1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quản lý lễ hội đèn tả phù, kỳ lừa, phường hoàng văn thụ, thành phố lạng sơn

66 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 731,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

là những hình ảnhxấu, góp phần tác động tiêu cực và làm mất đi không gian văn hóa của lễ hội,làm ảnh hưởng tới ý nghĩa thiêng liêng trong lễ hội, từ đó khiến việc quản lý lễhội trở thành

Trang 1

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHÙ

-KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

Khóa luận tốt nghiệp

ĐH QLVH 14B

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả trong bài nghiên cứu là hoàn toàntrung thực Mọi thông tin nghiên cứu được đều do chính bản thân tôi trực tiếpthực hiện, các tài liệu tham khảo đã được trích dẫn đầy đủ

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2018

Sinh viên

Lê Minh Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Là một sinh viên hiện đang theo học chuyên ngành Quản lý Văn hoá,được thực hiện Khóa luận tốt nghiệp thực sự là một niềm vinh hạnh lớn đối vớitôi Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm,giúp đỡ và động viên Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người đã dõitheo và sát cánh bên tôi để giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS NguyễnThành Nam - là người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quátrình nghiên cứu khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban quản lý khu di tích đền Tả Phủ

-Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, đã cung cấp cho tôinhiều thông tin quý báu trong suốt quá trình khảo sát làm bài

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy tại khoa Văn hoá Thông tin & Xã hội, trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã tạo điều kiện thuân lợi,giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến đềtài

-Tuy nhiên, do kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế, tư duy còn nhiềuhạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bản thân có thể hoàn thiệnhơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Những đóng góp của khóa luận 5

8 Bố cục khóa luận 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ -KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 7

1.1 Một số khái niệm 7

1.1.1 Khái niệm “Lễ hội” và “Lễ hội truyền thống” 7

1.1.2 Khái niệm “Quản lý” và “Quản lý lễ hội” 12

1.2 Quan điểm về quản lý lễ hội 15

1.3 Tổng quan về di tích đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn 16

1.3.1 Khái quát về phường Hoàng Văn Thụ thành phố Lạng Sơn 16

1.3.2 Giới thiệu về lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa 19

Tiểu kết 21

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 22

2.1 Thực trạng tổ chức lễ hội đền 22

2.1.1 Công tác chuẩn bị 22

2.1.2 Thực hành nghi thức, nghi lễ 23

2.1.3 Các trò chơi dân gian trong lễ hội 24

2.2 Thực trạng quản lý lễ hội 25

2.2.1 Công tác thực hiện các văn bản pháp quy 25

Trang 5

2.2.2 Công tác quản lý các nguồn lực 29

2.2.2.1 Quản lý nhân sự và đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ 29

2.2.2.2 Quản lý tài chính của lễ hội 31

2.2.2.3 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ lễ hội 33

2.2.2.4 Quản lý các hoạt động trong lễ hội 34

2.2.3 Công tác trùng tu, tôn tạo di tích 36

2.2.4 Công tác quản lý an ninh, vệ sinh môi trường trong lễ hội 37

2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra 38

Tiểu kết 40

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 41

3.1 Đánh giá chung 41

3.1.1 Tác động tích cực 41

3.1.2 Tác động tiêu cực 42

3.2 Đề xuất một số giải pháp 43

3.2.1 Giải pháp “Nâng cao chất lượng bộ máy quản lý” 43

3.2.2 Giải pháp “Nâng cao vai trò của cộng đồng” 44

3.2.3 Giải pháp “Thực hiện các cơ chế chính sách” 46

3.2.4 Giải pháp “Tăng cường quảng bá lễ hội” 48

3.2.5 Giải pháp “Xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội”49 3.2.6 Giải pháp “Nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự trong lễ hội” 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 6

Là một tỉnh miền núi Đông Bắc, Lạng Sơn là một vùng đất có bề dàylịch sử, truyền thống văn hóa và luôn có một vị trí quan trọng qua các thời kỳlịch sử của đất nước Vùng đất này đã hình thành nhiều loại hình văn hóa vớinhững sắc thái riêng Trong đó, phải kể đến di tích và lễ hội đền Tả Phủ - KỳLừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn Đây là một lễ hội văn hóatruyền thống, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thầncủa người dân nơi đây Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ nhữnggiá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; là hình thứcgiáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huynhững giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc.

Với ý nghĩa to lớn và ảnh hưởng đến đời sống con người, vấn đề đặt ra

là quản lý, tổ chức lễ hội như thế nào để phát huy hết giá trị của lễ hội, gópphần xây dựng nền văn hóa Việt Nam theo đúng chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách của Nhà nước Những năm gần đây, khi nhu cầu sinh hoạtvăn hóa tâm linh của người dân ngày càng cao, sự giao lưu văn hóa diễn ramạnh mẽ khiến cho nhiều hiện tượng văn hóa có sự biến đổi nhanh chóng Xuhướng thương mại hóa lễ hội, hiện tượng lợi dụng niềm tin tôn giáo để mưu

1

Trang 7

lợi, tổ chức các trò chơi thiếu lành mạnh, mang tính ăn thua như: cờ bạc, cá độ,xóc thẻ, bói toán Việc xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, bày bán hàngrong gây mất an ninh trật tự, vấn đề an toàn thực phẩm, là những hình ảnhxấu, góp phần tác động tiêu cực và làm mất đi không gian văn hóa của lễ hội,làm ảnh hưởng tới ý nghĩa thiêng liêng trong lễ hội, từ đó khiến việc quản lý lễhội trở thành một vấn đề cần được quan tâm.

Việc tìm hiểu về lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, nhất là nghiên cứu thựctrạng quản lý và tổ chức lễ hội thời gian qua là một việc làm cần thiết, giúpchúng ta có được cái nhìn sâu sắc về phong tục tập quán, tính cộng đồng,những nét đẹp văn hóa và đời sống tin thần của nhân dân nơi đây Đồng thời,góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức lễ hội trong thời gian tới Đây là một việclàm thiết thực góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa đã trường tồn trong

lịch sử dân tộc Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ

Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn” làm đề tài khóa luận

tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Quản lý Văn hóa

2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu về lễ hội truyền thống không phải là vấn đề mới Từ trướcđến nay đã có rất nhiều tác giả quan tâm vấn đề này

Nghiên cứu về lễ hội, quản lý lễ hội Năm 1994, Hội thảo khoa học Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân

văn quốc gia tổ chức đã quy tụ nhiều bài nghiên cứu của nhiều tác giả về ýnghĩa, giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại Trong bài viết củamình, tác giả Đinh Gia Khánh đã nhận xét về các mặt tích cực và tiêu cực của

sự bùng phát trở lại của các lễ hội truyền thống Đồng thời, tác giả nêu ra một

số quan điểm phổ biến khi đánh giá về sự trở lại của lễ hội

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh trong công trình Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam (Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2004) cho rằng

lễ hội không phải là một hiện tượng văn hóa bất biến mà nó có sự thay đổi qua

2

Trang 8

thời gian Sự biến đổi và tiếp tục của các lễ hội chính là sự hài hòa của nó đốivới không gian và thời gian nhất định Thừa nhận sự trường tồn của lễ hội cổtruyền, các nhà nghiên cứu không quan niệm lễ hội là sự luyến tiếc quá khứ, đểlưu giữ, huyền thoại và cô lập con người Lễ hội cũng không phải tồn tại đểcon người quay ra tìm sự huyền bí với những cảm giác bồng bềnh, ngây ngấtnhằm mục đích thoát ly cuộc sống Trong lễ hội có sự tưởng tượng về sự hiệndiện các thần linh, các bí tích, nhưng không phải là để tấn công khoa học, đingược chiều với xã hội mới như xã hội hậu công nghiệp.

