bổ công chức tại chi cục thuế khu vực Đông Hà- Cam

Lộ giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019

Tổng số CBCC, người lao động của Chi cục có 88 người Về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ chiếm tỷ lệ 10.2%; Đại học chiếm tỷ lệ 77.3%; Cao đẳng, Trung cấp chiếm tỷ lệ 12.5% Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp chính trị chiếm tỷ lệ 4% ; Trung cấp chính trị chiếm tỷ lệ 8% Đến thời điểm này có rất nhiều cán bộ đang theo học tiếp đại học và trên Đại học để nâng cao trình độ của mình nhằm phục vụ trong công việc ngày càng tốt hơn

Năm 2019 độ tuổi dưới 30 có 12 người; từ 30 đến dưới 40 có 26 người trong đó đều

từ 31 tuổi trở lên; độ tuổi 40 -50 có 32 người và trên độ tuổi 50 có 18 người Đây là một

Ngày đăng: 27/10/2022, 22:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w