Năm 2004, các tác giả Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú thực hiện đề

tài khoa học cấp Bộ Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp Đề tài

đã đánh giá tương đối đầy đủ về thực trạng lễ hội truyền thống Việt Nam vàđưa ra một số giải pháp để phát triển và nâng cao giá trị của lễ hội Giáo dụccác thế hệ biết và hiểu về lịch sử - văn hóa dân tộc địa phương mình qua cáctrải nghiệm hội hè, trò chơi, trò diễn dân gian có giá trị tìm lại môi trường phụcsinh và tôn tạo Hàng loạt các nghề thủ công - mỹ nghệ, ẩm thực truyềnthống được củng cố và phát triển tạo ra những cơ hội việc làm và thu nhậpcho không ít lao động, góp phần bảo vệ di sản - văn hóa dân gian đang có cơhội trở thành hàng hóa có giá trị trong xã hội hiện đại Các tác giả nhấn mạnhrằng lễ hội đang trở thành một sản phẩm du lịch, thúc đẩy kinh tế ở nhiều địaphương

Cùng quan tâm về quản lí lễ hội, tác giả Bùi Hoài Sơn công bố công

trình Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2009) Tác giả đã khái quát hệ thống văn bản của Nhà nước ta về quản lý

lễ hội, đánh giá ưu, nhược điểm về công tác quản lý lễ hội, đưa ra một số giảipháp tăng cường quản lý lễ hội từ góc độ quản lý di sản văn hóa phi vật thể

Có thể thấy lễ hội là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trênbình diện chung về lí luận, mô tả quá trình chuẩn bị, diễn biến của từng lễ hội,tìm hiểu và làm rõ các giá trị đa dạng của loại hình này trong nhiều công trình

3

Trang 9

đã được công bố Những vấn đề về quản lí lễ hội cũng đã được một số tác giảquan tâm để chỉ ra thực trạng chung trong công tác quản lí qua đó đề xuất cácgiải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước, góp phần bảo tồn giá trị của lễhội trong bối cảnh hiện nay.

Các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu những vấn đề chung

về công tác quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống, quản lý di tích lịch

sử văn hóa; còn đối với công tác lễ hội truyền thống đền Tả Phủ - Kỳ Lừa chưa

có tác giả đề cập đến

3 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những giá trị tiêu biểu của lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, nghiêncứu và đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội của địa phương, đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày cơ sở lý luận về quản lý lễ hội và tổng quan địa bàn nghiêncứu

Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội đền Tả Phủ

-Kỳ Lừa

- Đồng thời, đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của lễ hội vànâng cao hiệu quả quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa,phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn

- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa trong

2 năm trở lại đây (2016 - 2017) Bên cạnh đó nghiên cứu không gian văn hóanơi bảo tồn, gìn giữ lễ hội truyền thống

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: Tác giả trực tiếp tham dự khai

mạc lễ hội Đền Tả Phủ - Kỳ Lừa tại phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng

4

Trang 10

Sơn, quan sát các hoạt động qua các ngày diễn ra lễ hội, chứng kiến từ khâukhai mạc, chuẩn bị tổ chức trước khi làm lễ đến khâu tiến hành và bế mạc Lưulại các thông tin tự thu thập qua không khí những ngày diễn ra lễ hội tại địaphương ( công tác chuẩn bị banner, áp phích, các thiết bị âm thanh, điện tử,cách bố trí các phương tiện phục vụ cho lễ hội, vai trò của các cơ quan chứcnăng trong việc quản lý lễ hội, ), từ cơ sở vật chất đến sự quan tâm, công tácbảo tồn của chính quyền, các cơ quan chức năng, của người dân đối với lễ hội

- Phương pháp thu thập thông tin và phân tích: sau khi tư liệu thực tế từ

phương pháp điền dã đã thu được từ nhiều nguồn thông tin thực tế và tác giả đãthu thập thêm từ nhiều nguồn thông tin khác, sau đó tổng hợp lại và phân tíchcác khía cạnh của lễ hội, qua thực trạng diễn ra lễ hội tác giả từ đó thấy đượcđiểm mạnh, điểm yếu, nhận định nguyên nhân và đưa ra những đóng góp vềgiải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Đền Tả Phủ- Kỳ Lừa Lạng Sơn

7 Những đóng góp của khóa luận

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về quản lý lễ hội đền

Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn Kết quảnghiên cứu của khóa luận là tài liệu tham khảo cho Ủy ban nhân dân phườngHoàng Văn Thụ trong công tác trực tiếp quản lý lễ hội

8 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luậngồm 3 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ

-KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN

TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNGSƠN

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH

5

Trang 11

PHỐ LẠNG SƠN

6

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm “Lễ hội” và “Lễ hội truyền thống”

Trên thế giới, mỗi một quốc gia lại có một loại hình sinh hoạt văn hóariêng, mang đậm bản sắc văn hóa của quốc gia mình, và có lẽ “lễ hội” là loạihình tiêu biểu nhất Đây là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặcbiệt có tính tậpthể, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong lao động sản xuất,hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử Lễ hội nước nào cũng cónhững hình thức rước xách, diễu hành, vui chơi, nhưng ở mỗi quốc gia thì lễhội lại có những nét độc đáo riêng, mang đậm dấu ấn riêng của quốc gia đó Vìthế lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống xãhội, nó chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế - xã hội,văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng tộc người

Lễ hội là một loại hình văn hóa, có thể nói là một tác phẩm văn hóa củatộc người Việt, là nhu cầu không thể thiếu trong tư duy, trong đời sống tinhthần của nhân dân Lễ hội mang những tác động tích cực, nhiều người coi lễhội như là một nhân tố tạo ra sự thư giãn tinh thần, là sự biểu hiện cách ứng xửvăn hóa với thiên nhiên, với thần thánh, và nhất là với xã hội cộng đồng Mỗingười, khi tham gia vào các hoạt động, dù là tham gia trực diện vào lễ hay chỉ

là người dự hội bình thường đều tìm thấy sự hồn nhiên, hưng phấn nghệ thuật,những xúc cảm chất phát ngây thơ Nhờ không khí vừa thiêng liêng, nghiêmtrang, vừa vui vẻ, thân ái của ngày hội mà mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội, mỗicộng đồng giảm nhẹ hoặc “cởi tháo” được những quẫn bách, thậm chí cảnhững mâu thuẫn, xung đột của đời sống thường nhật Trên tinh thần ấy, có thểnói giá trị của lễ hội có tác dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội nơi làng xã từngàn đời nay

Trang 13

Lễ hội còn được coi là “nguồn sữa mẹ” nuôi dưỡng các loại hình nghệthuật Lễ hội hỗn dung các tầng lớp văn hóa của tộc người và các yếu tố vănhóa của tộc người trong tiến trình lịch sử Lễ hội đã bảo lưu, nuôi dưỡng vàphát triển nhiều truyền thống văn hóa của cộng đồng các làng xã Lễ hội còn làchỗ dựa tinh thần của người nông dân, thể hiện quan niệm đối với cái đẹp vàcái khát vọng vươn lên cái đẹp của họ.

Mỗi vùng miền, một quốc gia lại có hình thức tổ chức lễ hội khác nhau.Chính vì thế mà đã córất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinh hoạt vănhóa này.Sau đây là một số khái niệm điển hình về “Lễ hội” như:

Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “Lễ hội” ở nước Nga, M.Bachiecho rằng: “Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểudiễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thâncuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa,liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượtlên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, làcuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng

mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả” (Nếu theonhư định nghĩa này thì một sự kiện hay một cuộc chiến đấu của người dân sẽkhông được tưởng nhớ khi không có sự tác động và ảnh hưởng của con người)

Ở Việt Nam, khái niệm “Lễ hội” mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu.Trước hết chỉ có khái niệm lễ hoặc hội Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hánđược dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục, chẳng hạn như: lễ ThànhHoàng, lễ gia tiên, Cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như:Hội Gióng, Hội Lim, Hội chọi trâu, Thêm chữ “lễ” cho “hội”, thời nay mongmuốn gắn hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng

là hai đặc trưng đi liền với nhau Trước hết là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc vàsau là thăm thú vui chơi ở nơi đông đúc, vui vẻ (hội)

Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn

Trang 14

giáo Con người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh Các lễ hội cổ truyềnphản ảnh hiện tượng đó Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội Tôn giáo thôngqua lễ hội để phô trương thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóanhững thứ trần tục Nhưng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáodần giảm bớt và chỉ còn mang nặng tính văn hóa.

Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” - Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội làmột pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, vănhóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc Lễhội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch

sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai” [7; tr.131] Như vậy ta thấy “Lễhội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ là phần đạo đức tín ngưỡng,phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người Hội là các trò diễn mang tính nghithức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân

và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọngvới cảcộng đồng

“Lễ hội” là một từ ghép và có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán - Việt là lễ và hội Do đó,

lễ hội gồm hai phần là lễ và hội Theo Đào Duy Anh trong cuốn Hán Việt từđiển thì lễ là “cách bày tỏ kính ý hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý” [1]

Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam thì cho rằng: “Lễhội là hệ thống phân bố theo không gian: vào mùa xuân và mùa thu, khi côngviệc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác,mỗi vùng có lễ hội của riêng mình Lễ hội có phần lễ và phần hội: Phần lễmang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình Phầnhội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú Xét về nguồn gốc, phầnlớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của conngười nông nghiệp” [12; tr.38] Bên cạnh lễ, hội có nghĩa là cuộc vui được tổchức cho đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt

Trang 15

Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Lễ là một hiện tượng tổng thể,không phải là thực thể chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt nhưmột số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi

lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thầnlinh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinhhoạt văn hóa, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội Cho nên trong lễ hội,phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phái sinh tích hợp” [14; tr.7-8]

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam có nhiều cách trình bàyđịnh nghĩa lễ hội như trong Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) có viết: “Lễ là

hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đốivới thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộcsống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện, còn hội là sinh hoạt văn hóa,tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồntại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc chotừng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc,

sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vàobốn chữ “Nhân khang, vật thịnh””

Trong cuốn Văn hóa học xuất bản năm 1997, Đoàn Văn Chúc còn chorằng: “Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội, hay tự nhiên,

tư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại được thực hiện theo nghi điển rộnglớn, mức độ rộng lớn, tùy thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằmbiểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạtđộng giải trí công cộng, diễn ra tại một địa 4 điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷniệm một sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ củacông chúng dự lễ” [5; tr 12]

Ở khía cạnh dân gian, trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại,Ngô Đức Thịnh và Frank Proscha đưa ra định nghĩa “Lễ hội là một hoạt động

Trang 16

kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hộithông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống” [13; tr.8].

Như vậy, lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tínngưỡng và tôn giáo Lễ hội bao gồm hai thành tố là lễ và hội kết hợp giữa tínngưỡng và vui chơi, giữa con người và thần linh, giữa thế giới âm và dương

để thông qua đó, con người có thể bày tỏ niềm mong ước của mình vào các vịthần linh trên trời Đồng thời, thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn và đáp ứngnhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóacộng đồng Trước đây, con người chưa có đủ khả năng chinh phục, chế ngự vàlàm chủ thiên nhiên cũng như làm chủ xã hội nên bị bất lực và chi phối bởinhững thiên tai bất trắc, may rủi hay bất công do thiên nhiên hay con ngườigây nên Vì thế, thần linh là nơi họ đặt niềm tin vào đó như: thần linh trời đất,thần linh núi sông, Vậy nên, xưa kia có nhiều làng xã đã xây dựng đình,miếu để thờ các vị thần linh tại địa phương và thường tổ chức lễ hội tạinhững nơi đó, nhằm thể hiện sự biết ơn đối với các vị thần linh đã ban chongười dân nơi đó sức khỏe, mùa màng bội thu, vật nuôi sinh sôi phát triển Hơnthế nữa, họ còn cầu mong các vị thần tiếp tục che chở, bảo vệ và ban phúc lànhmay mắn, thịnh vượng cho họ Các lễ hội truyền thống thể hiện rõ nhất điềunày

Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phivật thể của dân tộc Việt Nam và là một hiện tượng có tính chất tổng hợp chứađựng trong đó cả tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xướng dângian và văn nghệ dân gian Bên cạnh đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng trong

“Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” thì “Lễ hội còn là một sản phẩm vàbiểu hiện của một nền văn hóa” [16].Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử,hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trongđời sống xã hội Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có

Trang 17

lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sốngvăn hóa của Việt Nam.

Trong Hán Việt Từ điển bách khoa, Đào Duy Anh đã định nghĩa truyềnthống như sau: “Thống gồm có nghĩa là mối tỏ, đường mối, đầu gốc; còntruyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa “Đời

nọ truyền xuống đời kia” [1]

Trong lễ hội truyền thống có sự tác động và ảnh hưởng của yếu tố tôngiáo, tín ngưỡng Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanhthế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo, tín ngưỡng để thần linh hóa trần tục.Liên quan đến khái niệm “Lễ hội truyền thống” còn có khái niệm “Lễ hội cổtruyền” dùng với nghĩa gần như tương đương với nhau Truyền thống hay cổtruyền thật ra chỉ là hai thuật ngữ Hán -Việt dùng để nói về cùng một đốitượng

Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổtruyền của dân tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo vàkhẳng định để bảo tồn và phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội.Như vậy, lễ hội truyền thống được coi như là một thành tố quan trọng cấuthành nên hình thái sinh hoạt văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình xãhội được tổ chức theo những giai đoạn lịch sử khác nhau

Tóm lại, lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theophương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử,được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phongtục tập quán

1.1.2 Khái niệm “Quản lý” và “Quản lý lễ hội”

Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại vàphát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ nhóm nhỏ đến phạm

vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải chịu một sự quản lý nào

đó Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh

Trang 18

vực khác nhau như: kinh tế, luật học, Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnhvực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý.

Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người

Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc

Ngoài ra, còn khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý:

- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi conngười kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mụctiêu chung

- Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, cácnhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của mộtnhóm người, một tổ chức

- Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việcđiều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác

- Theo Từ điển Tiếng Việt thì quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạtđộng hoặc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định

Như vậy, một cách tổng quát nhất có thể định nghĩa về quản lý theo MaiHữu Luân trong cuốn “Lý luận quản lý hành chính nhà nước” như sau: “Quản

lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhấtđịnh để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duytrì sự ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định” [6;tr.23]

Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước tronglĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Nhànước với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, đại diện chonhân dân, đảm bảo cho mọi người dân đều được thực hiện các quyền cơ bảncủa mình, trong đó có các quyền về văn hóa như: quyền học tập, sáng tạo, phêbình văn hóa nghệ thuật, tự do sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, Nhà nước cótrách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết

Trang 19

lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầuvăn hóa của toàn xã hội Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành vănhóa.

Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì: “Quản lý lễ hội là công việc cảu Nhànước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra,giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thốngnhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộngđồng coi trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địaphương nói riêng, của cả nước nói chung” [11; tr.65]

Tác giả Phạm Thanh Quy lại cho rằng: “Quản lý lễ hội bao gồm quản lýnhà nước và những hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hội Quản

lý lễ hội nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển được hiểu là sự tổ chức, huyđộng các nguồn lực Nói cách khác thì quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu lợi íchcông cộng, mục tiêu lợi ích công cộng, mục tiêu lợi nhuận hoặc xu hướng pháttriển đất nước” [10; tr.32-33]

Như vậy, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hộitruyền thống nói riêng được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý như:chính sách, pháp luật, các Nghị định, chế tài tổ chức bộ máy vận hành và cácnguồn lực để kiểm soát, can thiệp và các hoạt động của lễ hội bằng các phươngthức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện

hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước

đã ban hành Quản lý lễ hội gồm 4 công đoạn: xác định nội dung và phươngthức tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giámsát việc thực hiện; tổng kết, đúc kết kinh nghiệm

1.2 Quan điểm về quản lý lễ hội

Lễ hội là di sản văn hóa của dân tộc ta, là sinh hoạt văn hóa cộng đồnghấp dẫn, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia Lễ hội đã trở thànhnhu cầu không thể thiếu trong đời sống nhằm thỏa mãn khát vọng trở về cội

Trang 20

nguồn, sinh hoạt tín ngưỡng, cân bằng đời sống tâm linh và hưởng thụ, sángtạo văn hóa của nhân dân Những tìm hiểu, nghiên cứu về lễ hội là phác thảocho một bức tranh toàn cảnh về hoạt động lễ hội trên cả nước, như một phần disản văn hóa của quá khứ còn bảo lưu được cho đến ngày nay và một nhu cầurất phong phú, đa dạng trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Cả haiphương diện ấy, vai trò quản lý của Nhà nước là rất quan trọng Bảo tồn vàphát huy những hoạt động lễ hội chính là bảo tồn và phát huy những giá trị vănhóa tốt đẹp, những bài học truyền thống giúp ích cho sự nghiệp dựng nước vàgiữ nước lâu dài của dân tộc Hơn nữa, đó cũng chính là hành trang để chúng tabước vào cuộc hội nhập toàn cầu với những bản sắc và bản lĩnh được tích lũy

và đúc kết trong lịch sử Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, với nhữngquan điểm mang tính định hướng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộcthể hiện trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước cùng với Luật di sản vănhóa đã được thông qua, những di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có di sản lễhội đang trở thành một nguồn lực tinh thần to lớn cho toàn xã hội

Trong quá trình thực hiện Luật Di sản văn hóa, Chính phủ đã ban hànhnhiều văn bản, thông tư hướng dẫn cụ thể như:

- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/09/2010, quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Di sản văn hóa

- Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL, ngày 21/01/2011 của Bộ trưởng BộVăn hóa, Thể thao và Du Lịch quy định về thực hiện nếp sống văn minh trongviệc cưới, việc tang và lễ hội

- Nghị định 92/2012/NĐ-CP, ngày 18/11/2012 quy định chi tiết và biệnpháp thi hành pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

- Chỉ thị số 265/CT-BVHTTDL, ngày 18/12/2012 về việc tăng cườngcông tác quản lý, tổ chức thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội

- Chỉ thị số 41 - CT/TW, ngày 05/02/2015 của Ban Bí thư về việc tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội

Trang 21

Ngày 12/02/2015, Thủ tướng Chính phủ có Công điện số 229/CĐ TTg về chỉ đạo thực hiện công tác quản lý và tổ chức lễ hội.

-Trên cơ sở luật pháp của Đảng và Nhà nước hướng dẫn, chỉ đạo qua cácThông tư, Nghị định, Chỉ thị về công tác văn hóa và lễ hội, tỉnh Lạng Sơn cũng

đã nghiêm túc triển khai thực hiện và lấy đó làm căn cứ để đưa ra các văn bảnhướng dẫn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đồng thời xây dựngchính sách quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nhằm mục đích phát triểnvăn hóa của tỉnh nhà góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trong những năm vừa qua, nhằm quản lý tốt hơn các hoạt động văn hóatrên địa bàn, Thành phố Lạng Sơn đã ban hành một số văn bản chỉ đạo, hướngdẫn về công tác bảo tồn và phát triển văn hóa, các di tích lịch sử trong đó có lễhội

1.3 Tổng quan về di tích đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Lạng Sơn

1.3.1 Khái quát về phường Hoàng Văn Thụ thành phố Lạng Sơn

Thành phố Lạng Sơn - vùng đất đã trải qua thời kỳ Châu lỵ, Trấn lỵ vàđến năm 1925 được thành lập, trở thành thị xã tỉnh lỵ, là trung tâm kinh tế,chính trị, văn hóa - xã hội của Tỉnh Đây là nơi có nhiều hang động, di tích lịch

sử nổi tiếng như quần thể hang động Nhất, Nhị, Tam Thanh, Nàng Tô Thị,Thành Nhà Mạc, Chùa Tiên, Giếng Tiên, cùng các lễ hội truyền thống mangđậm bản sắc dân tộc đã từng hấp dẫn khách bốn phương từ ngàn xưa

Sự hội tụ của các điều kiện địa lý, thiên nhiên, hoàn cảnh lịch sử và con người

đã tạo cho Thành phố Lạng Sơn thế mạnh phát triển đô thị, trở thành trung tâmChính trị - Kinh tế - Văn hoá của tỉnh Lạng Sơn và vùng Đông Bắc Tổ quốc

Ngày nay Thành phố Lạng Sơn là một Thành phố trẻ, Thành phố thươngmại cửa khẩu đang trên đà phát triển sôi động, là cửa ngõ giao lưu Kinh tế -Văn hoá của cả nước với đất nước Trung Quốc và các nước Đông Âu, là địa

Trang 22

bàn quan trọng có mối quan hệ mật thiết với vùng tam giác kinh tế trọng điểmcủa miền bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Thành phố Lạng Sơn là đô thị loại III của tỉnh Lạng Sơn, có diện tíchkhoảng 78.11 km2 Thành phố nằm bên quốc lộ 1A, cách biên giới Việt Nam -Trung Quốc18 km; cách Hữu Nghị quan 15 km và Đồng Đăng 13 km về phíađông bắc

Dân số của thành phố năm 2014 là 92.200 người, với nhiều dân tộc khácnhau như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chỉ, Thành phốnằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm 21 độ

C, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm là 1439 mm

Bao gồm 5 phường và 3 xã: phường Hoàng Văn Thụ, phường Vĩnh Trại,phường Tam Thanh, phường Chi Lăng, phường Đông Kinh, xã Mai Pha, xãQuảng Lạc, xã Hoàng Đồng

Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng - huyện Cao Lộc,phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch - huyện Cao Lộc và xã Vân Thủy -huyện Chi Lăng, phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, HợpThành, Tân Liên - huyện Cao Lộc, phía Tây giáp xã Xuân Long - huyện CaoLộc và xã Đồng Giáp - huyện Văn Quan

Thành phố Lạng Sơn nằm ở vị trí từ 21,45 đến 22 độ vĩ Bắc, 106,39 đến107,03 độ kinh Đông Có diện tích tự nhiên 79,18km2; cách Thủ đô Hà Nội154km, cách cửa khẩu Quốc tế Hữu nghị 14km và cách 5 cặp chợ đường biênViệt - Trung thuộc huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Lãng từ 25 đến 30km Dân

số của Thành phố uớc tính có hơn 10 vạn nguời với 104 khối thôn đuợc chiathành 8 đơn vị hành chính (05 phuờng, 03 xã) Cơ cấu kinh tế của Thành phốchủ yếu là phát triển thuơng mại du lịch dịch vụ (chiếm 59,8%), công nghiệp -xây dựng (chiếm 35,5%) và nông lâm nghiệp (chiếm 4,7%) GDP bình quânđầu nguời năm 2005 đạt 14,9 triệu đồng/nguời/năm

Hoạt động của các thành phần kinh tế phát triển ổn định, phong phú và

Trang 23

đa dạng Hiện Thành phố có hơn 300 doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh,hơn 4.000 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địabàn.

Cơ sở hạ tầng phục vụ thuơng mại du lịch cũng có những thay đổi mạnh

mẽ, buớc đầu đáp ứng đuợc sự phát triển của ngành kinh tế thuơng mại - dulịch - dịch vụ Thành phố Nhiều khu di tích văn hoá - lịch sử, danh lam thắngcảnh đã đuợc đầu tu, tôn tạo nhu: Khu di tích Thành nhà Mạc, khu di tích NhấtNhị Tam Thanh, Chùa Tiên, Đầu tu xây dựng các công trình phục vụ pháttriển du lịch nhu: kè bờ sông Kỳ Cùng, kè suối Lao Ly, cải tạo công viên HồPhai Loạn, xây dựng Khu du lịch sinh thái hồ Nà Tâm, hồ Thâm Sỉnh, Khu dulịch sinh thái Đèo Giang - Văn Vỉ, nhằm tạo ra các điểm du lịch hấp dẫn, thuhút khách đến tham quan, du lịch trên địa bàn Hệ thống cơ sở luu trú phục vụ

du lịch hiện có hơn 800 cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhàhàng trên địa bàn Một số công trình phục vụ cho sự phát triển thuơng mại - dulịch - dịch vụ đã và sẽ tiếp tục đuợc triển khai nhu: Khu vui chơi giải trí liêndoanh quốc tế, dự án Công viên nuớc, khách sạn 3 sao, dự án cải tạo, nâng cấpchợ truyền thống Kỳ Lừa

Lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân từng buớc đuợc cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo năm

2005 còn 3,67% (theo tiêu chí mới), hộ giàu và khá chiếm trên 40% 100%thôn bản có điện luới quốc gia, 100% số hộ đuợc nghe đài phát thanh, trê n95% số hộ được xem truyền hình, tỷ lệ thôn bản được dùng nước sạch chiếmkhoảng 85% Chất lượng giáo dục - đào tạo ngày càng được nâng cao, tỷ lệ họcsinh tốt nghiệp bình quân từ 98-100%, số học sinh giỏi hàng năm đều tăng.Đảm bảo các chương trình mục tiêu quốc gia về Y tế, Dân số, Gia đình và trẻ

em Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ổn định ở mức 0,9%/năm Tỷ lệ trẻ emsuy dinh dưỡng còn 16% vào năm 2005

Theo số liệu khảo sát của Sở Văn hóa - Thông tin Lạng Sơn, đến năm

Trang 24

2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hội dân gian với tính chất, quy mô lớn, nhỏ khácnhau Các lễ hội tiêu biểu như: lễ hội Lồng Tồng, lễ hội Bủng Kham, lễ hộiNàng Hai, lễ hội Ná Nhèm, lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa, lễ hội đền Bắc Lệ

Hoàng Văn Thụ là một phường thuộc thành phố Lạng Sơn, tỉnh LạngSơn, Việt Nam, có diện tích 1,71 km2, dân số năm 1999 là 11455 người, mật độdân số đạt 6699 người/km2 Ở đây diễn ra lễ hội Tả Phủ - Kỳ Lừa nổi tiếng

1.3.2 Giới thiệu về lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa

Đây là hội có quy mô, lớn nhất và phong phú đặc sắc nhất trong lễ hội ởLạng Sơncó từ thế kỷ 17,gắn với một truyền thuyết lịch sử thể hiện lòng nghĩahiệp của viên tướng thời Hậu Lê là Thần Công Tài Lễ hộiđược tổ chức từ 22-

27 tháng Giêng Âm lịch hằng năm Trong thời gian diễn ra lễ hội có nhiều hìnhthức vui chơi giải trí Chơi cờ người, múa sư tử, đặc biệt là trò chơi cướp đầupháo và rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ và quay lại

Theo truyền thuyết, đền Kỳ Cùng (phường Vĩnh Trại) thờ quan TuầnTranh thuộc nhà Trần, do oan khuất nên ông nhảy xuống sông Kỳ Cùng tự vẫn.Sau này, Tả đô đốc Hán quận công Thân Công Tài được nhà Lê cử lên LạngSơn đã minh oan cho cái chết của ông Tuần Tranh Ông Thân Công Tài làngười có học, có tài được Trịnh Tạc trọng dụng bổ nhiệm lên Lạng Sơn làmphó tướng nhận chức Đô đốc giúp việc cho Vi Đức Thắng, trấn giữ nơi biênthùy Lịch sử ghi lại vai trò của ông trong việc mở ra phố chợ Kỳ Lừa của trấn

lị Lạng Sơn xưa kia, góp phần mở rộng giao thương giữa hai nước Việt Nam

- Trung Quốc và vẫn duy trì đến ngày hôm nay Trước kia, khu Kỳ Lừa khiông chưa khai phá mở chợ thường hay bị lũ lụt ngập úng, khi dựng chợ ôngcho mua sắm lễ đưa xuống đền Kỳ Cùng để cúng thần Giao Long (thần sôngnước) Từ đó, chợ Kỳ Lừa không bị ngập úng nữa, nhân dân địa phương yêntâm họp chợ và họ cho rằng ông Thân Công Tài được thần sông phù hộ để loviệc đời, nên sau khi ông mất, nhân dân lập miếu thờ ông; hằng năm tổ chức lễhội, rước thần Giao Long lên đền Tả Phủ, nhằm mục đích cầu mong thần Giao

Trang 25

Long luôn phù hộ cho ông Thân Công Tài và nhân dân địa phương luôn gặpnhững điều may mắn, có được cuộc sống yên vui tốt lành Vậy nên, sau khiông mất người dân lập đền Tả Phủ (phường Hoàng Văn Thụ) để thờ cúng vàonăm Chính Hòa thứ 4 (năm 1683) Cảm kích trước công ơn của ông ThânCông Tài, ngày 22 tháng Giêng hàng năm, vào đúng Ngọ người dân địaphương mở hội rước bát hương ông Tuần Tranh từ đền Kỳ Cùng lên đền TảPhủ tạ nghĩa Ngày 27 sẽ rước kiệu quay ngược lại, đặc biệt ngày 27 diễn ra lễcướp đầu pháo, theo quan niệm dân gian ai cướp được đầu pháo năm ấy sẽ gặpmay mắn tài lộc.[11]

Đền Kỳ Cùng là một trong những ngôi đền có từ lâu đời của xứ Lạng.Đền xây dựng từ bao giờ cho đến nay chưa có tài liệu nào xác định chứngminh chính xác, theo hồi ức của nhân dân thì đền có từ rất lâu và đã qua nhiềulần sửa chữa Dân gian vẫn lưu truyền rất nhiều truyền thuyết, truyện kể gắnvới ngôi đền thiêng này Nổi tiếng nhất là truyền thuyết về ông Cộc, ông Dài

- hai vị thần Giao Long, tức thần sông của sông Kỳ Cùng và truyện về Quanlớn Tuần Tương truyền, ông Tuần Tranh là một vị quan dưới thời nhà Trần,được cử lên Lạng Sơn đánh giặc, trấn ải biên thùy Do chủ quan, nên binh sĩcủa ông hay bị ốm đau, lúc lâm trận với giặc thường hay bị thương vong, thiệthại Sợ quay về triều đình sẽ bị phạt nặng, bước đường cùng ông nhảy xuốngsông tự vẫn và con sông này được gọi là sông "Kỳ Cùng" Khi ông Thân CôngTài lên Lạng Sơn nhậm chức, được biết chuyện ông đã viết sớ về tâu với Vua

để minh oan cho ông Tuần Tranh Trong tiềm thức của mình, nhân dân địaphương cảm phục lòng nghĩa hiệp của ông Thân Công Tài nên đã mở hội hằngnăm và rước ông Tuần Tranh (đền Kỳ Cùng) lên tạ nghĩa với ông Thân CôngTài (đền Tả Phủ) Vì vậy mới có nội dung rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền

Tả Phủ

Lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa là lễ hội lớn và đông vui nhất tại Lạng Sơn trong ngày đầu năm Trong suốt ngày hội, dọc các tuyến phố từ đền Kỳ Cùng

Trang 26

đến đền Tả Phủ, các gia đình hàng xóm cùng nhau thành lập Hội liên gia, làm

cỗ chung, sửa soạn lễ vật rước lên đền thánh Vượt qua quy mô địa phương, lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa với ý nghĩa truyền thống sâu sắc không chỉ là ngày hội của các dân tộc Lạng Sơn mà còn trở thành một điểm đến hấp dẫn cho du khách thập phương dịp đầu năm mới

Tác giả cũng đã khái quát về đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, truyền thống lịch sử

và nhân vật được thờ phụng cũng như vai trò của di tích trong văn hóa tinhthần của người dân Thành phố Lạng Sơn

Những vấn đề ở chương 1 là cơ sở để tác giả tiếp tục phân tích thựctrạng quản lý lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa ở chương 2

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI ĐỀN TẢ PHỦ - KỲ LỪA, PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 2.1 Thực trạng tổ chức lễ hội đền

2.1.1 Công tác chuẩn bị

Tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng Giêng âm lịch tại đền Tả Phủ, chợ KỳLừa, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn Trong lễ hội này, một dâypháo dài khoảng 8 tấc, to 1,5 phân, đầu pháo có vòng đồng đính, sẽ được làm

lễ đốt sau ngày khai hạ Người nào cướp được vòng đồng ở đầu pháo sẽ đượcthưởng một con gà, một cân xôi, một cân rượu và quan trọng hơn cả là năm ấy,

họ sẽ được mạnh khỏe, phát tài

Lễ hội đầu pháo chợ Kỳ Lừa được tổ chức từ ngày 22 đến ngày 27 thángGiêng Nhưng thực ra, không khí ngày hội đã có thể nhận thấy ngay từ sau rằm

Trang 27

tháng giêng Từ ngày 16 trở đi, trong đền Tả Phủ, đèn nến được thắp sángtrưng, khói hương nghi ngút suốt ngày đêm Trong những ngày này, người dânnơi đây tổ chức đón rước thổ công, thần thánh ở các đền miếu lân cận về dựhội Từ ngày 16 đến ngày 21, các gia đình có “đầu pháo” lấy được từ nămtrước trả lại đền, kèm theo món lễ tạ và những tràng pháo để thông báo chohàng phố biết Ngày 27, đúng giờ ngọ đoàn kiệu lại rước, trả thần sông về đền

Kỳ Cùng và đưa thổ công, thần thánh về các miếu lân cận, lễ hội kết thúc Từkhi Chính phủ cấm đốt pháo nổ, tên gọi “Hội đầu pháo” được đổi thành “Lễhội xuân đền tả Phủ” Hiện nay, còn có một lễ hội gắn liền với lễ hội đền TảPhủ, đó là lễ hội đền Kỳ Cùng

Để cho lễ hội diễn ra và thành công tốt đẹp thì chính quyền địa phương,Ban quản lý đền cùng nhân dân phường Hoàng Văn Thụ chuẩn bị trước đó từrất sớm Đây là khâu then chốt quyết định sự thành công hay thất bại, bởi sựchuẩn bị chu đáo, chi tiết, khoa học sẽ giúp cho quá trình thực hiện công việcđược thuận tiện, dễ dàng hơn Về công tác chuẩn bị đầu tiên, Ban quản lý đền

có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, kịch bản và tổ chức, quản lý, điều hành các

hoạt động diễn ra trong lễ hội báo cáo xin phép Ủy ban nhân dân các cấp vàPhòng Văn hóa - Thông tin

Đồng thời, đảm bảo các công tác bảo vệ các di tích có liên quan đến lễhội, an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi truờng,quản lý các hoạt động dịch vụ, quản lý nguồn thu công đức trong quá trìnhdiễn ra lễ hội, Ban quản lý còn thành lập các tiểu ban chuyên môn, nhu tiểuban nội dung, tiểu ban tài chính, tiểu ban an ninh trật tự, tiểu ban khánh tiết,tiểu ban tiếp khách, Các tiểu ban có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, phâncông nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, đồng thời giúp Ban quản lý điềuhành các công việc trong quá trình tổ chức và quản lý lễ hội

Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, tài chính cũng giữ vai trò quan trọng,cần thiết, không thể thiếu trong quá trình thực hiện Đối với tiểu ban tài chính

Trang 28

phải cắt cử thành viên đến các khu vực dân cu vận động, tuyên truyền cùng cáctín đồ và hội phụ nữ các thôn thu tiền đóng góp tổ chức lễ hội Mỗi hộ gia đìnhđóng góp 100.000 đồng, tùy theo tình hình thực tế mà tiền thu tổ chức lễ hội cóthể tăng giảm theo từng năm Lễ hội còn tổ chức lễ ruớc nên cũng cần phảichuẩn bị về con nguời và các trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho đoànruớc Ngoài ra còn tổ chức các trò chơi dân gian, đánh cở nguời, tổ tôm, cácchuơng trình văn hóa, văn nghệ chào mừng lễ hội, Lực luợng tham gia và cáccông cụ liên quan nhu: âm thanh, ánh sáng, loa máy, để phục vụ cho cácchuơng trình lễ hội diễn ra đúng nhu kịch bản.

Tất cả các công việc chuẩn bị xong thì Ban quản lý kiểm tra, rà soát,tổng hợp báo cáo kỹ luỡng, xong truớc khi lễ hội diễn ra đảm bảo cho quá trình

tổ chức lễ hội đuợc diễn ra thuận lợi, an toàn, tiết kiệm

2.1.2 Thực hành nghi thức, nghi lễ

Hội Đầu pháo Kỳ Lừa bắt đầu từ sáng ngày 22 tháng giêng (âm lịch).Sau khi khai mạc lễ hội, một đoàn kiệu ruớc trang hoàng lộng lẫy, có thanhniên trai tráng, trang phục chỉnh tề gọi là “đồng nam” khiêng kiệu và một tốpthiếu niên gọi là “đồng tử” khiêng đình hoàng trầm cùng với đội sư tử Kỳ Lừamúa một vòng quanh sân đền rồi hướng thẳng xuống đền Kỳ Cùng để rướcthần sông Kỳ Cùng về dự hội Sau khi làm lễ đón rước, đúng giờ Ngọ, đoànkiệu rước thần sông Kỳ Cùng quay về đền Tả Phủ Trên quãng đường đoànkiệu rước qua, các gia đình bày biện mâm lễ, cúng xôi, gà, hoa quả để cầu may,cầu tào lộc và đốt pháo chào mừng Đúng giờ ngọ bắt đầu làm lễ Lễ xong,đoàn người rước kiệu đến đền Tả Phủ hạ kiệu làm lễ tạ ơn

Bước sang ngày 23, 24 tháng giêng, lễ hội đầu pháo bắt đầu Đầu pháo

có gắn đầu kim loại, cuốn vải cẩn thận, chuẩn bị xong rước ra sau đền làm lễcúng thần, xong đầu pháo được đem ra đốt Khi pháo nổ, vòng kim loại hất lênkhông trung rơi xuống, mọi người tranh nhau cướp Những ai tranh được đầupháo thì đem đến trình với thần đền và Ban Tổ chức lễ hội lấy phần thưởng,

Trang 29

phần thưởng ở đây thường là bức tranh vẽ khung cảnh hữu tình và có các chữPhúc - Lộc - Thọ (hình đầu pháo) Người ta đem vật này về thờ tại gia đình vàtin rằng trong năm sẽ làm ăn may mắn bình yên Trong thời gian hội có các đầupháo theo thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 10 (không có số 7 vì kiêng) Cùng vớiphần thưởng được trao, những người thắng cuộc thường mang đầu pháo về cầumay, mỗi đầu pháo chỉ được thờ một năm Đến mùa hội sang năm những giađình có đầu pháo đem ra đền làm lễ tạ rồi trao lại đầu pháo cho đền.

27 tháng giêng là ngày kết thúc hội Cũng vào giờ ngọ, mọi người tậptrung ở đền Tả Phủ làm lễ tạm biệt ông Tuần Tranh Sau tuần lễ, kiệu bắt đầuđược rước trở lại đền Kỳ Cùng với nghi thức ban đầu

2.1.3 Các trò chơi dân gian trong lễ hội

Hòa với trò chơi cướp đầu pháo, lễ rước kiệu, ở đây còn có nhiều hìnhthức vui chơi như thi đấu cờ người, múa sư tử, hát giao duyên (hát sli, hátlượn) tạo nên không khí nhộn nhịp vui tươi cho cả một vùng thị xã trongnhững ngày xuân

2.2 Thực trạng quản lý lễ hội

2.2.1 Công tác thực hiện các văn bản pháp quy

Để lễ hội truyền thống được duy trì và phát triển theo định hướng, trongnhưng năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chínhsách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, văn hóa, xã hội đảm bảo phát huyđược sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Công tác quản lý lễ hội luôn được coitrọng và chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo cho người dân tham gia lễ hội thực sự vănminh, an toàn, tiết kiệm, tạo điều kiện cho các lễ hội được tổ chức và quản lýtheo đúng chủ trương và định hướng Hệ thống các văn bản liên quan đến việc

tổ chức và thực hiện quản lý lễ hội

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành,tạo điều kiện các lễ hội được tổ chức và phục dựng lại và quản lý theo đúngchủ trương và định hướng, Ủy ban nhân dân Thành phố Lạng Sơn đã quán triệt

Trang 30

sâu sắc những chủ trương, chính sách và cố gắng thực hiện đúng với các vănbản đã ban hành.

Thứ nhất, quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội đền

Tả Phủ - Kỳ Lừa.

Lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa không chỉ là một nét sinh hoạt văn hóa dângian mà còn là một di sản quá khứ để lại, đồng thời là một nguồn tài nguyênnhân văn, một tài sản vô giá Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc xây dựng vàphát triển đất nước phát triển, giao lưu, hội nhập hiện nay, việc bảo tồn và pháthuy các giá trị di sản lễ hội - di sản văn hóa, đã và đang đặt ra trách nhiệmnặng nề lên vai nhưng người làm công tác văn hóa nói chung, quản lý lễ hộinói riêng

Trong quá trình diễn ra lễ hội, các giá trị sáng tạo được nối tiếp liên tục,những sang tạo văn hóa luôn được sinh sôi và tái hiện lại theo một chu kỳ nhấtđịnh Những nghi lễ truyền thống, những khuôn phép và những quy định chặtchẽ về những người tham gia tế lễ luôn được các bậc cao niên gìn giữ truyềnlại cho đời sau

Thứ hai, chính sách quản lý kinh tế trong hoạt động của lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa.

Quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống là đềcập đến việc hoạch toán ngân sách thu, chi các hoạt động của lễ hội Những lễhội truyền thống do Nhà nước chủ trương và đầu tư, thì việc quản lý thu - chi

do cơ quan tài chính đủ thầm quyền của các cấp tổ chức lễ hội chịu tráchnhiệm

Đối với lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa, với mô hình kết hợp vai trò tự quảncộng đồng với sự trợ giúp của Nhà nước, cộng đồng đóng góp kinh phí vàtham gia quản lý thu - chi (phương thức xã hội hóa), thì việc quản lý nhà nướcchủ yếu là cùng với cơ quan hữu quan, với đại diện cộng đồng mở hội bàn bạcphương thức tổ chức, xây dựng quy chến quản lý thu - chi tài chính cùng các

Trang 31

bên liên quan Các bộ quản lý văn hóa có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra,giám sát và xử lý vi phạm các vấn đề có liên quan đến kinh tế, tài chính của lễhội.

Trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa như hiên nay thì kinh phí tổchức lễ hội đền Tả Phủ - Kỳ Lừa thời gian trước là được lấy từ sản phẩm củaruộng làng Hiện nay, kinh phí để tổ chức mở hội chủ yếu là dựa vào sựu đónggóp của người dân trong cộng đồng, hoặc phải tạo ra các nguồn thu ngân sách,

sự gia tâm cúng tiến của nhân dân và của các doanh nghiệp đia phương và tíchlũy kinh phí để mở hội cho các năm sau

Tất nhiên, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường luôn có mặt tíchcực và tiêu cưc Vấn đề đặt ra là làm thế nào đề phát huy tích cực, hạn chế tiêucực, là sự đòi hỏi về tư duy, năng lực của cán bộ công tác quản lý Trên thực tếnếu không tạo ra được nguồn thu trong lễ hội thì sẽ làm hạn chế nguồn lực của

lễ hội năm sau và có thể làm gián đoạn thời gian tổ chức

Thứ ba, xã hội hóa trong quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống.

Trong thời kỳ đất nước trong giai đoạn kinh tế Nhà nước bao cấp thì cáchoạt động văn hóa - nghệ thuật được tổ chức chủ yếu đều do Nhà nước bao cấpkinh phí và quản lý

Bước sang thời kỳ đổi mới, xóa bỏ cơ chế quan lieu bao cấp chuyểnsang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã ban hànhnhững văn bản về chính sách pháp luật về văn hóa để phù hợp với tình hìnhthực tiễn

Trong bối cảnh chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường với xu thếgiao lưu, hội nhập quốc tế, nhân dân ta đã tự “xã hội hóa” hầu hết các hoạtđộng sang tạo văn hóa từ khâu sản xuất đến phân phối các sản phẩm văn hóa.Nhất là trong lĩnh vực phục dựng các giá trị văn hóa truyền thống như di tích,

lễ hội dân gian, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt văn hóa đáp ứng đời sống tinhthần hàng ngày ở mỗi cộng đồng dân cư

Trang 32

Xã hội hóa là biến một số hoạt động mang tính cá nhân trở thành hoạtđộng mang tính xã hội, mà bản chất của nó là “nhà nước và nhân dân cùnglàm” Cùng với ý nghĩa văn hóa là của dân, do dân và vì dân đi đôi với chínhsách dân biết dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của nhà nướ, các phong trào vănhóa - văn nghệ - thể thao đã phát triển hơn bao giờ hết Bởi đó là sự phát triểncủa các mối quan hệ lợi ích giữa văn hóa - kinh tế - xã hội theo quy luật vậnđộng tất yếu và khách quan Việc xây dựng và ban hành các chính sách sẽ tạođiều kiện và cơ hội thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa văn hóa, xã hội hóa sẽtrở thành cơ chế và phương thức vận hành của đời sống xã hội.

Cơ chế của xã hội hóa các hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động quản

lý lễ hội truyền thống nói riêng, là sự huy động tham gia của các nguồn

lực xã hội và các khâu trong quá trình hoạt động, dựa trên việc xác lập nhữngmối quan hệ lợi ích nhiều chiều

Xã hội hóa các hoạt động văn hóa, đã làm gia tăng và phong phú đadạng hơn các san phẩm văn hóa cả về số lượng và chất lượng, góp phần khôngnhỏ vào sự nghiệp phát triển văn hóa định hướng xã hội chủ nghĩa đi đôi vớiphát triển đời sống tinh thần của nhân dân cả về vật chất và tinh thần Xã hộihóa hoạt động lễ hội truyền thống là việc thiết lập, vận hành các quan hệ lợi íchgiữa người mở hội, người dự hội với các tổ chức kinh tế - xã hội khác, nhằmbảo tồn và phát triển di sản vô giá này cho hôm nay và cho thế hệ mai sau

Quản lý nhà nước về xã hội hóa hoạt động lễ hội truyền thống hiện nay,đòi hỏi phải có và đổi mới cơ chế quản lý thích hợp Công cụ quản lý dựa trên

cơ sở chính sách pháp luật của Nhà nước Các văn bản Luật, Nghị định củaChính phủ, Quy chế, Quyết định của Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch; các nộiquy, hương ước của địa phương và phẩm chất, năng lực chuyên môn của độingũ cán bộ thực hiện chức năng quản lý, trong việc tổ chức vận hành thanh tra,kiểm tra, giám sát, sao cho linh hoạt với điều kiện thực tế của từng địaphương, của từng lễ hội truyền thống

Trang 33

Giáo dục truyền thống dân tộc về lịch sử, văn hóa trong sự nghiệp dựngnước và giữ nước, tưởng nhớ công đức của các danh nhân - những người cócông với dân, với nước, tìm hiểu các giá trị văn hóa, giữ gìn, phát huy vốn vănhóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc thông qua các ditích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc nghệ thuật.Ngày 12/1/1998 Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị số 27-CT/TW về việc thựchiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

Văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội của nhà nước là công cụ quản lýnhà nước đối với lễ hội truyền thống ở địa phương, là phương tiện để các tổchức đơn vị, thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởngcũng như lễ hội

Do đó Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thể Thao và Du Lịch ban hành Thông tư

số 15/2015/TT-BVHTTDL, ngày 22 tháng 12 năm 2015 về việc tổ chức lễ hội,góp phần hoàn thiện các quy phạm pháp luật về quản lý Nhà nước đối với cáchoạt động lễ hội truyền thống của dân tộc

Đồng thời Trong giai đoạn 2012 - 2018, Thành phố Lạng Sơn đã banhành nhiều văn bản về phát triển và quản lý về lễ hội

2.2.2 Công tác quản lý các nguồn lực

2.2.2.1 Quản lý nhân sự và đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ

Theo phân cấp quản lý di tích, Ủy ban nhân dân Thành phố Lạng Sơncũng quy định rõ: tất cả các địa phương có di tích xếp hạng đều phải thành lậpBan quản lý di tích để trực tiếp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích đó.Thành phần Ban quản lý di tích bao gồm: Trưởng Ban quản lý di tích là Chủtịch/ phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, phó ban thường trực của Ban quản lý ditích là Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc, cán bộ văn hóa - xã hội, các thànhviên trong Ban quản lý là đại diện các ban nghành, đoàn thể: Hội người caotuổi, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên

Ban tổ chức có cơ cấu thích hợp, chức năng, nhiệm vụ cụ thể riêng biệt

Ngày đăng: 24/07/2021, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1932), Hán Việt từ điển (tái bản 1990), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển (tái bản 1990)
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1932
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1998), Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 27-CT/TW ngày12/01/1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang,lễ hội
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1998
5. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thôngtin
Năm: 1997
6. Vũ Ngọc Khánh (2004), Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2004
7. Nguyễn Thu Linh, Phan Văn Tú (2004), Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp, đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội cổ truyền: thựctrạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thu Linh, Phan Văn Tú
Năm: 2004
8. Mai Hữu Luân (2003), Lý luận quản lý hành chính nhà nước, Nxb Học viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Mai Hữu Luân
Nhà XB: Nxb Học việnChính trị Quốc gia
Năm: 2003
9. Phan Đăng Nhật (1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học - Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: Nxb Khoa học - Xã Hội
Năm: 1992
10.Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sảnvăn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị
Năm: 2003
12.Phạm Thị Thanh Quy (2009), Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Thanh Quy
Nhà XB: Nxb Laođộng
Năm: 2009
13.Bùi Hoài Sơn (2009), Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt, Nxb Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt
Tác giả: Bùi Hoài Sơn
Nhà XB: Nxb Văn
Năm: 2009
14. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15.Ngô Đức Thịnh - Frank Proscha, Một số thuật ngữ đương đại, Nxb Khoa học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thuật ngữ đương đại
Nhà XB: Nxb Khoahọc Hà Nội
16.Ngô Đức Thịnh (2001), Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sốngxã hội hiện nay
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 2001
18.GS. Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (1997), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hóa Việt Nam
Tác giả: GS. Trần Quốc Vượng (Chủ biên)
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1997
19.Trần Quốc Vượng (2001), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb Vănhọc
Năm: 2001
3. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động (2015), Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư phường Hoàng Văn Thụ, Lạng Sơn Khác
4. Báo cáo tổng kết về công tác Văn hóa Thông tin & thể thao phường Hoàng Văn Thụ, Lạng Sơn, 2017 Khác
11.Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namsố 32/2009/QH12, (2009), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18/06/2009 Khác
17.Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (1994), Hội thảo khoa học Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại Khác
20.Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (1994), Hội thảo khoa học Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w